Khóa luận tốt nghiệp chính sách đòn bẩy tài chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại việt nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 22



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
CHÍNH SÁCH ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
doanh nghiệp 11
3.3. Rủi ro tài chính do sử dụng đòn bẩy tài chính 15
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp 17
4.1. Các nhân tố chủ quan 17
4.2. Các nhân tố khách quan 18
II. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT
NAM 19
1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 19
1.1. Khái niệm 19 1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 22
2. Tầm quan trọng của đòn bẩy tài chính đối với các doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Việt Nam 26
2.1. Bổ sung nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 26
2.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ 26
2.3. Nâng cao uy tín của các doanh nghiệp vừa và nhỏ 27
2.4. Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. 28
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH ĐÒN BẨY TÀI
CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM 29
2.1. Hiệu quả sử dụng chính sách đòn bẩy tài chính tại các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 29
2.1.1. Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính tại các doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Việt Nam 29
2.1.2. Hiệu quả của chính sách đòn bẩy tài chính đối với hoạt động của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam 39

lý Nhà nước 75
3.3.1. Kiến nghị với các ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay
75
3.3.2. Những kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tại Việt Nam qua các
năm 29
Bảng 2: Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam theo lĩnh vực hoạt
động 31
Bảng 3: Mức độ hiệu quả của chính sách đòn bẩy tài chính tại các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. 32
Bảng 4: Tỷ trọng các nguồn tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ 33
Bảng 5: Tỷ lệ vốn vay đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp 36
Bảng 6: Thị phần của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam từ 2004-
2007 37
Bảng 7: Tổng hợp kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua
các năm 40
Bảng 8: Tổng hợp chỉ tiêu hoạt động của một số ngành trong năm 2007 42
Bảng 9: Tổng hợp các chỉ số nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ 43
Bảng 10: Tổng hợp chỉ số ROE của doanh nghiệp vừa và nhỏ 45
Bảng 11: Dư nợ cho vay theo ngành 46
Bảng 12: Tỷ lệ nợ xấu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ qua các năm 47
Bảng 13 : Lãi suất cho vay phổ biến của khối ngân hàng trong năm 2008 49
Bảng 14: Những khó khăn khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng 51


pháp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Bằng cách vận dụng tổng
hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, suy luận logic, bài viết
của tôi sẽ đi vào phân tích thực trạng của việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm rõ một số chỉ tiêu từ đó tìm ra các mặt
được và chưa được của chính sách đòn bẩy tài chính tại các doanh nghiệp vừa 2
và nhỏ tại Việt Nam. Sau đó, tôi sẽ đưa ra một vài giải pháp với mong muốn
các doanh nghiệp này sẽ có thể ngày càng nâng cao hiệu quả của chính sách
đòn bẩy tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Bài viết của tôi gồm các phần chính sau:
Chương 1: Những hiểu biết chung về đòn bẩy tài chính và doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng sử dụng chính sách đòn bẩy tài chính tại các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách đòn bẩy
tài chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam
Trong quá trình thực hiện, tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Lê Phương
Lan đã tận tình chỉ bảo và có những đóng góp, gợi ý rất quý báu để giúp tôi
hoàn thành bài viết này.
Tất nhiên, do hạn chế về tầm hiểu biết cũng như thời gian nghiên cứu,
và đây cũng là một đề tài khá mới nên chắc chắn bài viết của tôi còn nhiều sai
sót. Tôi mong nhận được sự đóng góp và gợi ý của tất cả mọi người, đặc biệt
là các thầy cô giáo để tôi có thể hoàn thiện bài viết của mình hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ngƣời thực hiện

chính là việc bù đắp cho việc rủi ro của chủ sở hữu tăng lên do tăng tỷ lệ vốn
vay/ tổng số vốn. Từ đó dẫn đến phương trình: 4
Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị
của doanh nghiệp không sử dụng nợ.
Tuy nhiên, năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu
khác, trong đó đưa thêm giả thuyết về thuế thu nhập doanh nghiệp trong
nghiên cứu. Theo đó, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp.
Theo Modilligani và Miller, chi phí lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi
tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó một phần thu nhập của doanh nghiệp
có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư theo phương trình: Vg = Vu +
t*D, trong đó:
Vg: Giá trị của doanh nghiệp có sử dụng nợ trong cấu trúc vốn
Vu: Giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ trong cấu trúc vốn
D: Tổng số nợ doanh nghiệp sử dụng
t: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
t*D: Khoản lợi từ việc sử dụng nợ.
Như vậy, theo mô hình M-M có tính đến thuế thu nhập doanh nghiệp
(năm 1963), cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị của doanh nghiệp. Theo đó,
sử dụng nợ càng cao thì giá trị của doanh nghiệp càng tăng và giá trị đó gia
tăng tối đa khi nguồn vốn của doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ bằng các
khoản nợ.
Với cách hiểu như trên, đòn bẩy tài chính được hiểu như là việc sử
dụng các khoản nợ trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng
gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hoặc gia tăng thu nhập trên một
cổ phần thường đối với công ty cổ phần.
Chúng ta cần phân biệt giữa đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động
(đòn bẩy kinh doanh). Khi nói đến đòn bẩy hoạt động nghĩa là chúng ta nói

