quan hệ việt nam– trung quốc từ sau khi bình thường hoá năm 1991 đến nay - Pdf 22


HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI BÀI TẬP LỚN CUỐI KỲ

QUAN HỆ VIỆT NAM– TRUNG QUỐC TỪ SAU KHI
BÌNH THƯỜNG HOÁ NĂM 1991 ĐẾN NAY ***********************

Sinh viên thực hiện: Trần Huyền Trang – H33
Lớp/ Khoá : H33

Hà Nội, ngày 2 tháng 4 năm 2009

1

Mục lục

Trang
Lời mở đầu …………………………………………………………….2
Chương I. Nội dung chính
I. Những cơ sở cho việc bình thường hóa quan hệ và phát triển
quan hệ Việt – Trung ……………………………………… 3

một vấn đề mang tính chiến lược trong đường lối, chính sách đối ngoại của Việt
Nam. Ngày nay, xu hướng chung trong quan hệ Việt – Trung là phát triển hòa
bình, ổn định, đáp ứng nguyện vọng và phù hợp với lợi ích của cả hai bên. Quan
hệ Việt - Trung phát triển theo phương châm 16 chữ vàng: "Láng giềng hữu
nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần 4 tốt
"Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Tuy nhiên, trong quá khứ,
quan hệ Viêt – Trung không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi và êm đẹp. Hai
nước đã từng trải qua thời kỳ “đối đầu” và “thù địch”: Quan hệ Việt – Trung đã
dần xấu đi trong giữa thập niên 70, với cao trào là chiến tranh biên giới 1979.
Thập niên 80 chủ yếu là một thập niên tiếp tục căng thẳng, tuy nửa sau chứng
kiến một sự xích lại gần nhau dần dần. Sự xích lại này được củng cố trong đầu
thập niên 90 và tiến trình dẫn đến bình thường hoá quan hệ, sau những nỗ lực
của cả hai bên, đã được hoàn tất vào tháng 11-1991, với chuyến đi đến Thành
Đô, Trung Quốc của tổng bí thư và thủ tướng Việt Nam. Kể từ khi bình thường
hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung đã
phát triển nhanh chóng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị,
ngoại giao, văn hóa, giáo dục,… và đem lại nhiều lợi ích thiết thực. Vấn đề đặt
ra ở đây là sau những căng thẳng diễn ra giữa hai nước, thì đâu là cơ sở và động
lực cho việc bình thường hóa quan hệ, và sau khi chính thức bình thường hóa
vào năm 1991, quan hệ Việt – Trung đã có những bước tiến triển như thế nào?
Triển vọng quan hệ hai nước trong tương lai ra sao? Em xin được trình bày cụ
thể một số nội dung để làm rõ những vấn đề đó.

3

CHƯƠNG I. NỘI DUNG CHÍNH
I. NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN
QUAN HỆ VIỆT TRUNG TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY.

