nghiên cứu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu bằng đường biển tại công ty cổ phần văn hóa tân bình - Pdf 22

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ
@&? TRẦN THỊ LỆ HẰNG
Đ
Đ

I
I
E
E
Ä
Ä
P

Đ
A
A
Ï
Ï
I
IH
H
O
O
Ï
Ï
C
C
mình cần từ nước chuyên sản xuất mặt hàng đó và bán sản phẩm của mình cho những
nước có nhu cầu. Làm như vậy, các quốc gia có thể tránh được những lãng phí khi tiến
hành sản xuất những mặt hàng mình không có lợi thế và tập trung nguồn lực để sản
xuất những hàng hoá thế mạnh của mình, góp phần vào sự phát triển kinh tế của chính
quốc gia đó cũng như của toàn thế giới.
Trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại quốc tế, các quốc gia không thể
không quan tâm tới một số vấn đề như thuế quan, vận chuyển, thanh toán, , và đặc
biệt là bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đóng
vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế, nhằm giải quyết
những khó khăn về vốn trong kinh doanh từ những rủi ro, mất mát của hàng hoá trong
quá trình vận chuyển.
Trên thế giới, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu đã ra đời từ rất lâu và hiện nay
vẫn đang phát triển không ngừng. Ở Việt Nam, nghiệp vụ này ra đời muộn hơn nhưng
cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm cho các đối tượng tham gia. Trong
nền kinh tế thò trường hiện nay, sự tồn tại của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế cùng với sự phát triển không ngừng của ngành ngoại thương Việt Nam đã và
đang tạo ra nhu cầu bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng lớn. Chính những
yêu cầu khách quan đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải am hiểu sâu sắc hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
để đáp ứng với nhu cầu mới.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
3
Đối với Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình, một doanh nghiệp có xuất khẩu theo
giá CIF, việc nghiên cứu sâu sắc nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu là rất
quan trọng và góp phần nâng cao hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty.
Trong thời gian thực tập tại Phòng Xuất Nhập Khẩu, thuộc Công ty Cổ Phần Văn
Hóa Tân Bình, em đã nhận thức rõ vò trí và vai trò quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm
hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đối với sự phát triển của Công
ty cũng như hoạt động thương mại quốc tế. Trên cơ sở đó, em đã chọn đề tài:
"Nghiên cứu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu vận chuyển bằng đường biển

các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
5
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ
XUẤT NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP
KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN:
1. Trên thế giới:
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu là một phạm trù của bảo hiểm tài sản. Nó ra đời
và phát triển gắn liền với hoạt động giao thương quốc tế và ngành vận tải hàng hải.
Bảo hiểm hàng hải đã có lòch sử rất lâu đời. Nó ra đời và phát triển cùng với sự
phát triển của hàng hoá và ngoại thương. Khoảng thế kỷ V trước công nguyên, vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển đã ra đời và phát triển người ta biết tránh tổn thất
toàn bộ một lô hàng bằng cách chia nhỏ, phân tán chuyên chở trên nhiều thuyền khác
nhau. Đây có thể nói là hình thức sơ khai của bảo hiểm hàng hoá.
Đến thế kỷ thứ XII, thương mại và giao lưu hàng hoá bằng đường biển giữa các
nước phát triển. Nhiều tổn thất lớn xảy ra trên biển vì khối lượng và giá trò của hàng
hóa ngày càng tăng, do thiên tai, tai nạn bất ngờ, cướp biển gây ra làm cho giới
thương nhân lo lắng nhằm đối phó với các tổn thất nặng nề có khả năng dẫn tới phá
sản. Họ đã đi vay vốn để buôn bán kinh doanh. Nếu hành trình gặp phải rủi ro gây ra
tổn thất toàn bộ thì các thương nhân được xoá nợ, nếu hành trình may mắn thành công
thì ngoài vốn vay họ còn phải trả chủ nợ một khoản tiền lãi với lãi suất rất cao. Lãi suất
cao và nặng nề này có thể coi là hình thức ban đầu của phí bảo hiểm.
Bảo hiểm hàng hoá được khơi nguồn từ các thương gia HANSEATIC và LOMBARD
tại phía bắc nước ITALIA vào cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII.