tăng lên. Trong trường hợp thu nhập sau thuế bị giảm thì lại làm cho thu nhập
trên vốn cổ phần thường bị giảm do cổ tức ưu đãi được chi trả trước cổ tức cổ
phiếu thường và nó lại cố định, dẫn đến hậu quả là thu nhập trên vốn cổ phần
thường bị giảm sút. 6
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi sẽ
không tạo ra một khoản tiết kiệm nhờ thuế (còn gọi là “lá chắn” thuế) giống
như sử dụng nợ. Nguyên nhân là do cổ tức ưu đãi không được coi là một
khoản chi phí hợp lý nên sẽ không được trừ đi khi tính toán lợi nhuận sau
thuế. Tuy nhiên, khi thu nhập sau thuế của doanh nghiệp quá thấp, doanh
nghiệp có thể quyết định không trả cổ tức cho những người nắm giữ cổ phiếu
ưu đãi mà không làm gia tăng thêm nợ cho doanh nghiệp (điều này có thể do
đại hội đồng cổ đông quyết định hoặc được quy định trong điều lệ của công
ty), nhưng đối với các khoản nợ vay, doanh nghiệp vẫn phải trả. Thậm chí,
khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, những khoản vay nợ có thể khiến
cho doanh nghiệp đi đến tình trạng phá sản. Một điểm khác biệt nữa là việc sử
dụng cổ phần ưu đãi có thể gây ra tình trạng phân chia quyền lực trong doanh
nghiệp do những cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi là chủ sở hữu doanh nghiệp
chứ không chỉ là chủ nợ đơn thuần, trong khi việc sử dụng hình thức vay nợ
hoàn toàn không dẫn đến tình trạng pha loãng quyền kiểm soát của các chủ sở
hữu doanh nghiệp. Đây cũng là một vấn đề quan trọng mà các nhà quản trị tài
chính cần quan tâm khi đưa ra các quyết định tài chính.
1.2. Khái niệm độ bẩy tài chính
Khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay hay nói cách khác là doanh nghiệp
sử dụng đòn bẩy tài chính thì lãi vay là một khoản chi phí tài chính cố định;
do đó, một sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng có thể
dẫn đến một thay đổi trong tỷ suất lợi nhuận/vốn chủ sỡ hữu (ROE) hoặc thu
nhập trên một cổ phần đối với các công ty cổ phần (EPS).



(1.2)
Như chúng ta biết:
NS
PD-t)-(1*I)-(EBIT
EPS 
(1.3)

NS
PD-t)-(1*I)-EBIT(
EPS


(1.4)

NS
t)-(1*EBIT



(1.5)
Vì I và PD là hằng số nên ∆I và ∆PD bằng 0, nên ta có:

NS
PD-t)-(1*I)-(EBIT
NS
t)-(1* EBIT

EPS

(1.8)

PD-t)-(1*I)-(EBIT
)1(* tEBIT 

(2.1)
Chia cả tử và mẫu cho (1 - t) ta được:

t-1
PD
-I-EBIT
EBIT
DFL
(2.2)
Đây là trường hợp trong cơ cấu vốn có cả vốn cổ phần ưu đãi, nhưng
nếu trong trường hợp không có vốn cổ phần ưu đãi trong cơ cấu vốn thì công
thức tính độ bẩy tài chính đơn giản hơn nhiều và độ bẩy tài chính được tính
theo công thức sau:

I-EBIT
EBIT
DFL 
(2.3)
Từ công thức 2.2 và công thức 2.3 ta có thể thấy độ bẩy của đòn bẩy
tài chính trong hai trường hợp có dùng vốn cổ phần ưu đãi và không dùng vốn
cổ phần ưu đãi trong cơ cấu nguồn vốn là khác nhau.
+ Nếu chi phí trả cổ tức ưu đãi (PD) lớn hơn phần tiết kiệm nhờ thuế do
sử dụng nợ (1 - t)*I thì độ bẩy của đòn bẩy tài chính khi sử dụng cả nợ và cổ
phần ưu đãi trong cơ cấu vốn sẽ lớn hơn trong trường hợp chỉ sử dụng nợ.
+ Nếu chi phí trả cổ tức cổ phần ưu đãi (PD) nhỏ hơn phần tiết kiệm nhờ

sử dụng đòn bẩy tài chính, doanh nghiệp đã làm tăng lợi nhuận cho những
người nắm giữ công ty bằng nguồn vốn không phải của họ.
2.2. Đòn bẩy tài chính là một công cụ giúp các nhà quản lý đưa ra các
quyết định tài chính
Việc nghiên cứu đòn bẩy tài chính giúp cho doanh nghiệp có thêm công
cụ và thông tin để đưa ra các quyết định tài chính. Trên thực tế, đòn bẩy tài 10
chính được các doanh nghiệp sử dụng với hi vọng làm tăng lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu. Tuy nhiên, đòn bẩy tài chính cũng là con dao hai lưỡi vì nó làm
tăng tính khả biến hay rủi ro trong lợi nhuận của cổ đông thường. Chẳng hạn,
khi thu nhập trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp ít hơn chi phí tài chính cố
định của nợ và cổ tức ưu đãi thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính có thể làm
giảm lợi nhuận của các cổ đông thường. Hay nói cách khác, đòn bẩy tài chính
đã phóng đại lỗ tiềm năng của các cổ đông thường. Đối với những người ra
quyết định tài chính thì việc nghiên cứu đòn bẩy tài chính làm sáng tỏ nguyên
tắc đánh đổi lợi nhuận và rủi ro trong các quyết định tài chính.
Đòn bẩy tài chính cũng giúp cho doanh nghiệp có thêm một công cụ để
tính toán thu nhập dự kiến trên cổ phần thường (EPS) có thể đạt được trong
kỳ ứng với kết cấu nguồn vốn hiện tại của doanh nghiệp. Điều này rất quan
trọng đối với các doanh nghiệp trong việc lựa chọn các quyết định tài chính
sao cho hiệu quả nhất.
3. Hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp
3.1. Quan điểm về hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trong doanh nghiệp
Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính trong
doanh nghiệp tùy thuộc người xem xét đó là ai. Tuy nhiên, trong phạm vi
quản lý doanh nghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến các hiệu quả kinh tế.
Do vậy, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng đòn
bẩy tài chính theo quan điểm sau: Hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính phản

VCSH
TNST
ROE 

Trong đó: - ROE: Thu nhập trên vốn chủ sở hữu
- TNST: Thu nhập sau thuế
- VCSH: Vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng
sinh lợi của một đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào doanh nghiệp. Nếu chỉ tiêu 1
Kết quả của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là việc thu nhập trên cổ phần thường hay thu nhập trên vốn chủ
sở hữu tăng lên.
2
Chi phí của việc sử dụng đòn bẩy tài chính là chi phí tài chính cố định phải chi ra cho việc sử dụng nợ và
rủi ro doanh nghiệp phải gánh chịu thêm khi gia tăng sử dụng nợ. Tuy nhiên, để đơn giản, trong bài viết này
chúng ta chỉ tính đến chi phí trả lãi vay. 12
tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp sử
dụng ngày càng hiệu quả hơn những khoản vốn vay nên đã khuyếch đại được
tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu. Tăng mức doanh lợi trên vốn chủ sở hữu
là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh
nghiệp. Để đánh giá chỉ tiêu này chúng ta có thể so sánh chỉ tiêu này với số
liệu của năm trước hoặc với mức trung bình của ngành. Nếu một doanh
nghiệp mà sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính thì chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu sẽ cao và tăng nhanh qua các năm. Ngược lại nếu sử dụng đòn
bẩy tài chính không hiệu quả thì chỉ tiêu này sẽ không cao hay không tăng

nhưng hai chỉ tiêu này có một chút khác biệt. Với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên
vốn chủ sở hữu nó phản ánh mức sinh lợi trên vốn cổ phần thường và vốn cổ
phần ưu đãi, còn với chỉ tiêu thu nhập trên vốn cổ phần thường thì lại chỉ xét
khả năng sinh lợi trên vốn cổ phần thường. Trong khi sử dụng vốn cổ phần ưu
đãi cũng tạo nên độ bẩy cho thu nhập trên vốn cổ phần thường. Chính vì sự
khác biệt này nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính thì chỉ tiêu
thu nhập trên vốn cổ phần thường là chỉ tiêu quan trọng hơn. Bên cạnh đó thì
còn một vài chỉ tiêu liên quan khác để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính một cách không trực tiếp.
- Chỉ tiêu doanh lợi trên tổng tài sản (ROA: Return On Asset)