Từ ngay nửa cuối 1980, Việt Nam đã từng bước điều chỉnh chinh sách đối

trí nhất định ở khu vực Đông Nam Á nhưng Việt Nam là một nước nghèo, còn
nhiều khó khăn trong việc phát triển đất nước. Bên cạnh đó, quan hệ đối ngoại
của Việt Nam kể từ năm 1945 đã chỉ ra rằng lợi ích của Việt Nam là phát triển
quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, đặc biệt là các nước lớn và các nước láng
giềng. Bởi vậy, Việt Nam coi việc phát triển quan hệ hữu nghị với Trung Quốc
là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại.
Thế giới sau chiến tranh lạnh thay đổi cũng làm cho các nước có thay đổi về
môi trường chiến lược và an ninh. Việt Nam và Trung Quốc đều đã thay đổi
nhiệm vụ của nền an ninh đất nước từ bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước
sang nhiệm vụ bảo vệ sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Ưu tiên hàng đầu
của Việt Nam trong thập kỷ 80 là đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế - xã hội. Vì vậy, yêu cầu phát triển kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách và có ý
nghĩa sống còn. Nhằm khắc phục những sai lầm trong quá trình phát triển kinh
tế trước đây và phát triển hơn nữa đất nước, ngay từ trong thời kỳ chiến tranh
lạnh cả hai nước đều đã thi hành chính sách mới về phát triển kinh tế. Kể từ
thập kỷ 90, sự phát triển kinh tế với tốc độ cao của các nền kinh tế khác ở khu
vực Đông Á tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và Trung Quốc phát triển
kinh tế của mình, nhưng cũng tạo ra thách thức cho hai nước phải tập trung
phát triển kinh tế nếu như không muốn giẫm chân tại chỗ và thụt lùi. Để tạo
điều kiện thực hiện chương trình cải cách kinh tế, cả hai nước đều cần duy trì
môi trường hòa bình và phát triển quan hệ với các nước láng giềng. Trong bối
cảnh đó, quan hệ Việt - Trung đã được bình thường hóa và ngày càng phát
triển.

5

II. NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT TRONG QUAN HỆ VIỆT TRUNG
KỂ TỪ KHI BÌNH THƯỜNG HÓA NĂM 1991 ĐẾN NAY.
1. Quan hệ chính trị - ngoại giao
Trong những năm qua, quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Trung Quốc phát

phương quốc tế và khu vực như Liên Hợp Quốc, Hợp tác Đông Á, APEC,
ASEM…
Mối quan hệ đa phương của mỗi bên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho quan
hệ song phương giữa hai nước ngày càng phát triển. Với tư cách là thành viên
của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam đã tích
cực ủng hộ Trung Quốc trở thành bên đối thoại chính thức của Diễn đàn
ASEAN, tạo thêm điều kiện thuận lợi để Trung Quốc phát triển quan hệ với
nhóm nước này. Ngược lại, với địa vị một thành viên có tiếng nói quan trong
trong tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Trung Quốc
cũng ủng hộ Việt Nam gia nhập tổ chức nói trên, tạo điều kiện thuận lợi cho
quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày càng phát triển, không những qua kênh
song phương mà còn qua kênh đa phương.
Tóm lại, sự phát triển trong quan hệ Việt - Trung được đặt trong bối cảnh
chung là Việt Nam và Trung Quốc đều đang thực hiện chính sách đối ngoại
rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa.
2. Quan hệ kinh tế, thương mại
Từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, mối quan hệ kinh tế
thương mại giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng
với những nội dung và phương thức hợp tác mới mà các giai đoạn trước đây
chưa từng có. Cùng với quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế giữa hai nước ngày
càng phát triển. Đặc điểm lớn nhất trong quan hệ kinh tế Việt - Trung trong thời
gian qua là quan hệ toàn diện và có tính chất bổ sung cho nhau. Quan hệ kinh tế

7
thương mại có bước đột phá. Hiện nay Trung Quốc đã trở thành một trong
những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch mậu dịch song
phương giữa hai nước đã tăng từ 32 triệu USD năm 1991 lên đến trên 20 tỷ
USD vào năm 2008, tiến tới đạt mục tiêu nâng kim ngạch lên 25 tỷ USD vào
năm 2010. Năm 2009, Chính phủ Trung Quốc cũng đã quyết định cung cấp cho
phía Việt Nam khoản vay tín dụng ưu đãi trị giá 300 triệu USD. Ngoài tín dụng