2. Tại Việt Nam:
Thời kỳ đầu, Nhà nước giao cho một Công ty chuyên môn trực thuộc Bộ Tài chính
kinh doanh bảo hiểm đó là Công ty Bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng Công ty Bảo hiểm
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
7
Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt). Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập ngày
17/12/1964 theo Quyết đònh số 179/CP và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/1/1965.
Trước năm 1964 Bảo Việt chỉ làm đại lý bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cho
Công ty Bảo hiểm nhân dân Trung Quốc trong trường hợp mua theo giá FOB, và bán
theo giá CIF với mục đích là học hỏi kinh nghiệm.
Từ năm 1965 - 1975 Bảo Việt mới triển khai ba nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại trong
đó có bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu. Từ sau 1970 Bảo Việt có quan hệ tái bảo
hiểm với Liên Xô (cũ), Ba Lan, Triều Tiên. Trước đó Bảo Việt chỉ có quan hệ tái bảo
hiểm với Trung Quốc.
Từ năm 1975 - 1992 Bảo Việt đã triển khai thêm nhiều nghiệp vụ và mở rộng
phạm vi hoạt động. Từ chỗ chỉ có quan hệ tái bảo hiểm với một số nước Xã Hội Chủ
Nghóa cũ thì trong thời kỳ này Bảo Việt đã có quan hệ đại lý, giám đònh, tái bảo hiểm
với hơn 40 nước trên thế giới. Năm 1965 khi Bảo Việt đi vào hoạt động, Bộ Tài chính
đã ban hành quy tắc chung về Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển. Gần
đây, để phù hợp với sự phát triển thương mại và ngành hàng hải của đất nước, Bộ Tài
Chính đã ban hành quy tắc chung mới - Quy tắc chung 1990 (QTC-1990) cùng với Luật
Hàng hải Việt Nam. Quy tắc chung này là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh các vấn đề
về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
Trong vài năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có phần khởi sắc, hoạt động
ngoại thương phát triển mạnh mẽ đã kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan
như ngân hàng hay bảo hiểm. Hiện nay, các Công ty bảo hiểm của Việt Nam đã quan
hệ với nhiều tổ chức, Công ty có danh tiếng hoạt động trong lónh vực bảo hiểm trên thế
giới.
Với sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế thò trường ở Việt Nam, sự độc quyền
trước đây trong ngành bảo hiểm đã bò phá vỡ. Nghò đònh 100/CP của Chính phủ đã cho

khẩu.
- Trong một giao dòch ngoại thương, sự liên quan giữa người mua, người bán và ngân
hàng, bảo hiểm nhằm di chuyển sự mất mát tài chính của một bên nào đó từ những rủi
ro ngoài khả năng kiểm soát của họ mà nó dẫn đến sự mất mát một phần hoặc toàn bộ
hàng hoá.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
9
III. SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP
KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN:
Ngành bảo hiểm đã ra đời do có sự tồn tại khách quan của các rủi ro mà con
người không thể khống chế được. Nếu có những rủi ro xảy ra mà không có các khoản
bù đắp thiệt hại kòp thời của các nhà bảo hiểm, đặc biệt là những rủi ro mang tính thảm
hoạ gây ra tổn thất rất lớn thì chủ tàu và chủ hàng gặp rất nhiều khó khăn về tài chính
trong việc khắc phục hậu quả do các rủi ro đó gây ra. Vì vậy, sự ra đời và việc tham gia
bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển trở thành một nhu
cầu rất cần thiết và nó có những tác dụng sau:
- Thứ nhất, nó xuất phát từ chính đặc điểm và vai trò của vận tải biển trong thương mại
quốc tế. So với các phương thức vận tải khác, vận tải bằng đường biển có nhiều ưu điểm
nổi bật:
Bảng 01: SO SÁNH TÍNH ƯU VIỆT CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC VẬN TẢI.

Xếp
hạng
Tốc độ
Tính đều
đặn
Độ tin cậy

Năng lực


Tổng
2002 7.750 2.276 2.840 2.300 1.253 6.215 22.634
2003 7.985 2.584 3.015 2.453 1.478 6.436 23.951
2004 8.302 2.769 3.398 2.645 1.786 6.792 25.692
2005 8.550 3.148 3.670 2.782 1.953 6.945 27.048
Nguồn: Fearnleys - Oslo, Review 2005

