ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển dẫn đến nhu cầu
về trao đổi thông tin ngày càng cao do vậy xuất hiện nhiều yêu cầu mới được đặt ra cho
các nhà phát triển dịch vụ truyền thông. Yêu cầu hội tụ giữa các mạng thông tin trở thành
một xu thế tất yếu, đặc biệt là hội tụ giữa mạng Viễn thông và Internet. Trong quá trình
hội tụ này, vấn đề đánh số địa chỉ tạo ra khả năng tương thích thuận nghịch giữa hai hệ
thống là một vấn đề then chốt. Hệ thống ENUM ra đời nhằm giải quyết vấn đề này và đáp
ứng xu thế hội tụ đó.
ENUM là một thủ tục công nghệ được sử dụng để gắn kết mạng Viễn thông truyền
thống với hệ thống mạng IP, nó có thể được coi là một thành tố quan trọng trong việc
báo hiệu và truyền tải thoại, dữ liệu từ mạng Viễn thông truyền thống sang truyền tải qua
mạng IP và ngược lại. Cụ thể ENUM là hệ thống chuyển đổi địa chỉ (số) điện tử từ số
điện thoại truyền thống sang các dạng định danh thân thiện với dịch vụ Internet, có thể
được quản lý, lưu trữ truy vấn, mở rộng theo phương thức các dịch vụ Internet.
Trong phạm vi tiểu luận này Nhóm chỉ nghiên cứu tổng quan ENUM và ứng dụng
ENUM trên mạng VNPT. Nội dung của tiểu luận nhằm cung cấp cho các học viên những
kiến thức cơ bản về ENUM và quá trình thực hiện cuộc gọi tiêu biểu trong mạng khi sử
dụng ENUM.
Do thời gian có hạn nên trong tiểu luận không thể tránh khỏi những thiết sót. Vì
vậy Nhóm kính mong nhận được sự chỉ dạy tận tình của Thầy giáo và các ý kiến đóng
góp của các thành viên trong lớp.
Xin chân thành cảm ơn!
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 1
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG I 3
TỔNG QUAN VỀ ENUM 3
1.1. Hệ thống điện thoại và điện thoại IP 4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ENUM
Hiện nay, ngày càng có nhiều dịch vụ được phát triển trên mạng IP. Đặc biệt công
nghệ Voice over IP (VoIP) ngày càng hoàn thiện và được ứng dụng rộng rãi cùng với sự
ra đời của các giao thức báo hiệu mới như SIP, H323 đã làm xuất hiện các IP phone giúp
cho việc trao đổi thoại trên nền IP dễ dàng hơn với chất lượng cao và cước phí rẻ.
Việc hội tụ giữa mạng Viễn thông truyền thống và mạng internet đặt ra một vấn đề
là làm sao để cho một thuê bao trong mạng Viễn thông truyền thống có thể sử dụng được
các dịch vụ trên mạng IP và dịch vụ VoIP là một ứng dụng thông dụng trong số đó.
Tuy nhiên, hiện tại giữa mạng PSTN truyền thống và mạng IP có một số khác biệt
lớn sau:
• Về mặt báo hiệu: trong mạng PSTN truyền thống sử dụng hệ thống báo hiệu số 7
và báo hiệu R2, trên mạng IP sử dụng nhiều giao thức báo hiệu khác nhau, ví dụ: SIP,
H323, …
• Về mặt media: trong mạng PSTN sử dụng các kênh TDM truyền thống, trên
mạng IP: các dữ liệu media được mã hóa dưới dạng các gói tin.
Vậy để cho các thuê bao trong mạng PSTN có thể giao tiếp với các thuê bao trong
mạng IP cần phải có giải pháp chuyển đổi báo hiệu và media được dùng trong mạng
PSTN sang các dạng báo hiệu và gói tin media được dùng trong mạng IP và ngược lại.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 3
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Hiện nay, giải pháp cho việc thực hiện cuộc gọi từ các thuê bao trong mạng IP sang
các thuê bao trong mạng PSTN đã được thực hiện thành công thông qua các gateway
chuyển đổi báo hiệu và gateway chuyển đổi media. Tuy nhiên với chiều ngược lại là thực
hiện cuộc gọi từ các thuê bao trong mạng PSTN sang các thuê bao trên mạng IP vẫn chưa
thực hiện được. Điều này là do sự khác biệt về hệ thống đánh địa chỉ trong mạng PSTN
và trong mạng IP: trong mạng PSTN các thuê bao được đánh địa chỉ theo hệ thống E.164,
trong mạng IP các thuê bao được đánh địa chỉ theo định dạng URIS. Vậy cần có giải pháp
chuyển đổi địa chỉ E.164 sang các dạng địa chỉ URIS để cho các thuê bao trong mạng
PSTN có thể thực hiện được cuộc gọi sang các thuê bao trong mạng IP.