về văn hoá giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển sâu rộng.
Hai nước đã ký Hiệp định văn hoá vào ngày 2/12/1992, nêu rõ các nguyên tắc
bình đẳng, khuyến khích giao lưu, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như:
văn hoá nghệ thuật, thể dục, thể thao, báo chí, phát thanh truyền hình, điện ảnh,
thư viện, bảo tàng…Hai bên còn ký các văn bản thoả thuận khác như: Kế hoạch
thực hiện Hiệp định văn hoá Việt Nam - Trung Quốc; kế hoạch thực hiện hợp
đồng văn hoá năm 2000 - 2001; chương trình hợp tác văn hoá giữa hai nước giai
đoạn 2002 - 2003… Do vậy, các hoạt động giao lưu văn hoá giữa hai nước đã
phát triển mạnh mẽ. Từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay, hai bên cũng đã
tiến hành trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu
văn hoá, thể thao, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Về hợp tác giáo dục: Ngành giáo dục hai nước đã tiến hành những cuộc hội
đàm và ký kết các văn bản thoả thuận về giao lưu và hợp tác giáo dục. Tính đến
nay, có hơn 20 trường đại học của Việt Nam có quan hệ giao lưu hợp tác với
hơn 40 trường đại học và học viện của Trung Quốc. Hàng năm, Chính phủ
Trung Quốc cấp 45 suất học bổng cho lưu học sinh Việt Nam đến Trung Quốc
học tập. Phía Việt Nam cũng cấp khoảng 5 - 10 suất học bổng cho lưu học sinh
Trung Quốc sang Việt Nam học tập. Hợp tác giáo dục Việt - Trung rất đa dạng.
Bên cạnh việc trao đổi lưu học sinh (kể cả sinh viên và nghiên cứu sinh), hai
nước còn trao đổi thực tập sinh, nghiên cứu sinh, bồi dưỡng cán bộ, trao đổi
khoa học…
Từ sau năm 1991, hợp tác giữa hai nước Việt Nam, Trung Quốc trong lĩnh
vực khoa học kỹ thuật cũng ngày một tăng cường và phát triển mau lẹ. Hai nước

9
đã ký Hiệp định hợp tác Khoa học kỹ thuật, Nghị định thư về hợp tác Khoa học
công nghệ , Hiệp định hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà
bình…Trong lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn, Trung tâm Khoa học xã hội
và nhân văn quốc gia Việt Nam đã ký các Hiệp định hợp tác với Viện Khoa học
xã hội Trung Quốc và một số Viện Khoa học xã hội các tỉnh Quảng Đông,

tiên Việt Nam và Trung Quốc có một đường biên giới trên đất liền hoàn chỉnh,
được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp lý được hai bên thống nhất và trên
thực địa, có giá trị trường tồn với hai quốc gia, giúp ngăn ngừa các tranh chấp
biên giới , đồng thời mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước,
đặc biệt là tạo điều kiện cho các địa phương biên giới hai bên mở rộng hợp tác,
phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị. Việc hoàn thành phân giới cắm
mốc đã đưa Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc vào
cuộc sống theo đúng Thỏa thuận giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước, là biểu hiện
sinh động của mối quan hệ "đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện" Việt Nam –
Trung Quốc, góp phần tăng cường sự tin cậy giữa hai bên, tạo động lực mới
thúc đẩy quan hệ Việt – Trung ngày càng phát triển.
Ngày 25/10/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định
Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá. Điều này trước hết đã giúp hai nước
giải quyết dứt điểm một trong những vấn đề tồn tại lâu nay, đồng thời góp phần
tạo thuận lợi cho việc quản lý và duy trì ổn định lâu dài trong vịnh Bắc Bộ, tăng
cường sự tin cậy, thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Tình hình ở
Vịnh Bắc Bộ về cơ bản là tương đối ổn định; hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ
được triển khai tương đối hiệu quả, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn
lợi dần đi vào nề nếp, hạn chế tối đa các xung đột có thể nảy sinh; công ty dầu
khí quốc gia hai nước đã ký Thoả thuận thăm dò chung trong khu vực thoả
thuận ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ tháng 11/2006, công tác kiểm tra, kiểm soát vi
phạm trong Vịnh Bắc Bộ đã được lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và lực
lượng Kiểm ngư Trung Quốc tiến hành trong tháng 9/2006, lực lượng hải quân