- Thứ hai, giảm bớt rủi ro cho hàng hoá do hạn chế tổn thất nhờ tăng cường bảo quản
kiểm tra đồng thời kết hợp các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất.
- Thứ ba, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đem lại lợi ích cho nền kinh tế
quốc dân, góp phần tiết kiệm và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước. Khi các đơn vò kinh
doanh xuất nhập khẩu nhập hàng theo giá FOB, CF, xuất theo giá CIF, CIP sẽ tạo ra
khả năng cạnh tranh của bảo hiểm trong nước với nước ngoài. Nhờ có hoạt động bảo
hiểm trong nước các chủ hàng không phải mua bảo hiểm ở nước ngoài, nói cách khác là
không phải xuất khẩu vô hình.
- Thứ tư, nghóa vụ và quyền lợi của mỗi bên tham gia bảo hiểm đã trở thành nguyên tắc
thể lệ và tập quán trong thương mại quốc tế. Nên khi hàng hoá xuất nhập khẩu gặp rủi
ro gây ra tổn thất các bên tham gia sẽ được Công ty bảo hiểm giúp đỡ về mặt pháp lý
khi xảy ra tranh chấp với tàu hoặc các đối tượng có liên quan.
- Thứ năm, khi các Công ty có tổn thất hàng hoá xảy ra sẽ được bồi thường một số tiền
nhất đònh giúp họ bảo toàn được tài chính trong kinh doanh. Số tiền chi bồi thường của
các Công ty hàng năm là rất lớn chiếm khoảng 60%-80% doanh thu phí bảo hiểm.
Trong nền kinh tế mở cửa của Việt Nam hiện nay, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển càng phát huy tác dụng vốn có của nó. Nó góp phần
vào việc tăng thu nhập quốc dân, giảm chi ngoại tệ. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
11

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
12
* Khi giao hàng vào kho hay nơi chứa hàng cuối cùng của người nhận hàng hoặc
một người nào khác tại nơi nhận có ghi tên trong hợp đồng bảo hiểm;
* Khi giao hàng cho bất kỳ kho hay nơi chứa hàng nào khác, dù trước khi tới hay
tại nơi nhận hàng ghi trong hợp đồng bảo hiểm mà người được bảo hiểm dùng làm:
- Nơi chia hay phân phối hàng hoặc
- Nơi chứa hàng ngoài hành trình vận chuyển bình thường.
* Khi hết hạn 60 ngày kể từ khi hoàn thành việc dỡ hàng khỏi tàu biển tại cảng dỡ
cuối cùng ghi trên đơn bảo hiểm.
Trong quá trình vận chuyển nói trên nếu xảy ra chậm trễ ngoài sự kiểm soát của
người được bảo hiểm, tàu đi chệch hướng dỡ hàng bắt buộc, chuyển tải ngoại lệ hoặc
thay đổi hành trình thì hợp đồng bảo hiểm vẫn giữ nguyên hiệu lực với điều kiện người
được bảo hiểm phải thông báo cho người bảo hiểm biết về việc xảy ra và phải trả thêm
phí bảo hiểm nếu có yêu cầu.
Quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn
bên chủ yếu là: người bán (bên xuất khẩu), người mua (bên nhập khẩu), người vận
chuyển và người bảo hiểm. Vì vậy, cần phải phân đònh rõ ràng trách nhiệm của các bên
liên quan và khi tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá các bên liên quan phải thực hiện
đầy đủ các nghóa vụ của mình.
1.2. Trách nhiệm của các bên trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa:
Ø
Người bán (người xuất khẩu): có trách nhiệm chuẩn bò hàng theo đúng hợp
đồng về số lượng, chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng,
thủ tục hải quan, kiểm dòch
Nếu người bán bán hàng theo giá CIF thì họ sẽ phải mua bảo hiểm cho hàng
hoá, sau đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người
mua hàng.
Ø
Người mua (người nhập khẩu): có trách nhiệm nhận hàng từ người chuyên chở