dạng thức dữ liệu thông tin trao đổi toàn cầu được lưu chuyển trên nền mạng Internet.
Điện thoại IP (VoIP) là dịch vụ điện thoại sử dụng công nghệ chuyển đổi dữ liệu
thoại thành các gói dữ liệu IP và truyền qua mạng Internet thông qua các thủ tục Internet.
Hiện nay có rất nhiều dịch vụ VoIP khác nhau đã được triển khai thương mại trên thực tế,
và đã trở thành một trào lưu phát triển mạnh mẽ.
Để có thể gọi được VoIP, không cần thiết phải sử dụng ENUM. Người ta có thể
gọi trực tiếp tới đầu cuối sử dụng VoIP khác hay gọi thông qua một nhà cung cấp dịch vụ
trung gian. Một phương pháp thông thường nhưng không phải là duy nhất là sử dụng thủ
tục thiết lập phiên SIP (Session Initiation Protocol). SIP làm nhiệm vụ thiết lập cuộc gọi,
rung chuông người bị gọi thông qua Internet. Gửi gói tin SIP đi cũng tương đương với
việc quay số trên mạng PSTN truyền thống. Địa chỉ được sử dụng trong SIP có dạng gần
giống với địa chỉ thư điện tử, ví dụ như "sip:" có thể được dùng làm
địa chỉ bị gọi bởi SIP.
Một vấn đề tồn tại tại thời điểm này là sự tương tác giữa các đầu cuối điện thoại
truyền thống và VoIP có nhiều khó khăn. Trong khi các đầu cuối VoIP có thể dễ dàng gọi
tới đầu cuối PSTN thông qua các Gateway (Gw) chuyển đổi, thì các đầu cuối thoại truyền
thống thông qua các chuyển mạch kênh kiểu cũ thường không thể hiểu được các đích định
tuyến cần truyền tải do đó bắt buộc phải có Gw cục bộ được định sẵn trong cùng mạng
PSTN đó để kết cuối các cuộc gọi. Đó là chưa kể các đầu cuối truyền thống thường chỉ có
các phím số, không thể sử dụng cùng loại địa chỉ với các đầu cuối VoIP (có thể có địa chỉ
dạng SIP) Đây chính là điểm ENUM được xây dựng để giải quyết tồn tại trên.
1.2. Hệ thống DNS
DNS là một dịch vụ truy vấn có cấu trúc phân tán, mục đích chính của nó là sử
dụng để truy vấn địa chỉ IP từ một tên miền. Còn ENUM, theo như định nghĩa trong
RFC2916, thì được sử dụng để ánh xạ số điện thoại theo chuẩn E.164 của ITU-T vào
DNS.
Trong hệ thống mạng Internet, DNS được coi là một thành phần mang tính chất
quyết định, được sử dụng như cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng đại đa số các thủ tục khác.
Sở dĩ như vậy là vì đối với mọi loại dịch vụ được người sử dụng Internet sử dụng, "địa
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 5
hay bản ghi đối với dịch vụ ENUM có dạng:
4.4.9.4.6.5.5.4.4.8.e164.arpa. IN NAPTR 10 10 "u" "sip+E2U" "!^.*$!
sip:!" .
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 6
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Có thể thấy, các cấu trúc dữ liệu rất khác nhau và được định nghĩa tùy theo các yêu
cầu cụ thể của thủ tục, ứng dụng sử dụng. Yếu tố quyết định ở đây là trường kiểu dữ liệu
(record type) trong các bản ghi như A, MX, NAPTR (trong các ví dụ trên). Ứng dụng
cũng có thể lựa chọn để nhận được dữ liệu ứng với 1 kiểu bất kỳ, hoặc cũng có thể lựa
chọn để nhận tất cả các dạng bản ghi (ANY). Hệ thống DNS cũng có thể chỉ thị các tham
chiếu để ứng dụng truy vấn các miền khác, hoặc các máy chủ khác nếu cần (cơ chế
chuyển giao - delegation). Do đó hệ thống các máy chủ phân tán có thể được liên kết với
nhau trở thành một hệ thống thông tin phức hợp, có thể mở rộng tới toàn cầu, toàn mạng
Internet.
