Câu 1: Phân tích các đặc điểm cơ bản của triết học phương Tây cổ đại
Với gần một thiên niên kỷ tồn tại (thế kỷ VI TCN – V), tư tưởng triết học phương Tây cổ đại, mà
Hy Lạp và La Mã là đại diện, đã để lại những dấu ấn đậm nét trên con đường phát triển của lòch sử tư
tưởng nhân loại, tạo nên một trong những thời đại sôi động và bi kòch nhất, thể hiện khát vọng của con
người vươn lên làm chủ tự nhiên, cải biến xã hội và chính bản thân mình.
Triết học phương Tây cổ đại trải qua ba thời kỳ chính: sơ khai (thế kỷ VI – V TCN), cực thịnh (V –
IV TCN), Hy Lạp hóa, khủng hoảng và suy tàn, hay thời kỳ văn minh Hy Lạp – La Mã (thế kỷ III TCN –
V). Sự sụp đổ tây bộ đế quốc La Mã năm 476 đánh dấu sự cáo chung của thế giới cổ đại phương Tây, chấm
dứt sự tồn tại của một xã hội phi nhân tính nhất trong lịch sử - xã hội chiếm hữu nơ lệ.
Có thể thâu tóm ba chủ đề chính của triết học phương Tây cổ đại, từ thời kỳ hình thành các thò
quốc đầu tiên đến khi trường phái cuối cùng bò đóng cửa vào đầu thế kỷ VI. Trước hết là tìm hiểu tự
nhiên. Câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?”, “bản tính của thế giới là gì?” cho thấy nỗ
lực của các triết gia mong muốn vượt qua ảnh hưởng của thế giới quan thần thoại, đem đến lời giải đáp
hợp lý về thế giới xung quanh và về tác động của nó đến đời sống con người. Chủ đề tiếp theo là nhận
thức. Bắt đầu từ Ta lét (Thales) và Pitago (Pythagoras) con người không chỉ được xem như một thành
viên của vũ trụ, mà còn luôn chứng tỏ vò thế của mình trước vũ trụ ấy. Bản thân thuật ngữ
“philosophia” cũng nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm và khám phá chân lý. Triết học – đó là con
đường hướng tới chân lý. Các nhà triết học ngay từ cổ đại đã tập trung tranh luận về khả năng và giới
hạn của nhận thức, về các phương pháp và phương tiện nhận thức, về nguồn gốc, cơ sở và tiêu chuẩn
của chân lý. Bên cạnh việc đề cao lý trí , óc khám phá sáng tạo của con người, vẫn còn một số triết gia
đứng trước những diễn biến phức tạp, phi tất đònh của của đời sống xã hội, đã chủ trương “treo lửng
phán quyết”, rơi vào chủ nghóa hoài nghi. Chủ đề thứ ba là con người, xã hội loài người với tất cả
những biểu hiện phong phú và phức tạp của nó. Từ Xôcrát (Socrates) trở đi con người trở thành một
trong những điểm nóng của các cuộc tranh luận triết học. Con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng
nghiên cứu. Chủ đề con người và thiết chế xã hội dành cho con người, cùng với các chủ đề liên quan
đền hoạt động sáng tạo và đònh hướng giá trò của con người, được phân tích trong các công trình thẩm
mỹ, nghệ thuật, đạo đức, pháp quyền.
Triết học phương Tây cổ đại không chỉ phản ánh hiện thực của xã hội chiếm hữu nô lệ, mà còn
xây dựng hàng loạt hệ chuẩn tư duy cho các thời đại sau, tạo nên truyền thống cổ điển trong văn hoá
tinh thần phương Tây. Bằng chứng rõ ràng nhất của truyền thống này là quá trình phục hưng văn hoá
cổ đại vào cuối thế kỷ XIV – thế kỷ XVI và sự phát triển, phổ biến văn hoá cổ điển vào thời cận đại,
Lạp, La Mã. Trong bức tranh muôn vẻ của triết học phương Tây cổ đại đã chứa đựng hầu như tất cả
những hình thái và phương thức tư duy căn bản nhất, được tiếp tục hoàn thiện, cải biến và phát triển
sau này. Chẳng hạn cuộc tranh luận giữa “đường lối Đêmôcrít” và “đường lối Platôn” lan sang cả tư
tưởng chính trò, thể hiện thái độ của họ đối với nền dân chủ chủ nô.
- Dấu hiệu đặc trưng đầu tiên của tư tưởng duy vật ở Hy Lạp là sự ra đời của nó gắn liền với q
trình giải phóng tư duy khỏi bức tranh huyền thoại về thế giới, thay tư duy hình tượng – biểu tượng bằng
tư duy ở trình độ khái niệm, thay sùng bái thần linh bằng sự đề cao lý trí con người. Cho nên cách hiểu
triết học (từ ngun Hy Lạp viết theo chữ Latinh: philosophia) là sự thể hiện khát vọng (u mến) vươn
đến sự thơng thái thần linh, đồng thời thế tục hố sự thơng thái đó. Tại sao sự ra đời của triết học tại Hy
Lạp lại gắn với sự hình thành (một cách tự phát) tư tưởng duy vật?
- Mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật với trình độ khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, dù lĩnh vực
này đang trong dạng phơi thai, mầm mống. Mối liên hệ này mang tính tất yếu, tạo nên xung lực cho q
trình phát triển của chủ nghĩa duy vật. Phần lớn các nhà duy vật (các nhà triết học nói chung) đều có kiến
thức sâu sắc về tự nhiên, hoặc đồng thời là nhà khoa học (sophos). Nhờ sự hiểu biết này mà họ đã cố gắng
vượt qua thói quen tư duy truyền thống, tạo cho mình hướng đi riêng, khơng lặp lại. Điều này lý giải vì sao
trong cuộc tranh luận về bản ngun thế giới tinh thần phản biện được đẩy mạnh, thậm chí đến mức độ gay
gắt. Anaximandros khơng chấp cái cụ thể hữu hình (nước) như khởi ngun thế giới, mà đưa ra apeiron
như yếu tố vật chất giả định, cái “bất định”, vơ hạn, nhưng lại là cơ sở cho sự hình thành và chuyển hố
của các sự vật, hiện tượng. Như thế là ơng đã vươn đến quan điểm thực thể , bản chất (substance) về cơ sở
của tồn tại. Anaxago nhấn mạnh đến khía cạnh “chất” trong sự hình thành vạn vật. Ngun tử luận
(Leucippos và Democritos, Epicuros) nói đến ngun tử (atomos) như cái bé nhất, bất khả phân và “hư
khơng” như bản ngun của thế giới… Trong mối liên hệ giữa triết học và khoa học cả hai đều cùng phát
triển với sự tác động và chi phối lẫn nhau. Tính biện chứng tự phát, bẩm sinh thể hiện ở phần lớn các học
thuyết duy vật, với những mức độ khác nhau, trong đó Hêraclít là người tiêu biểu.
- Xét một cách tổng thể, từ bình diện lịch sử - xã hội, tư tưởng triết học duy vật phản ánh lập trường
của các lực lượng xã hội tiến bộ. Cho nên “đường lối Democritos” cũng được xét đốn từ cách tiếp cận
này.
Tuy nhiên, như đã nói trên, tri thức khoa học ở HL cổ đại còn trong tình trạng tản mạn, sơ khai,
trình độ nhận thức chung còn thấp đã góp phần tạo nên một đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật thời
đó:
đầu thế kỷ XIX) xem con người là điểm xuất phát, và giải phóng con người là mục đích cuối cùng. “Con
người – thước đo của vạn vật”; lời tuyên bố này của Prôtago (Protagoras) chứng tỏ rằng dù không
ngừng hướng ra vũ trụ, giải thích và khao khát chinh phục nó, người Hy Lạp vẫn dành nhiều tâm huyết
tìm hiểu những vấn đề nhân sinh, xã hội.
Từ Xơcrát trở đi con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng. Tìm hiểu thế giới của con người, kết
hợp “hướng ngoại” và “hướng nội” quy định vị trí và số phận của các triết thuyết. Sự quan tâm đến con
người, tìm kiếm những chuẩn mực sống lý tưởng cho con người, là nét chung trong tư tưởng của Xơcrát,
Platơn, Arixtốt và nhiều triết gia khác từ thời kỳ sơ khai đến thời kỳ Hy Lạp hóa, khủng hoảng và suy tàn.
Thực tiễn “có vấn đề” cũng là điều kiện cho sự tìm kiếm lời đáp để khắc phục nó, nghĩa là hình thành các
phương án vượt qua cái hiện tồn. Cho nên trong các học thuyết chính trị, xã hội đã hình thành chủ nghĩa
hiện thực và chủ nghĩa lý tưởng, khắc họa con người và các thiết chế xã hội từ các góc độ khác nhau.
Những tư tưởng chính trò, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ do người Hy Lạp - La Mã xác lập trở thành
nền tảng và điểm xuất phát của tư tưởng phương Tây.
Câu 2: Các đặc trưng của triết học thế kỷ XVII – XVIII (nội dung chính):
1.Ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản
Được chuẩn bò từ phong trào văn hóa nhân văn Phục hưng (cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XVII),
triết học thế kỷ XVII-XVIII đã trở thành ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản và các lực lượng xã hội
tiến bộ khác trong cuộc đấu tranh chống ý thức hệ phong kiến lỗi thời. Cuộc đấu tranh này diễn ra ở
nhiều bình diện : duy vật chống duy tâm thần bí, khoa học chống chủ nghóa giáo điều và uy quyền tư
tưởng, cải cách chính trò chống bảo thủ chính trò…Tính chất tiến bộ của triết học thời kỳ này được minh
chứng bằng tinh thần hoài nghi và phê phán khoa học, bằng ưu thế của chủ nghóa duy vật trước chủ
nghóa duy tâm. Nếu triết học thế kỷ XVII chú trọng đến phê phán tri thức, trước hết là tri thức kinh
viện trung cổ, thì triết học thế kỷ XVIII, điển hình là triết học Khai sáng Pháp, kết hợp phê phán tri
thức với phê phán xã hội, từ đó hình thành hai xu hướng vận động song song với nhau – cải tổ hoạt
Page 3 of 29
động tinh thần và cải tổ môi trường xã hội. So với thời Phục hưng, giai cấp tư sản thế kỷ XVII – XVII
đóng vai trò lực lượng chính trò độc lập cách mạng, tập hợp xung quanh mình các nhân tố tích cực, tiến
bộ, tấn công trực diện vào chế độ phong kiến và nền tảng tinh thần của nó, xác lập những chuẩn mực,
giá trò mới, đơn giản hóa các quan hệ xã hội, phù hợp với sự vận động lòch sử. Thời Phục hưng thể hiện
quá trình chuyển tiếp từ chế độ phong kiến sang chủ nghóa tư bản, còn thời đại mới đã là thời đại của
nhất là trong điều kiện các nhà khoa học cần đến “những chứng cứ của lý trí” để chống các hình thức
ng tạo khoa học và triết học kinh viện. Song phương pháp ấy lại tỏ ra không thích hợp trong việc giải
thích bản chất cũa thế giới đang biến đổi. Vấn đề là ở chỗ, trong khi tìm hiểu những mặt, những thuộc
tính của sự vật, những lónh vực của đời sống, các nhà triết học và khoa học chưa vạch ra một cách thỏa
đáng mối liên hệ và tác động lẫn nhau giữa chúng, hoặc tuyệt đối hóa một mặt nào đó, đồng thời lý
giải thiếu thuyết phục nguyên nhân, động lực của vận động và phát triển. Hình thức thứ hai của chủ
nghóa duy vật, tức chủ nghóa duy vật thế kỷ XVII-XVIII cũng chòu sự quy đònh của tính chất máy móc,
siêu hình ấy, và được gọi là chủ nghóa duy vật máy móc – siêu hình, hay đơn giản là chủ nghóa duy vật
siêu hình.