gốc của Việt Nam được quy đònh theo bản Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển năm 1990 do Bộ Tài chính ban hành. Quy tắc
này được xây dựng trên cơ sở điều khoản ICC ngày 1/1/1982 của Viện những người bảo
hiểm London (Institute of London Underwriters - ILU). Vì các điều kiện này được áp
dụng ở hầu hết các nước trên thế giới thay thế các điều kiện cũ ICC-1963 và trở thành
tập quán thông dụng quốc tế. Nó bao gồm các điều kiện sau:
- Institute cargo clauses C (ICC-C) - điều kiện bảo hiểm C
- Institute cargo clauses B (ICC-B) - điều kiện bảo hiểm B
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
14
- Institute cargo clauses A (ICC-A) - điều kiện bảo hiểm A
- Institute war clauses - điều kiện bảo hiểm chiến tranh
- Institute strikes clauses - điều kiện bảo hiểm đình công
So với các điều kiện bảo hiểm cũ, các điều kiện bảo hiểm mới trình bày rõ ràng,
dễ hiểu hơn. Điều kiện bảo hiểm mới đã khắc phục được sự mập mờ, khó hiểu và ngôn
ngữ cổ được sử dụng trong điều kiện bảo hiểm cũ. Tên gọi của các điều kiện là C, B, A
thay cho các tên cũ FPA, WA, AR nên dễ nhớ, dễ sử dụng hơn. Và điều cơ bản là nội
dung của các điều kiện bảo hiểm mới có những thay đổi.
v Nội dung cụ thể của các điều kiện bảo hiểm mới như sau :
a. Điều kiện bảo hiểm C (ICC- C).
a.1. Rủi ro được bảo hiểm :
- Cháy hoặc nổ;
- Tàu hay xà lan bò mắc cạn, đắm hoặc lật úp;
- Tàu đâm va nhau hoặc tàu, xà lan hay phương tiện vận chuyển đâm va phải bất
kỳ vật thể gì bên ngoài không kể nước hoặc bò mất tích;
- Dỡ hàng tại cảng lánh nạn;
- Phương tiện vận chuyển đường bộ bò lật đổ hoặc bò trật bánh;
- Hy sinh vì tổn thất chung;
- Ném hàng khỏi tàu.
a.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:

chuyển hoặc container không thích hợp cho việc chuyên chở hàng hoá mà người được
bảo hiểm hay người làm công cho họ đã biết về tình trạng đó vào thời gian bốc xếp
hàng hoá ;
- Bao bì không đầy đủ hoặc không thích hợp;
- Hao hụt tự nhiên, hao mòn tự nhiên, rò chảy thông thường;
- Chủ tàu, người quản lý tàu hoặc thuê tàu không trả được nợ hoặc thiếu thốn về
mặt tài chính gây ra.

PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
16
b. Điều kiện bảo hiểm B (ICC- B):
b.1. Rủi ro được bảo hiểm:
Như điều kiện C và mở rộng thêm một số rủi ro sau:
- Động đất, núi lửa phun, sét đánh;
- Nước cuốn khỏi tàu;
- Nước biển, nước sông chảy vào tàu, xà lan, hầm hàng, phương tiện vận chuyển,
container hoặc nơi chứa hàng;
- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào do rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi xếp
hàng lên hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan.
b.2. Những tổn thất, chi phí và trách nhiệm khác:
Như điều kiện C.
b.3. Rủi ro loại trừ:
Như điều kiện C.
c. Điều kiện bảo hiểm A (ICC- A):
c.1. Rủi ro được bảo hiểm:
Theo điều kiện này, người bảo hiểm chòu trách nhiệm về mọi rủi ro gây ra mất
mát hư hỏng cho hàng hoá bảo hiểm trừ những rủi ro đã được loại trừ. Rủi ro được bảo
hiểm theo điều kiện bảo hiểm này bao gồm cả rủi ro chính (tàu mắc cạn, đắm, cháy,
đâm va nhau, đâm va phải những vật thể khác, mất tích ) và những rủi ro phụ (hư
hỏng, đổ vỡ, cong, bẹp, gỉ, hấp hơi, thiếu hụt, trộm cắp, không giao hàng ) do tác

- Người đình công, công nhân bò cấm xưởng hoặc những người tham gia gây rối
loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy;
- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trò;
- Tổn thất chung và chi phí cứu nạn.
Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếp của những
người đình công mà không chòu trách nhiệm về những thiệt hại do hậu quả của đình
công gây ra.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
18

3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển:
3.1. Khái niệm:
Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là một
văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm
các tổn thất của hàng hoá theo các điều kiện bảo hiểm đã ký kết, còn người tham gia
bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.
3.2. Tính chất:
- Là một hợp đồng bồi thường (contract of indemnity): khi có tổn thất xảy ra người bảo
hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo thiệt hại thực tế và chế
độ bảo đảm bảo hiểm đã thỏa thuận.
- Là một hợp đồng của lòng trung thực (contract of good faith): người được bảo hiểm
phải khai bảo trung thực, không có ý đồ xấu làm thiệt hại đến người bảo hiểm và ngược
lại người bảo hiểm có trách nhiệm bảo đảm bồi thường đúng mức. Sự tín nhiệm của
hợp đồng bảo hiểm thể hiện ở quyền lợi bảo hiểm (insurable interests). Muốn được bồi
thường khi có tổn thất xảy ra thì người được bảo hiểm phải có quyền lợi bảo hiểm vào
thời điểm xảy ra tổn thất. Nếu khi xảy ra tổn thất mà người được bảo hiểm chưa có
quyền lợi bảo hiểm, nghóa là chưa có sở hữu về hàng hóa thì sẽ không được bồi thường
cho dù tổn thất xảy ra là do một rủi ro được bảo hiểm gây ra và nằm trong hiệu lực của
bảo hiểm.
- Là một hợp đồng chuyển nhượng.