Hình 1.1. Cấu trúc phân tầng quản lý hệ thống DNS
Để có thể phân tán hệ thống DNS toàn cầu, đồng thời đảm bảo được các công tác
phân cấp quản lý và sử dụng hệ thống DNS, cơ sở dữ liệu hệ thống DNS được phân tầng
quản lý như biểu đồ cấu trúc ở trên. Trong đó các tổ chức khác nhau được phân cấp (hay
còn gọi là chuyển giao) các tên miền ở một cấp nhất định và có thể phân cấp (chuyển
giao) lại các tên miền cấp dưới của mình cho tổ chức khác
Để tăng cường độ sẵn sàng của dịch vụ và phân bố tới mọi nơi trên thế giới một
cách hiệu quả nhất, hệ thống máy chủ DNS được phân tán rộng khắp một cách mềm dẻo,
với 13 máy chủ tên miền cấp cao nhất (root servers) phân bố toàn cầu như hình vẽ sau:
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 7
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Hình 1.2. Các máy chủ tên miền cấp cao nhất (root server) và phân bố địa lý của chúng
Các máy chủ tên miền root này lại chuyển giao các tên miền cấp dưới cho các máy
chủ tên miền khác trên toàn thế giới, tạo thành một hệ thống máy chủ tên miền rộng khắp
và bền vững nhất trong số các loại dịch vụ Internet thông dụng.
1.3. ENUM
nối.
Hình 1.4. ENUM được sử dụng để kết nối mạng PSTN truyền thống với mạng IP
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 9
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
1.3.1. Kiến trúc phân cấp của hệ thống ENUM
ENUM là một hệ thống phân cấp, mô hình phân cấp của ENUM tương ứng như
mô hình phân cấp trong hệ thống địa chỉ E164.
Kiến trúc phân cấp của hệ thống ENUM được thể hiện như sau:
Hình 1.5 Kiến trúc phân cấp của ENUM
Trong kiến trúc phân cấp này, cấp cao nhất Tier 0: e164.arpa do tổ chức RIPE
NCC quản lí.
Các cấp quốc gia Tier 1 chứa mã tên miền Quốc gia (ví dụ của Việt Nam là
4.8.e164.arpa) do các Quốc gia quản lí. Để được chuyển giao mã Quốc gia, các nước cần
phải làm các thủ tục đăng kí với RIPE NCC và ITU.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 10
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Dưới cấp Quốc gia là tên miền ENUM chứa mã của các nhà cung cấp dịch vụ tên
miền ENUM Tier 2.
Với ứng dụng ENUM, IETF và ITU khuyến nghị sử dụng tên miền cấp một là
.arpar (Address and Routing Parameter Area), tên miền cấp 2 là .e164.arpar, phân cấp tiếp
theo là các mã quốc gia, ví dụ: .4.8.e164.arpar chứa nội dung mã 84 của Việt Nam. Sơ đồ
phân cấp được mô tả như sau:
Hình 1.6 Sơ đồ phân cấp ENUM/DNS
1.3.2. Mô hình ứng dụng ENUM
Trên thực tế triển khai các hệ thống VoIP, một vấn đề kỹ thuật nảy sinh chưa được
giải quyết triệt để là việc chuyển mạch các cuộc gọi từ mạng viễn thông vào mạng VoIP.
Trong khi việc gọi từ một đầu cuối VoIP ra một điện thoại thông thường rất dễ dàng thì
chiều ngược lại thường không xử lý được, thông thường, cuộc gọi được kết thúc trên
mạng PSTN và người được gọi phải kết nối terminal của mình với mạng PSTN cụ thể đó.
Điều này dẫn đến cần phải phát triển một kiểu đánh số công cộng toàn cầu nào đó hỗ trợ
giữa các dạng dịch vụ được cung cấp. Quan trọng nhất là ở đây các đầu cuối viễn thông
truyền thống không cần phải thay đổi để có thể sử dụng được dịch vụ mới.