3. Hình thành hai khuynh hướng chủ đạo trong nhận thức
Page 4 of 29
Sự quan tâm đến nhận thức đáp ứng đòi hỏi của con người trong điều kiện bùng nổ các khám
phá và phát minh khoa học, phát triển lực lượng sản xuất. Có thể xác đònh một số đặc trưng của lý luận
nhận thức thế kỷ XVII – XVIII. Một là, cùng với việc các khoa học cụ thể về tự nhiên và xã hội tách
dần khỏi triết học, đã diễn ra sự thay đổi tất yếu của đối tượng triết học: các nhà triết học ngày càng
tập trung sự chú ý vào việc quyết cùng lúc hai mặt của một vấn đề lớn, mà thiếu một trong số chúng,
triết học sẽ mất đi vai trò xã hội của mình – mặt bản thể luận và mặt nhận thức luận – lô gíc học. Hai
là, sự thay đổi căn bản trong quá trình phát triển của khoa học tự nhiên, sự xuất hiện ngày càng nhiều
các phương pháp chuyên biệt đối với các lónh vực khoa học tự nhiên và lòch sử đặt ra trước triết học
nhiệm vụ khái quát các thành quả của chúng và xây dựng phương pháp triết học chung của nhận thức,
cũng như làm sáng tỏ mối quan hệ giữa triết học với các khoa học chuyên biệt. Nhu cầu phân tích
mang tính nhận thức luận đối với các kết quả nghiên cứu khoa học trở nên cấp bách, bởi lẽ các chất
liệu tiềm tàng và đa dạng do khoa học đem đến cần được luận chứng và hệ thống hóa. Mặt khác, từ
việc xử lý chất liệu cần vạch ra con đường nhận thức tiếp theo về thế giới. Chính vì thế các nhà tư
tûng đặt trọng tâm vào việc tìm kiếm phương pháp luận chung và làm sáng tỏ bản chất của tư duy. Ba
là, những thành tựu trong nghiên cứu khoa học và những thay đổi trong phương pháp luận nghiên cứu
cũng đặt ra nhiệm vụ tìm hiểu bản chất của quá trình nhận thức và nguồn gốc tri thức.
Việc hình thành các phương pháp nhận thức khác nhau nhằm đạt đến mục đích khẳng đònh
quyền lực của con người trước tự nhiên, giúp con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản
thân. Từ thế kỷ XVII trở đi vấn đề phương pháp trở thành một trong những chủ đề chính của các cuộc
đi tới một trật tự xã hội khác với chế độ phong kiến “phi lý” và phi nhân tính, ngự trò suốt hàng ngàn
năm. mà còn là mục tiêu phấn đấu của nhiều dân tộc. Một số phác thảo của các nhà khai sáng về mô
hình xã hội tương lai cho đến nay vẫn còn là mục tiêu phấn đấu của nhiều dân tộc.
Với những đặc trưng vừa nêu, có thể nói rằng, thế kỷ XVII – XVIII là một trong những thời đại
sôi động nhất trong lòch sử loài người.
Câu 3: Phân tích các đặc trưng cơ bản của triêt học cổ điển Đức
Nước Đức là một trong ba quốc gia lớn ở châu Âu, nhưng cho đến thế kỷ XVIII vẫn còn nằm
trong sự lạc hậu về kinh tế. Sở dó có tình trạng đó là vì so với Anh, Hà Lan và Pháp chính thể quân chủ
Phổ thực thi một đường lối phản động và bảo thủ, lại phải nuôi bộ máy quá cồng kềnh, quan liêu tham
nhũng. Lãnh thổ bò chia năm xẻ bảy, nạn cát cứ hoành hành, cộng thêm hậu quả cuộc chiến tranh Ba
mươi năm khốc liệt, đẩy nước Đức đến bờ vực của sự khủng hoảng. Sản xuất đình đốn, sự ứng dụng
Khoa học – Kỹ thuật hạn chế, đời sống thấp kém, mâu thuẫn xã hội gay gắt. Bên cạnh đó nước Đức là
một trong nhiều nước lạc hậu về chính trò, biểu hiện ở ba điểm sau: Một là, hệ tư tưởng phong kiến còn
ngự trò dai dẳng trong đời sống tinh thần, trong ý thức xã hội; hai là, giai cấp tư sản Đức non trẻ, tỏ ra
yếu đuối trước thực tại đầy quyền uy là chế độ quân chủ. Bởi vậy phần đông ngã theo khuynh hướng
dung hòa giữa “lý trí” và “thực tiễn”, được thể hiện bằng tuyên ngôn điển hình của Hegel: cái gì hợp
lý thì hiện thực, cái gì hiện thực thì hợp lý; ba là, mức độ cách mạng của giai cấp tư sản Đức tỏ ra thấp
so với giai cấp tư sản Anh và Pháp. Đức xét theo mức độ cách mạng thì còn lạc hậu so với Anh hai
trăm năm, so với Pháp năm mươi năm.