4. Nôïi dung của hợp đồng bảo hiểm:
Hợp đồng bảo hiểm được in sẵn thành mẫu thường bao gồm 2 mặt: mặt trước gồm
các thông tin về người bảo hiểm, người được bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm; mặt sau
in sẵn các quy đònh cơ bản về bảo hiểm. Mẫu của các nước khác nhau có thể khác nhau
song hiện nay hầu hết các nước, các Công ty đều sử dụng mẫu đơn bảo hiểm của Hiệp
hội bảo hiểm London từ tháng 4 năm 1982 theo quy đònh của ICC-1982. Nội dung của
hợp đồng bảo hiểm bao gồm:
- Tên, đòa chỉ, số hiệu tài khoản ở ngân hàng của người bảo hiểm và người được
bảo hiểm.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
20
- Tên hàng hoá được bảo hiểm, số lượng, trọng lượng, loại bao bì, cách đóng
gói
- Loại tàu chuyên chở: tên tàu, tuổi tàu, cờ tàu, trọng tải, dung tích
- Số vận đơn
- Cách xếp hàng lên tàu
- Nơi đi, nơi đến, nơi chuyển tải
- Ngày gửi hàng
- Thời gian khởi hành và thời gian cả hành trình
- Điều kiện bảo hiểm, giá trò bảo hiểm, số tiền bảo hiểm
- Nơi giám đònh tổn thất, nơi thanh toán bồi thường
- Đòa điểm và ngày ký hợp đồng.
- Ký tên, đóng dấu.
Những nội dung trên được ghi tóm tắt trên đơn bảo hiểm cấp cho mỗi chuyến hàng
tham gia bảo hiểm.
Ngoài ra, hợp đồng bảo hiểm còn ghi các điều khoản về quyền và trách nhiệm
của mỗi bên, trong đó có một số nội dung cơ bản như sau:
4.1. Giá trò bảo hiểm:
Giá trò bảo hiểm là giá trò thực tế của lô hàng. Giá trò thực tế của lô hàng có thể là
giá hàng hoá (giá FOB) cũng có thể bao gồm: giá hàng hoá, cước phí vận chuyển, phí

Số tiền Số tiền bảo hiểm của hợp đồng
bồi thường của = Trò giá thiệt hại x
từng hợp đồng Tổng số tiền bảo hiểm của các hợp đồng
Trong xuất nhập khẩu nếu số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trò hóa đơn hay giá FOB
hoặc giá CFR thì người được bảo hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trò hay nói cách khác
là bảo hiểm dưới giá trò.
4.3. Phí bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà người được bảo hiểm phải trả cho người bảo
hiểm để được bồi thường khi có tổn thất do các rủi ro đã thoả thuận gây nên. Phí bảo
R
1
F
C
CIF
-
+
=
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
22
hiểm thường được tính toán trên cơ sở xác suất của những rủi ro gây ra tổn thất hoặc
trên cơ sở thống kê tổn thất của nhiều năm trên một loại hàng hoá được bảo hiểm nhằm
đảm bảo trang trải tiền bồi thường và có lãi. Như vậy phí bảo hiểm được tính toán trên
cơ sở tỷ lệ phí bảo hiểm và phụ thuộc vào số tiền bảo hiểm hoặc giá trò bảo hiểm. Để
lập công thức tính phí bảo hiểm cần có các chỉ tiêu sau:
R : là tỷ lệ phí bảo hiểm
I : là phí bảo hiểm
A : là số tiền bảo hiểm
V : là giá trò bảo hiểm
Thì : I = R * A (nếu A < V)
Hoặc I = R * V (nếu A = V)