- Gọi từ mạng Internet ra mạng viễn thông: Truy vấn ENUM từ đầu cuối hoặc từ
proxy, gateway cho phép lấy được địa chỉ URL của gateway cuối kết nối ra mạng viễn
thông do đó các hệ thống VoIP toàn cầu có thể làm việc được với nhau trên nền cơ sở hạ
tầng chung. Đây là vấn đề chưa giải quyết được đối với VoIP hiện nay, càng không giải
quyết được với dịch vụ SIP.
- Sử dụng các dịch vụ kết hợp: Ví dụ gateway có thể cung cấp các dịch vụ viễn
thông thông thường như thoại, fax, voicemail, và các dịch vụ ứng dụng Internet như voice
to mail, voice to web, voice to IM, SMS to IM v.v.
1.3.2.3. Ứng dụng tích hợp
Một tổng đài softswitch hỗ trợ ENUM có thể được xây dựng cho môi trường dịch
vụ tích hợp như ví dụ sau:
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 12
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
- Các thuê bao được cấp một số điện thoại công cộng (hoặc sử dụng số có sẵn).
Với mỗi thuê bao, các dịch vụ có thể sử dụng là: điện thoại di động, điện thoại nhà riêng,
điện thoại bàn làm việc, điện thoại softphone, email, trang chủ cá nhân, nhắn tin trực
tuyến IM
- Khi thuê bao không có mặt tại cơ quan (nhận biết qua hệ thống kiểm tra vào ra tại
cửa cơ quan, cập nhật trực tuyến vào hệ thống DNS-ENUM, hoặc qua dịch vụ Presence-
RFC2778), gateway sẽ trả chuyển mạch tới số điện thoại di động, hoặc số nhà riêng nếu
số di động không liên lạc được.
- Khi thuê bao tới cơ quan, gateway sẽ chuyển mạch tới máy để bàn.
- Khi thuê bao login vào hệ thống thông tin nội bộ, gateway chuyển tới softphone
sử dụng công nghệ SIP.
- Trang chủ của thuê bao được kết nối nêu yêu cầu của người gọi là yêu cầu duyệt
thông tin.
- Email của thuê bao được cung cấp nếu yêu cầu của người gọi là gửi thư.
- Tương tự đối với các hệ thống SMS, IM, Fax
1.3.3.3. Chuyển mạch cuộc gọi trong một mạng dịch vụ điện thoại
Các nhà cung cấp dịch vụ thoại cũng có khả năng đạt được lợi ích với việc đưa các
hệ thống chuyển mạch mềm hỗ trợ ENUM vào sử dụng. Với ENUM, các tổng đài chuyển
mạch mềm trở nên tương thích hoàn hảo hơn với các hệ thống tổng đài truyền thống, và
do đó một bộ phận của hệ thống mạng trục dịch vụ có thể được truyền tải qua Internet mà
không gây ảnh hưởng gì đối với các phần còn lại của hệ thống. Trong trường hợp này,
việc đưa ENUM vào ứng dụng có thể là hoàn toàn trong suốt đối với người sử dụng, việc
định tuyến cuộc gọi trong mạng có thể được quyết định bởi hệ thống DNS ENUM nội bộ,
hoặc sử dụng hệ thống ENUM toàn cầu.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 14
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Hình 1.8. Mạng dịch vụ PSTN với IP backbone, routing với ENUM
1.3.3.4. Tạo ra các dịch vụ điện thoại gia tăng tới các dạng dịch vụ Internet mới
Với ENUM có thể tạo ra các dạng dịch vụ mới cho các thuê bao điện thoại (với các
phím số) kết nối với cơ sở hạ tầng phong phú dịch vụ của Internet. Sử dụng các khả năng
đa phương tiện, truyền thông của Internet có thể cung cấp thêm các khả năng kết nối và
nội dung cho các thuê bao điện thoại. Ví dụ có thể dễ dàng cung cấp các dịch vụ web,
email cho điện thoại di động, text to speech cho điện thoại, SMS to IM, email to SMS v.v.