Giai cấp tư sản Đức không đủ dũng khí làm cách mạng chính trò – xã hội; họ mong muốn làm
cách mạng trên lónh vực lý trí. Và chính ở đây, do phát triển muộn, họ tỏ ra có ưu thế. Kết quả là vào
cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIV ở châu Âu có ba cường quốc với ba thế mạnh:
- Nước Anh tư bản chủ nghóa với sự nở rộ các học thuyết kinh tế;
- Nước Pháp cách mạng với những đònh hướng chính trò sâu sắc, thể hiện trong các học thuyết
xã hội không tưởng và các quan điểm chính trò;
- Nước Đức với thế mạnh về triết học và trào lưu Khai sáng.
Chính ba thế mạnh vừa nêu hợp thành ba nguồn gốc lý luận của chủ nghóa Mác.
Một số đặc trưng cơ bản của triết học cổ điển Đức
(1) Triết học cổ điển Đức là triết học Khai sáng, “thể hiện khát vọng của người tiểu thò dân
Đức” muốn thay đổi trật tự hiện hành bằng ánh sáng của trí tuệ và lý tưởng tự do bình đẳng, bác ái,
biến thái của chủ nghĩa duy tâm là chủ nghĩa duy tâm chủ quan (hầu như hiện diện ở Kant, Fichte,
Schelling qua các phương án khác nhau, từ duy tâm tiên nghiệm đến “học thuyết khoa học” tuyệt đối hố
cái Tơi), chủ nghĩa duy tâm khách quan (chủ yếu Hegel, một phần ở Schelling trong triết lý về sự mặc khải
thần bí). Mặc khác chủ nghĩa duy tâm Đức cũng là kết quả tất yếu trong q trình chuyển trung tâm tri
thức từ Anh và Pháp sang Đức, như nỗ lực khắc phục khiếm khuyết của siêu hình học thế kỷ XVII – XVIII
bằng chủ nghĩa duy tâm.
3. Triết học cổ điển Đức đóng góp to lớn trong việc phát triển phép biện chứng, hình thành
phong cách tư duy mới trong văn hóa châu Âu (và kể cả văn hóa nhân loại), khắc phục sự phân tuyến máy
móc theo kiểu “đúng – sai”, “trắng – đen”, “khoa học – phản khoa học” như đã từng hiện diện ở siêu hình
học thế kỷ XVII – XVIII. Theo phương pháp nghiên cứu mới sự đánh giá các vấn đề thần thoại, tơn giáo,
mà thuật tỏ ra xác đáng hơn, khoa học hơn. Phép biện chứng duy tâm là hình thức thứ hai trong lịch sử
phép biện chứng. Có thể nhận thấy biện chứng của q trình nhận thức ở triết học Kant, biện chứng cái Tơi
và cái khơng-Tơi ở Fichte.
Trong hình thức thứ hai này của phép biện chứng nổ bật sự đóng góp của Hegel. Cơng lao lịch sử
của Hegel là ở chỗ, ơng đã đưa ra cách hiểu mới (hiện đại) về phép biện chứng; hình thành những ngun
lý cơ bản của phép biện chứng, đào sâu vấn đề biện chứng của q trình nhận thức, đi đến tư tưởng về
thống nhất phép biện chứng với lý luận nhận thức và lơgíc học, vận dụng phép biện chứng để lý giải các
vấn đề của tri thức khoa học.
Phép biện chứng duy tâm Đức, nhất là phép biện chứng Hegel, thể hiện mặt tích cực, tiến bộ, cách
mạng của “những người thị dân Đức” (Ph. Ăngghen), và là tiền đề trực tiếp của phép biện chứng duy vật,
do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX.
Hạn chế của phép biện chứng duy tâm:
- Phép biện chứng do được xác lập trên cơ sở thế giới quan duy tâm, nên tỏ ra hạn chế trong việc
giải thích tiến trình lịch sử - xã hội và sự hoạt động của con người, là phép biện chứng “bị đặt lộn ngược
đầu xuống đất” (Mác);
- Tính chất duy tâm dẫn đến tính chất khơng triệt để và đầy mâu thuẫn của phép biện chứng trong
triết học cổ điển Đức. Một mặt, các nhà triết học Đức, đặc biệt Hegel, khẳng định tính phổ biến của sự phát
triển, song mặt khác, họ lại giới hạn sự phát triển đó trong khn khổ chật hẹp. Hegel nhấn mạnh ngun lý
phát triển, song lại xem nền qn chủ Phổ là điển hình của nhà nước đương đại (mặc dù thực ra nền qn
chủ Phổ là nấc thang thấp nhất của sự phát triển xã hội, xét trong điều kiện lúc ấy tại Tây Âu). Trong triết
Có thể nói thời đại tư bản là thời đại năng động nhất so với các thời đại đã qua. Tính biện
chứng của thời đại tư bản thể hiện ở chỗ nó không thể tồn tại bình thường nếu không tạo ra những biến
đổi liên tục trong các lónh vực của đời sống xã hội, cải tiến liên tục công cụ sản xuất, tích cực khai thác
và tìm kiếm các nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, theo
Mác, sự phát triển của nền sản xuất tư bản dựa trên các thành tựu khoa học, kỹ thuật của nhân loại, dù
thúc đẩy về cơ bản sự vận động xã hội tiến về phía trước, vẫn không khắc phục được những mâu thuẫn
cố hữu của xã hội có các giai cấp đối kháng, sự tha hóa con người, mà thậm chí còn làm cho những
mâu thuẫn ấy ngày càng trở nên trầm trọng và không thể kiểm soát.
Xã hội tư sản đào sâu thêm khoảng cách giữa thành thò với nông thôn, giữa sản xuất công
nghiệp và sản xuất nông nghiệp, tạo nên những chênh lệch lớn trong đời sống kinh tế lẫn môi trường
văn hóa, nhận thức, sự phân hóa mới trong quan hệ giữa người với người. Đó là điểm dễ thấy nhất.