TTS
TNST
ROA

Trong đó: - ROA: Doanh lợi trên tổng tài sản
- TNST: Thu nhập sau thuế
- TTS: Tổng tài sản
Chỉ tiêu này dùng kết hợp với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
hữu để thấy được hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
Chẳng hạn như năm 2007 doanh nghiệp có chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn
chủ sở hữu và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đạt lần lượt là 12%, 10%, đến
năm 2008 thì các chỉ tiêu này lần lượt là 14%, 10%. Ta có thể thấy sự chênh
lệch của chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu so với chỉ tiêu tỷ suất
sinh lời trên tổng tài sản của năm 2007 là 2% nhưng đến năm 2008 thì nó lại
là 4%. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng ngày càng có hiệu quả
những khoản nợ, từ đó mà làm cho tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu tăng 14

nî Tæng
nî sè HÖ 

Hệ số nợ càng lớn làm cho độ bẩy tài chính và rủi ro tài chính đều tăng
lên. Hệ số nợ này kết hợp với hai chỉ tiêu chính ở trên để đánh giá hiệu quả sử
dụng đòn bẩy tài chính. Nếu hệ số nợ tăng nhanh mà tỷ suất sinh lời trên vốn 15
chủ sở hữu, thu nhập trên vốn cổ phần thường tăng chậm so với các năm
trước chứng tỏ hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính không tốt.
Trong chỉ tiêu hệ số nợ, người ta phân thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
trên tổng tài sản để thấy được cơ cấu nợ của doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu khả năng thanh toán:

h¹n ng¾n Nî
déng l-u ns¶ Tµi
nkho¶ thanh sè ChØ 

Chỉ số thanh khoản thể hiện khả năng chi trả các khoản nợ hay tốc độ
chuyển tài sản thành tiền mặt của doanh nghiệp. Theo nguyên tắc, chỉ số này
càng cao càng tốt. Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao nghĩa là doanh nghiệp
đang để lãng phí các nguồn vốn trong doanh nghiệp vì có quá nhiều tiền mặt
và các khoản tương đương tiền trong công ty. Đó là điều không tốt đối với
một doanh nghiệp.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể sử dụng một số chỉ số khác như khả
năng thanh toán lãi vay để thấy được đòn bẩy tài chính đang phát huy hiệu
quả tích cực hay tiêu cực tại các doanh nghiệp.
3.3. Rủi ro tài chính do sử dụng đòn bẩy tài chính
Khi sử dụng các chỉ tiêu trên để đánh giá hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài

- Rủi ro lãi suất: Khi doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính, doanh
nghiệp phải trả lãi cho các khoản vay. Thông thường đối với các khoản vay từ
ngân hàng hoặc từ các tổ chức tài chính - tín dụng khác, lãi suất sẽ được quyết
định trước khi doanh nghiệp nhận được khoản vay và thường thì tỷ lệ lãi suất sẽ
được cố định trong suốt thời gian vay. Như vậy, doanh nghiệp có thể dễ dàng
hoạch toán các chi phí tài chính cho các chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Tuy nhiên, khi lãi suất trên thị trường cho vay biến động, nó sẽ ảnh
hưởng tới doanh nghiệp. Ví dụ như trong trường hợp, lãi suất cho vay giảm
xuống, rõ ràng, tại thời điểm đó doanh nghiệp có thể vay nợ với chi phí thấp
hơn, nhưng hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp đã được ký
trước đó nên doanh nghiệp vẫn phải trả một số tiền lãi cao hơn cho cùng một 17
khoản vay. Rủi ro lãi suất xuất hiện nhiều trong thời kỳ kinh tế suy thoái, có
nhiều biến động hoặc chính sách tài chính - tiền tệ của nhà nước không ổn định.
Đó là hai rủi ro mà doanh nghiệp rất hay gặp phải khi sử dụng đòn bẩy
tài chính. Ngoài ra còn có rất nhiều rủi ro khác. Do vậy, các nhà ra quyết định
tài chính phải nghiên cứu thật kỹ trước khi đưa ra những quyết định nhằm
giúp doanh nghiệp hạn chế các rủi ro khi sử dụng đòn bẩy tài chính.
4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp
4.1. Các nhân tố chủ quan
- Uy tín của doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp muốn sử dụng đòn bẩy
tài chính thì trước tiên doanh nghiệp phải tìm thấy được nguồn vốn để vay nợ
hoặc phải đủ điều kiện để phát hành chứng khoán (trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu
đãi). Điều này đối với một số doanh nghiệp thì rất đơn giản, trong khi đối với
một số doanh nghiệp khác thì lại rất khó khăn. Nguyên nhân là do uy tín của
doanh nghiệp đó trên thị trường. Nếu doanh nghiệp có uy tín tốt, việc vay nợ
và huy động vốn cổ phần ưu đãi thường không khó và ít tốn kém. Nhưng