ENUM cũng có thể làm nảy sinh ra các dịch vụ mới, do khả năng sử dụng số điện
thoại vào trong các dịch vụ IP một cách dễ dàng, nó có thể mang lại khả năng đưa các
dịch vụ mới vào các thị trường viễn thông truyền thống.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 15
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
CHƯƠNG II
CƠ SỞ KỸ THUẬT CỦA ENUM
2.1. Số điện thoại E.164
ITU-T E.164 ra đời vào tháng 05 năm 1997, thuộc Seri E, quy định các “Hoạt
động, đánh số, định tuyến và các dịch vụ di động – Hoạt động quốc tế - Quy hoạch
đánh số cho dịch vụ điện thoại quốc tế. Trong đó E.164 quy định Quy hoạch đánh số
Viễn thông công cộng quốc tế.
điện thoại ứng với một cá nhân nào đó, thông qua các phép truy vấn (giống như tra cứu
danh bạ, trang vàng) có thể tìm được rất nhiều các thông tin liên quan như Email, tel,
address Ở đây chỉ khác là hệ thống lưu trữ thông tin là hệ thống DNS được sửa đổi,
phép truy vấn là thủ tục DNS đã rất phát triển. Với thế mạnh của dịch vụ Internet, các truy
vấn dựa trên DNS được coi là rất dễ triển khai và ứng dụng.
Các bước định dạng truy vấn ENUM:
Bước 1. Số E.164 phải được viết dưới dạng đầy đủ theo quy định của ITU, bao
gồm cả các mã quốc gia IDDD, theo dạng (VD): +84-218-3852000
Bước 2. Bỏ đi các ký tự không phải số, trừ dấu "+": +842183852000
Bước 3. Bỏ nốt dấu "+": 842183852000
Bước 4. Bỏ dấu chấm "." vào giữa các chữ số: 8.4.2.1.8.3.8.5.2.0.0.0
Bước 5. Đảo ngược thứ tự: 0.0.0.2.5.8.3.8.1.2.4.8
Bước 6. Thêm chuỗi "e164.arpa" vào cuối: 0.0.0.2.5.8.3.8.1.2.4.8.e164.arpa
Trong hệ thống tên miền, người ta sử dụng một trường dữ liệu đặc biệt là trường
NAPTR để chỉ ra các cách khác nhau khi kết nối tới một trạm có định danh nào đó. Việc
xử lý các trường NAPTR được thực hiện thông qua một thuật toán gọi là thuật toán
NAPTR, đầu vào của thuật toán này là chuỗi thể hiện số E.164 theo định dạng như định
nghĩa trong Bước 2 của quá trình chuyển đổi nói trên, tức là chuỗi đầu vào có dạng:
"+842183852000", đầu ra của thuật toán là một chuỗi định danh tài nguyên thống nhất
URI trong dạng thức tuyệt đối của nó.
Cấu trúc của Bản nghi NAPTR
Tương tự hệ thống DNS, bản ghi NAPTR (The Naming Authority Pointer DNS
Resource Record – RFC-2915) được sử dụng để lưu trữ các thông tin cho dịch vụ ENUM.
Cấu trúc của bản ghi NAPTR gồm có: trường thứ tự (order), trường ưu tiên
(preference), trường dịch vụ (service), các cờ (flag), trường biểu thức (regexp – regular
expression), và trường thay thế (replacement):
Tên miền IN NAPTR thứ tự mức ưu tiên cờ dịch vụ biểu thức thay thế
Ví dụ:
$ORIGIN 5.1.1.6.2.2.5.4.4.8.E164.arpa.
IN NAPTR 101 10 "u" "E2U+sip" "!^.*$!sip:!"
Mô hình cuộc gọi được thực hiện từ 01 đầu cuối có địa chỉ a@nguon gọi tới đầu
cuối có địa chỉ SIP là b@dich, số ENUM là: +8441234567. Các đầu cuối nguồn và đích
đều được đăng ký với 01 SIP Proxy hoặc sử dụng chuyển mạch mềm địa phương. Giả
thiết việc xác nhận sự có mặt trực tuyến của đầu cuối được thực hiện bằng cách đăng ký
vào một hệ thống Presence chung.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 19
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
2.3.1. Cuộc gọi SIP thông thường.
Hình 2.4 Thủ tục báo hiệu cuộc gọi SIP thông thường
Các phần mềm đầu cuối dựa vào hệ thống presence service sẽ nhận biết được trạng thái
online của đích cần gọi.