Thứ hai, sự vận dộng xã hội dựa trên các quy luật thò trường tư bản chủ nghóa trong khi đơn
giản hóa quan hệ xã hội đã đồng thời bộc lộ mặt trái của nó: sư cằn cỗi dần những phong tục, thói quen
và sinh hoạt văn hóa truyền thống, xu hướng thực dụng hóa ngay cả quan hệ gia đình, huyết thống, sư
sòng phẳng đến tàn nhẫn các thang bậc đánh giá khả năng của cá nhân, và do đó loại bỏ không thương
tiếc con người trong điều kiện cạnh tranh và làm giàu bằng mọi giá. Sự thay thế hình thái kinh tế – xã
hội phong kiến bằng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghóa là hợp lý xét từ quan điểm phát triển,
nhưng chưa hoàn thiện xét từ góc độ nhân sinh. Chủ nghóa tư bản thay thế phương thức nô đòch con
người, chứ chưa thể loại bỏ hẳn phương thức
Thứ ba, chủ nghóa tư bản, theo Mác và Ph. Ăngghen, chẳng những không thể khắc phục mâu
thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, mà còn
đẩy mâu thuẫn đó đến tình trạng gay gắt, không thể dung hòa trong điều kiện kinh tế thò trường vận
Page 8 of 29
hành theo quy luật cạnh tranh tự do. Cuộc đấu tranh giải phóng xã hội giờ đây gắn liền với cuộc đấu
tranh của giai cấp vô sản công nghiệp chống lại sự áp bức của các lực lượng thống trò và trật tự xã hội
tư sản nói chung. Cuộc đấu tranh này khác với thời đại các cuộc cách mạng tư sản sơ kỳ về mức độ và
bản chất. Vào những năm 30- 40 của thế kỷ XIX giai cấp vô sản, con đẻ của nền công nghiệp, trở
thành một lực lượng chính trò dộc lập, phát triển cuộc đấu tranh từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác,
từ những yêu sách thuần túy kinh tế chuyển dần sang mục tiêu chính trò. Để đạt được mục tiêu đó cần
phải có môt hệ thống lý luận mang tính đònh hướng , được xác lập trên cơ sở hiện thực, nắm bắt và
Giai cấp tư sản cần đến một hệ chuẩn tư tưởng bảo vệ trật tự vừa hình thành và đang từng bước khẳng
đònh.
Vào những năm 20 – 30, khi Hêghen đang còn là thần tượng của giới trẻ có học thức và cách
mạng tại Đức, những toan tính xem xét lại một cách có phê phán toàn bộ truyền thống cổ điển phương
Tây nói chung, triết học Hêghen nói riêng, đã hình thành dưới tác động của quá trình phi cổ điển hóa
tư duy. Sôpenha là một trong những người đầu tiên khởi xướng quá trình đó. Sôpenha phê phán
chủ nghóa duy lý truyền thống, đặc biệt là hệ thống Hêghen, thay sự sùng bái lý trí bằng sùng bái ý chí.
Sau Sôpenha tại Đan Mạch nhà triết học Kiếckego, người sống hầu như cùng thời với Mác, đặt nền
móng cho Chủ nghóa hiện sinh trong tương lai (nhánh Hiện sinh tôn giáo). Tại Pháp Côntơ, người khởi
Page 9 of 29
xướng Chủ nghóa thực chứng, tuyên bố về một thứ triết học vượt qua cả chủ nghóa duy vật lẫn chủ
nghóa duy tâm, hình thành cái gọi là con đường thứ ba trong triết học. Muộn hơn, các trao lưu triết học
tôn giáo thực hiện quá trình hiện đại hóa bằng cách kết hợp các vấn đề của thời đại với giáo lý Kytô
trung cổ. Nói cách khác, bức tranh triết học nửa đầu thế kỷ XIX tại các nước Tây Âu được hình thành
với ba khuynh hướng cơ bản là khuynh hướng duy lý hiện đại, hay khuynh hướng khoa học (để phân
biệt với duy lý truyền thống), khuynh hướng phi duy lý, và khuynh hướng tôn giáo (khuynh hướng thứ
hai này có nhiều mối liên hệ với khuynh hướng phi duy lý).
Trong tình hình phức tạp như thế Mác đã thể hiện một thái độ khác đối với truyền thống. Khi
xác lập học thuyết triết học của mình Marx chẳng những không xét lại truyền thống một cách cực
đoan, mà còn kế thừa và phát triển những yếu tố tích cực của nó.Mác và Ăngghen tiếp tục nhấn mạnh
sự cần thiết của việc phân tích hệ thống các vấn đề triết học do truyền thống để lại, trong đó có vấn đề
cơ bản của triết học. Bước ngoặt có tính cách mạng trong lòch sử triết học, do Mác và Ăngghen thực
hiện, thực chất là sự kế thừa, đổi mới, phát triển lên trình độ cao các giá trò truyền thống, đặc biệt là
truyền thống phương Tây,cải tạo và khắc phục hạn chế của các học thuyết trước đó mà hai ông có dòp
tìm hiểu.
* Tiền đề lý luận của triết học Mác
Tiền đề sâu xa của triết học Mác là toàn bộ tinh hoa tinh thần của nhân loại, mà chủ yếu là tinh
hoa phương Tây, được tích lũy trong các học thuyết triết học từ hơn hai ngàn năm qua, bắt đầu từ Hy
Lạp cổ đại. Triết học Marx là một vòng khâu trong chuỗi các vòng khâu nối tiếp nhau qua các thời đại,
với sự mở rộng không ngừng tri thức triết học trong mối liên hệ với hoạt động thực tiễn, với khoa học
nghóa duy vật và phép biện chứng nói riêng. Trong tiền đề lý luận Đức không thể không đề cập đến
vai trò của phái Hêghen trẻ, bởi lẽ chính thông qua phái Hêghen trẻ mà Mác và ngghen trưởng thành
dần về tư tưởng. Trong quá trình chuyển biến thế giới quan phái Hêghen trẻ không chỉ đóng vai trò cầu
nối , mà còn là phép thử tư tưởng đối với Mác và ngghen, nhất là khi cả hai đang đứng trước sự lựa
chọn quyết đònh.