nghiệp. Khi đó, đòn bẩy tài chính sẽ ít được sử dụng và hiệu quả của nó trong
doanh nghiệp cũng sẽ giảm đi.
4.2. Các nhân tố khách quan
- Thị trường tài chính: Nếu doanh nghiệp đang ở trong một thị trường
tài chính tương đối phát triển thì việc huy động vốn sẽ có rất nhiều thuận lợi.
Điều này tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính, từ đó
nó có tác động tốt tới hiệu quả của chính sách đòn bẩy tài chính trong doanh
nghiệp. Giả sử, doanh nghiệp đang ở trong một thị trường tài chính chưa phát
triển thì sẽ khó khăn trong việc huy động nợ hay cổ phần ưu đãi, điều đó sẽ
gây tâm lý lo lắng cho các nhà quản trị tài chính trong việc sử dụng đòn bẩy
tài chính.
- Chi phí lãi vay: Đây là một nhân tố rất quan trọng, ảnh hưởng đến số
lượng nợ được sử dụng trong các doanh nghiêp. Khi chi phí nợ thấp thì doanh 19
nghiệp sẽ dùng nhiều nợ hơn để tài trợ cho các hoạt động của mình, khi đó
mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp sẽ cao lên. Ngược lại, khi
chi phí nợ mà cao thì doanh nghiệp phải giảm việc sử dụng nợ, từ đó mà làm
cho mức độ bẩy của đòn bẩy tài chính giảm đi. Nếu với cùng một lượng nợ
như nhau nhưng chi phí nợ giảm đi thì hiển nhiên thu nhập trước thuế sẽ tăng
lên làm cho thu nhập trên cổ phần thường được khuyếch đại lớn hơn.
- Chính sách, luật pháp Nhà nước: Doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi
các chính sách vĩ mô của Nhà nước. Ví dụ như, chính sách thuế thu nhập
doanh nghiệp, nếu thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao thì càng khuyến
khích doanh nghiệp dùng nhiều nợ, khi ấy doanh nghiệp sẽ có phần tiết kiệm
được nhờ thuế là lớn. Khi nó khuyến khích doanh nghiệp dùng nhiều nợ thì
cũng đồng nghĩa với việc khuyến khích doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài
chính nhiều hơn. Tuy nhiên, việc thuế thu nhập doanh nghiệp quá cao cũng
khiến cho nhiều doanh nghiệp không có động cơ sản xuất hiệu quả hoặc phát

rất nhiều khó khăn.
Trong hầu hết các nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ chiếm đại đa số. Ở
Liên minh châu Âu, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 99% tổng số
doanh nghiệp và có số lao động lên đến 65 triệu người. Trong một số ngành
kinh tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ giữ vai trò chỉ đạo trong công cuộc cải tạo
và là động lực phát triển của nền kinh tế. Trên toàn thế giới, doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm khoảng 99% số doanh nghiệp và từ 40% đến 50% trong tổng
thu nhập quốc nội GDP 9.
Trong khi đó, tại New Zealand, doanh nghiệp vừa và nhỏ có một sự
đóng góp đáng kể cho nền kinh tế cả về số lượng các doanh nghiệp và tỷ lệ %
lực lượng lao động. Tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với
New Zealand ngày càng gia tăng khi cơ hội toàn cầu hóa và sự phát triển khoa
học kỹ thuật ngày càng tăng lên. Theo số liệu thống kê năm 2006, hầu hết các
doanh nghiệp ở New Zealand là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, số lượng doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 96% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế,

Trích đoạn Nguyên nhân khách quan Giải pháp về nguồn nhân lực Kiến nghị với các ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay Những kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status