Cuộc gọi được bắt đầu bằng việc đầu cuối a gọi tới sip proxy của mình là
"sipproxy.nguon", gửi bản tin "INVITE b@dich".
Đây là bản tin thiết lập cuộc gọi SIP và được proxy xử lý bằng cách đi tìm đích mà nó cần
kết nối tới thông qua truy vấn DNS. Theo quy ước, 1 truy vấn tìm bản ghi SRV sẽ được thực hiện
đối với tên miền "dich". Nếu bản ghi SRV không có thì 1 truy vấn tìm bản ghi kiểu A (địa chỉ IP)
sẽ được sử dụng.
Proxy của a kết nối tới proxy đại diện cho "b@dich", tức là "sipproxy.dich". Bản ghi
INVITE được gửi tới proxy đích để thiết lập kết nối tới "b@dich"
Ở trạng thái làm việc bình thường, proxy đích sẽ gửi bản tin INVITE tới đầu cuối đích do
nó quản lý, rung chuông đầu cuối này, đồng thời trả về cho nguồn gọi (qua tuyến sipproxy.nguon
- a@nguon) bản ghi trạng thái OK biểu thị việc báo hiệu đã được thiết lập
Nếu b nhấc máy một bản ghi ACK sẽ được trả về lần lượt theo các trạm trên dòng dịch
chuyển để báo hiệu kênh kết nối được thiết lập.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 20
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
2.3.2. Cuộc gọi sử dụng ENUM - đầu cuối thực hiện truy vấn ENUM
Hình 2.5 Thủ tục báo hiệu cuộc gọi sử dụng ENUM do đầu cuối gọi truy vấn ENUM
Với trường hợp đầu cuối có hỗ trợ ENUM sẵn, sự tồn tại của proxy có thể là không cần
thiết (trừ trường hợp dùng để bảo vệ, phân tách mạng). Cuộc gọi lúc đó sẽ được thực hiện thẳng
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 23
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
Hình 2.8 Cuộc gọi mạng viễn thông sang mạng IP
Thuật ngữ SIP - Session Initiation Protocol, giao thức khởi tạo phiên làm việc là
một giao thức cơ bản để thực hiện các dịch vụ liên quan tới số thoại E164.
(1) Đầu cuối B gọi số thoại E164 ví dụ của đầu cuối A là 8448226115 .
(2) Tổng đài chuyển mạch thoại chuyển tiếp số gọi này tới gateway tương ứng.
(3) a/ Gateway biến đổi số thoại thành tên miền 5.1.1.6.2.2.8.4.4.8.e164.arpa.và
hỏi DNS.
b/ DNS trả lời các dịch vụ đã đăng ký của số thoại (tên miền) này. Ví dụ
như mailto: thtc@vnnic. net.vn
(4) a/ GW hỏi DNS xem vnnic.net.vn được host ở máy chủ nào, địa chỉ IP là
bao nhiêu.
b/ DNS trả lời địa chỉ IP của vnnic.net.vn.
(5) Cuộc gọi được chuyển đến SIP server và tiếp tục tới địa chỉ của máy chủ thư
vnnic.net.vn
(6) Quan hệ của SIP server và SIP client sử dụng thủ tục client/server.
2.4.3. Cuộc gọi thoại từ mạng IP sang mạng viễn thông
Hình 2.9 Cuộc gọi từ mạng IP sang mạng viễn thông
(1) a/. Đầu cuối A quay số gọi đầu cuối B 84-4-8226115 ở mạng thoại viễn
thông, chương trình máy trạm (SIP client) biến đổi số thoại thành tên miền và hỏi DNS.
b/. DNS trả lời dịch vụ thoại đã được đăng ký với số +8448226115.
Nhóm 2: Lớp M12CQTE-02-B Trang 24
ENUM Giảng viên: TS Nguyễn Trung Kiên
(2) SIP client phát tín hiệu “invite” tới SIP server báo hiệu đã sẵn sàng.
(3) a/. SIP server hỏi địa chỉ của Gateway tương ứng tại máy chủ Location
Server-LS.
b/. LS trả lời địa chỉ IP của Gateway đó.
(4) SIP server chuyển cuộc gọi tới GW.
(5) GW biến đổi từ giao thức IP sang giao thức làm việc của mạng viễn thông và