Triết học chính trò của Mác tập trung vào việc tìm kiếm phương thức tồn tại và phát triển của
xã hội trong điều kiện phân hóa gay gắt. Quá trình làm quen với chủ nghóa cộng sản không tưởng của
Xanh Ximông (Saint Simon), Phuriê (Fourier), oen (Owen) đưa C. Mác và Ph. ngghen đến với tư
tưởng cốt lõi của họ như xóa bỏ tình trạng người bóc lột người,xây dựng một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh hơn nền dân chủ hiện tại với sở hữu cộng đồng về tư liệu sản xuất và sự phân phối sản
phẩm xã hội một cách hợp lý. Mác và Ăngghen tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng ấy và vận dụng
vào triết học chính trò của mình, hình thành nên lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân trong lòch
sử, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về nhà nước và cách mạng xã hội, đặc biệt là lý luận
giải phóng con người. Do chòu sự chi phối của điều kiện lòch sử cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX
các nhà cộng sản không tưởng chưa thể vạch được con đường và phương thức giải phóng người lao
động ra khỏi ách áp bức tư sản một cách khoa học. Mác và ngghen vượt qua hạn chế đó, xác lập
quan niệm duy vật về lòch sử, gợi mở những khả năng biến ý tưởng của các bậc tiền bối thành hiện
thực.
Các đại biểu lớn của kinh tế chính trò học Anh, Xmít (A. Smith) và Ricácđô (D. Ricardo), cũng
như kinh nghiệm thực tiễn xã hội tại Anh (sự vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghóa, xung đột giai
cấp, tình cảnh giai cấp công nhân Anh) đã đem đến cho Mác một số kinh nghiệm và phương pháp
phân tích các hoạt động kinh tế, các quy luật chi phối sự phát triển của xã hội. Tiếp thu có chọn lọc và
phê phán kinh tế chính trò học tư sản cổ điển , Mác và ngghen đưa vào học thuyết của mình những
vấn đề và những luận giải mang tính khám phá. Học thuyết về giá trò thặng dư của Mác vượt ra khỏi
khuôn khổ của một học thuyết kinh tế, trở thành cơ sở giải thích bản chất của xã hội tư sản, từ đó
khẳng đònh rằng chủ nghóa tư bản không phải là sự lựa chọn cuối cùng của nhân loai.
Các nhà triết học mácxít sau Mác không dừng lại ở những chất liệu đã có từ thời Mác, mà tích
cực tìm hiểu và tiếp thu những tri thức mới, để làm giàu thêm và từng bước hoàn thiện chủ nghóa Mác
trong điều kiện lòch sử cụ thể. Cuộc đấu tranh của C. Mác và Ph.ngghen chống lại cả chủ nghóa giáo
điều lẫn chủ nghóa xaét lại và chủ nghóa phiêu lưu chính trò được tiếp tục vào thế kỷ XX và XXI, nhằm
trong, khách quan của mình, trong đó có quy luật đấu tranh sinh tồn, tính thích nghi, tự đào thải, chọn
lọc tự nhiên và cân bằng sinh thái (thuyết tiến hoá của Đácuynh (Darwin). Khẳng đònh chân lý khoa
học này cũng có nghóa là bác bỏ quan niệm về nguồn gốc siêu nhiên của sự sống, cũng như sự giải
thích giản đơn, máy móc, siêu hình về thế giới, đặc biệt là thế giới hữu sinh. Sự ra đời thuyết tế bào và
thuyết tiến hóa đã kích thích các nhà khoa học đào sâu quá trình tìm hiểu tính thống nhất và đa dạng
của tồn tại, khám phá những bí ẩn của thế giới, đồng thời góp phần đưa đến sự hình thành phương pháp
tư duy mới. Những thành tựu mới nhất của sinh học, y học, tế bào học hiện đại tiếp tục soi sáng các
vấn đề mà vào thời Đácuynh chỉ mới là những phác thảo hoặc chưa đề cập đến. Điều đáng nói là mỗi
bước đi, mỗi phát minh tiêu biểu của khoa học đều buộc các nhà lý luận tìm hiểu, khái quát, biến
thành những yếu tố thẩm đònh giá trò của một quan điểm , một học thuyết có liên quan.
Những phát minh vạch thời đại trong khoa học tự nhiên, cùng với những biến đổi trong các khoa
học lòch sử, đã góp phần đưa đến sự cáo chung hình thức cũ của chủ nghóa duy vật, tức chủ nghóa duy
vật siêu hình ( đúng hơn, chủ nghóa duy vật trong phạm vi Siêu hình học của thế kỷ XVII – XVIII ); nó
cần được thay thế bằng hình thức hiện đại của chủ nghóa duy vật,tức chủ nghóa duy vật biện chứng.
ngghen viết :”Mỗi lần có một phát minh mang ý nghóa thời đại ngay cả trong lónh vực khoa học lòch
sử – tự nhiên thì chủ nghóa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó”
2
. Ph. ngghen cho
rằng, để thở thành một nhà triết học chân chính điều kiện trước tiên là phải nắm vững kiến thức về
khoa học tự nhiên – lòch sử, từ toán học, vật lý, đến các khoa học về con người.