C
A +
-
+
=
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
23
- Gián tiếp qua Công ty môi giới bảo hiểm .
Trên thế giới, phần lớn các khách hàng đều mua bảo hiểm hàng hóa gián tiếp qua
Công ty môi giới bảo hiểm vì những Công ty này có nghiệp vụ chuyên môn cao, thông
tin nghiệp vụ rộng và họ sẽ bảo vệ được quyền lợi cho người được bảo hiểm. Hơn nữa
nhiều chủ hàng không thông thạo về nghiệp vụ bảo hiểm, không nắm vững giá cả trên
thò trường bảo hiểm cho nên dễ bò mắc phí bảo hiểm cao. Ở Việt Nam chúng ta hiện
nay, các chủ hàng đều mua trực tiếp tại các Công ty bảo hiểm.
Khi khách hàng yêu cầu được mua bảo hiểm, người khai thác viên của Công ty
bảo hiểm sẽ cung cấp và hướng dẫn khách hàng làm giấy yêu cầu bảo hiểm, sau đó
chuẩn bò hợp đồng để ký với khách hàng.
§ Thủ tục bảo hiểm gồm có:
a. Giấy yêu cầu bảo hiểm:
Khi muốn mua bảo hiểm cho một lô hàng xuất khẩu, người có nhu cầu bảo hiểm
phải làm giấy yêu cầu bảo hiểm theo mẫu in sẵn của Công ty bảo hiểm trong đó bao
gồm các đề mục như: loại hàng hóa cần được bảo hiểm, giá trò hàng hóa, quy cách
đóng gói, cảng xếp dỡ, tên tàu vận chuyển, các điều kiện yêu cầu bảo hiểm … Sau đó
người có nhu cầu bảo hiểm thương lượng trực tiếp hoặc qua telex với Công ty bảo hiểm
để được cấp đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm. Khi nhận được giấy yêu cầu bảo
hiểm, người khai thác viên phải kiểm tra xem chứng từ có hợp lệ không.
b. Cấp đơn bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm:
Sau khi nộp giấy yêu cầu bảo hiểm để được người bảo hiểm xét duyệt và cấp đơn
bảo hiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải thực hiện những
nghóa vụ sau: Nộp phí bảo hiểm đúng thời hạn: theo nguyên tắc bảo hiểm chỉ có hiệu

nghi ngờ có tổn thất thì cần làm giấy yêu cầu đề nghò người giám đònh ngay. Việc giám
đònh hàng hoá được bảo hiểm bò tổn thất phải do người bảo hiểm tiến hành theo đơn đề
nghò của người được bảo hiểm. Nếu vụ tổn thất không được giám đònh viên của người
bảo hiểm giám đònh thì sẽ không được chấp nhận bồi thường.
- Thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất. Thực ra, việc đề phòng
và hạn chế tổn thất cho hàng hóa nói chung trong hợp đồng bảo hiểm là để chỉ những
trường hợp hàng hoá bò rủi ro (thuộc phạm vi bảo hiểm như: cháy, nổ, mắc cạn ) đe
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
25
doạ tàu khi tàu chở hàng đang trên đường hành trình hoặc neo đậu tại bến cảng dọc
đường.
- Việc bảo vệ tài sản trước những tình huống có nguy cơ thuộc phạm vi trách
nhiệm của hợp đồng bảo hiểm đều đòi hỏi sự nỗ lực của cả hai bên và khi đó chưa cần
xét đến biện pháp giải quyết bồi thường của người bảo hiểm.
- Xuất phát từ những đặc điểm này, người bảo hiểm có quy đònh việc người bảo
hiểm tham gia vào các biện pháp cứu hộ và bảo vệ hàng hoá đều không thể coi là dấu
hiệu của sự khước từ hay chấp nhận việc từ bỏ hàng hoá.
6.2. Thủ tục khiếu nại đòi bồi thường:
Khiếu nại là sự thỉnh cầu hay yêu cầu người bảo hiểm bồi thường trên cơ sở những
chứng cứ do người được bảo hiểm đưa ra. Hồ sơ khiếu nại để đòi người bảo hiểm bồi
thường gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau nhưng phải chứng minh được:
- Người khiếu nại có lợi ích bảo hiểm;
- Hàng hoá đã được bảo hiểm;
- Tổn thất thuộc rủi ro được bảo hiểm;
- Mức độ tổn thất;
- Thực hiện nguyên tắc thế quyền để người bảo hiểm có thể đòi được người thứ ba
bồi thường.
6.3. Hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường phải bao gồm các loại giấy tờ sau đây:
1- Đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (bản gốc);
2- Vận đơn đường biển (bản gốc) và hợp đồng thuê tàu (nếu có);


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status