11
hai nước cũng đã tiến hành tuần tra chung 2 lần trên Vịnh Bắc Bộ.
Đối với vấn đề biển Đông, đặc biệt là việc xác định chủ quyền đối với hai
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán
hoà bình để giải quyết. Đến nay, hai bên đã tiến hành các vòng đàm phán cấp
chuyên viên về vấn đề trên biển, tăng thêm hiểu biết về lập trường của nhau.

văn hoá giáo dục, khoa học - kỹ thuật…là đóng góp quan trọng vào việc duy trì
hòa bình và an ninh ở khu vực
.
Sự bất bình thường trong quan hệ Việt - Trung
trong một giai đoạn ngắn trước đây không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi
nước, mà còn tác động xấu đến tình hình an ninh trong khu vực Đông Nam Á.
Vì vậy, từ năm 1991, việc bình thường hóa quan hệ Việt - Trung đã góp phần
thúc đẩy quan hệ Việt Nam - ASEAN phát triển, chấm dứt tình trạng đối đầu
giữa hai nhóm nước trong khu vực Đông Nam Á, đem lại hòa bình và an ninh
trong khu vực. Cùng với quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế với tính chất toàn
diện và bổ sung cho nhau giữa hai nước sẽ ngày càng phát triển hơn nữa. Việc
tăng cường và phát triển quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật và thương mại Việt
- Trung với đúng tiềm năng của hai bên và tương xứng với quan hệ chính trị tốt
đẹp giữa hai nước là lợi ích của mỗi nước và nguyện vọng của nhân dân Việt
Nam và Trung Quốc. Phát triển hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học
kỹ thuật giữa hai nước là cơ sở để củng cố và thúc đẩy quan hệ chính trị ngày
càng phát triển.
Đối với vấn đề tranh chấp lãnh thổ còn tồn tại như vấn đề biển Đông, quan
hệ đại cục tốt đẹp chính là tiền đề quan trọng cho việc cả hai nước đi vào giải
quyết những vấn đề cụ thể; giải quyết dứt điểm những bất đồng còn tồn tại về
lãnh thổ dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Việc giải quyết hoàn hoàn và triệt để
vấn đề tranh chấp lãnh thổ dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho mối quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng phát triển, vừa là
minh chứng cho tình hữu nghị truyền thống lâu đời giữa nhân dân hai nước Việt
Nam và Trung Quốc. 13
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ


nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới – tác giả Nguyễn Thị
Mai Hoa – Chính sách đối ngoại VN tập II (HVQHQT)
2. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ sau khi bình thường hoá năm
1991: thành tựu, vấn đề và triển vọng - tác giả Đỗ Tiến Sâm –
Chính sách đối ngoại VN tập II (HVQHQT)
3. Phát triển quan hệ với các nước lớn trong chính sách đối ngoại mới
của Đảng và nhà nước ta – tác giả Nguyễn Hoàng Giáp - Chính
sách đối ngoại VN tập II (HVQHQT)
4. Về vấn đề đổi mới tư duy trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam
5. “Quan hệ Việt – Trung ngày nay” - Tướng Daniel SCHAEFFER -
Cố vấn chiến lược doanh nghiệp quốc tế (Trung Quốc và Đông
Nam Á)
6. Khoá luận tốt nghiệp: “Quan hệ chính trị Việt Nam - Trung Quốc
1986 - 1999: từ đối đầu đến khuôn khổ 16 chữ” (Trần Thị Minh
Phương – C31.HVQHQT)
7. Lịch sử quan hệ Việt – Trung nhìn từ góc độ đại chiến lược (Vũ
Hồng Lâm - Tạp chí nghiên cứu và thảo luận - Thời đại Mới số 2
tháng 7/2004)
8. Trang web: http://www.vietnamchina.gov.vn
http://www.bacninh.gov.vn
http://vietnamhistory.wordpress.com
http://ngoaivuhagiang.gov.vn/home
http://vietnamnet.vn
http://vietbao.vn
http://www.tapchicongsan.org.vn
http://www.mofa.gov.vn
http://www.vnemba.org.cn 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status