2. Những biểu hiện của bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học, do C. Mác và Ph. Ăngghen
thực hiện (nội dung chính)
Chủ nghĩa Mác, trong đó triết học là hạt nhân lý luận của nó, ra đời vào những năm 40 của thế kỷ
XIX. Sự ra đời của triết học Mác đánh dấu bước phát triển mới về chất trong lịch sử triết học, thể hiện ở
những điểm cơ bản sau:
* Thống nhất hữu cơ chủ nghóa duy vật và phép biện chứng
Công lao lòch sử của Hêghen là đã phát triển phép biện chứng từ trình độ tự phát trở thành khoa
học, từ tản mạng thành hệ thống, đem đến cách hiểu hiện đại về phép biện chứng như học thuyết về
mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, vượt qua cách hiểu mang nặng tính chủ quan về phép biện
chứng như “nghệ thuật đối thoại”, xuất phát từ người Hy Lạp. Phép biện chứng, với tính cách như trên,
thế các hình thức sở hữu, nói tóm lại, đã phác thảo những vấn đề cốt lõi của học thuyết mácxít về hình
thái kinh tế – xã hội. Các vấn đề quan niệm duy vật về lòch sử được hoàn thiện và làm sâu sắc thêm ở
các thời kỳ sau. Lênin bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghóa duy vật lòch sử trong điều kiện lòch sử
mới.
* Thống nhất lý luận và thực tiễn, giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn
Mác và Ăngghen khắc phục tính chất tư biện của triết học Hêghen, xây dựng một trong những
nguyên tắc xuyên suốt của chủ nghóa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng, là thống nhất lý luận và
thực tiễn, thực hiện sứ mệnh “cải tạo thế giới”, chứ không chỉ dừng lại ở “giải thích thế giới”. Đối với
Mác không phải cuộc sống diễn ra theo những đồ thức luận tư duy, mà ngược lại, đồ thức luận tư duy
cần thường xuyên được điều chỉnh theo những diễn biến của cuộc sống. Vì thế quan điểm thực tiễn đã
trở thành quan điểm xuất phát, nền tảng trong triết học Mác. Lòch sử phát triển của triết học cho thấy
phạm trù “thực tiễn” có từ thời cổ đại, và trở thành một trong những phạm trù được nhắc đến nhiều
trong các học thuyết triết học. Điều này không khó giải thích, bởi lẽ không một nhà triết học nào chủ
trương tách rời hệ thống triết học khỏi thực tiễn lòch sử – xã hội. Vấn đề là ở chỗ các học thuyết ấy
hiểu thực tiễn như thế nào, dựa trên cơ sở thế giới quan nào. Cantơ, chẳng hạn, nhấn mạnh ưu thế của
“lý tính thực tiễn” trước “lý tính thuần tuý”, vạch ra con đường biện chứng của nhận thức từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Song Cantơ hiểu thực tiễn theo
nghóa “hoạt động mang ý nghóa thực tiễn”, tức đồng nhất phạm trù “thực tiễn” với phạm trù “hoạt
động”. Hêghen cũng khẳng đònh “chân lý thực tiễn cao hơn chân lý lý luận”, nhưng cách hiểu của ông
về thực tiễn không vượt ra khỏi khuôn khổ của chủ nghóa duy tâm tư biện. Mác không chỉ đưa vào
Page 13 of 29
phạm trù “thực tiễn” nhiều nội dung mới, xem thực tiễn như tồn tại có tính lòch sử – xã hội của con
người, điều mà các nhà triết học thế kỷ trước chưa nghó đến, mà còn xác đònh tính vật chất của hoạt
động thực tiễn. Đó là sự khác biệt giữa Mác với Cantơ và Hêghen. Nhờ hiểu thực tiễn từ quan điểm
của chủ nghóa duy vật biện chứng mà nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn mang thông điệp mới.
Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn nghóa là phải xem thực tiễn như nguồn
gốc, cơ sở, động lực, mục tiêu của nhận thức, tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Hơn thế nữa, chỉ xuất phát
từ thực tiễn mới khắc phục được quan điểm siêu hình trong nhận thức và hành động, bởi lẽ thực tiễn
biến đổi sẽ thực hiện quá trình sàng lọc, đào thải đối với lý luận; những quan điểm nào tỏ ra lỗi thời,
không đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, sẽ phải nhường chỗ cho cái mới, cái hợp lý.
nhà khoa học gợi mở, dự báo về những vấn đề của tương lai. Về phần mình triết học tác động đến các
khoa học tự nhiên – lòch sử ở phương diện thế giới quan và phương pháp luận. Trong thời đại ngày nay
sự tác động này trở nên rõ ràng hơn nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, rất cần sự đònh
hướng ở tầm mức của lý luận triết học, vượt ra khỏi ranh giới hẹp tương đối của khoa học chuyên biệt.
Lênin khơng chỉ bảo vệ những luận điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác, mà còn phát triển, bổ sung,
điều chỉnh nội dung (và cả cách tiếp cận) của chủ nghĩa Mác, vốn hình thành trong thế kỷ XIX, hiện thực
hố nó thơng qua thắng lợi của cách mạng tháng Mười và sự ra đời các nước xã hội chủ nghĩa.
Page 14 of 29
Câu 5: Tư tưởng cơ bản nho giáo
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI tr.CN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551
tr.CN - 479 tr.CN). Sau khi Khổng Tử chết, nho gia chia làm tám phái, nhưng quan trọng nhất là phái Mạnh
Tử và Tuân Tử với hai xu hướng khác nhau: duy tâm và duy vật, trong đó dòng nho gia Khổng - Mạnh có ảnh
hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
Kinh điển của Nho giáo thường được kể tới là Tứ Thư (Luận Ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử)
và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ Dịch, Xuân Thu).
Quan điểm về xã hội, về chính trị - đạo đức của Nho gia được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau:
* Về vũ trụ và giới tự nhiên
+ Khổng tử tin vào vũ trụ quan “dịch”, tin vào sự vận hành biến hoá không ngừng của sự vật, cuộc
vận hành ấy có trật tự, có hoà điệu, mà nguyên nhân của trật tự và hoà điệu ấy con người không thể cưỡng
lại được, nên Khổng Tử gọi đó là “ thiên mệnh” , ông cho “Trời” có ý chí làm chúa tể của vũ trụ, chi phối
mọi sự biến hóa cho hợp lẽ điều hoà. Tin vào mệnh trời, Khổng Tử coi việc hiểu biết mệnh trời là điều kiện
để trở thành người hoàn thiện.
+ Khổng Tử tin có quỷ thần, nhưng quan niệm quỷ thần của ông có tính chất lễ giáo nhiều hơn là tôn
giáo. Khổng Tử cũng cho rằng quỷ thần không có tác dụng chi phối đời sống của con người, ông phê phán
sự mê tín quỷ thần.
* Quan niệm về chính trị- đạo đức
Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những nền tảng của xã hội,
trong đó quan
hệ quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con và chồng - vợ (gọi là Tam
cương). Nếu xếp theo “tôn
Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng những quan
Page 15 of 29
điểm triết hoc của thuyết Âm Dương - Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về
pháp trị của Pháp gia, v.v Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung
Hoa. Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai phật giáo. Sự kết hợp những tư tưởng triết
học của Nho gia đã có ngay từ thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử. Tuy nhiên, sự kết hợp nhuần
nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 - 1279).
* Ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam:
Nho giáo vào nước ta từ những năm cuối trước Công nguyên. Từ cuối thế kỷ XIII trở đi, Nho giáo
dần dần lấn át Phật giáo và trở thành quốc giáo. Nó được phát triển trong sự ảnh hưởng của tư tưởng truyền
thống Việt Nam và Phật giáo. Tư tưởng của Nho giáo có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực:
+ Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Nho
giáo đã có công trong việc đào tạo tầng lớp nho sỹ Việt Nam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như:
Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm Nho giáo hướng nhân dân vào con đường ham tu
dưỡng đạo đức theo nhân - nghĩa - lễ - trí - tín, ham học hỏi để phò vua giúp nước. Ảnh hưởng chính của Nho
giáo là thiết lập được kỷ cương và trật tự của xã hội phong kiến Việt Nam.
+ Mặt tiêu cực: Nho giáo góp phần không nhỏ vào việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến, kìm hãm
quan hệ kinh tế tư bản phát triển ở nước ta. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tập thể đã biến thành
chủ nghĩa gia trưởng chuyên quyền độc đoán. Nho giáo không khuyến khích thúc đẩy sự phát triển của các
ngành khoa học tự nhiên Những mặt tiêu cực đó phản ánh tính chất bảo thủ và lạc hậu của nho giáo ở
nước ta.
Câu 6: Tư tưởng cơ bản trường phái pháp gia
Pháp gia: Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ,
hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố chế độ
chuyên chế thời Chiến quốc. Tư tưởng Pháp gia mặc dù chỉ nổi lên trong một thời gian ngắn nhưng vẫn có
giá trị lịch sử lâu dài và có ý nghĩa đến tận ngày nay.
Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ
công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời. Đại diện của phái Pháp
gia là Hàn Phi Tử (280 - 233 tr. CN). Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học
cơ bản sau:
+ "Thế" là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể.
+ "Thuật" cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà
tránh thực.
Người sáng lập phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (khoảng 280- 233 tr.CN).
Phái Pháp gia chú trọng vào những tư tưởng chính trị - xã hội và đề cao phép trị quốc bằng luật pháp. Pháp trị
của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau đây:
- Thừa nhận tính khách quan và uy lực của những lực lượng khách quan mà ông gọi là “lý”. Đó là cái chi
phối quyết định mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội.
- Thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, cho rằng không thể có chế độ nào là không thay đổi. Do đó
không thể có khuôn mẫu chung cho xã hội. Ông đã phân tích sự tiến triển của xã hội làm ba giai đoạn chính:
thời thượng cổ, thời trung cổ, và thời cận cổ. Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay
đổi của dân số và của cải xã hôi.
- Chủ thuyết về tính người: ông cho rằng bản tính con người vốn là “ác”, tức là tính cá nhân vụ lợi, luôn
có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi…
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh
sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp. Ông phản đối phép nhân trị, đức trị của Nho gia và phép “vô vi
trị”của Đạo gia. Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm ba yếu tố tổng hợp: Pháp, Thế và Thuật.
Câu 7 : Phân tích mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn
I. THỰC TIỄN
1. Khái niệm
Hoạt động con người chia làm hai lĩnh vực cơ bản. Một trong hai lĩnh vực quan trọng đó là:
hoạt động thực tiễn.
Thực tiễn: (theo quan điểm triết học Mác xít):
Là những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải
tạo, làm biến đổi tự nhiên và xã hội.
2. Tính vật chất trong hoạt động thực tiễn
Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, phải sử dụng những phương tiện vật chất đề tác động tới
đối tượng vật chất nhất định của tự nhiên hay xã hội, làm biến đổi nó, tạo ra sản phẩm vật chất nhằm thoả
mãn nhu cầu của con người.
Chỉ có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế giới hiện thực, mới thực sự mang tính chất phê phán
thức.
1. Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng. Trong quá trình hoạt
động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình
thành. Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển thế giới quan( tạo điều
kiện cho nhận thức cao hơn).
Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giác quan ngày càng
hoàn thiện hơn. Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức. Chính hoạt động
thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm
hiểu tự nhiên.
1. Thực tiễn là động lực của nhận thức
Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Mỗi bước phát triển của thực tiễn
lại luôn luôn đặt ra những vấn đề mới cho nhận thức, thúc đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như vậy thực
tiễn trang bị những phương tiện mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức. Thực
tiễn lắp đi lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều vẻ, con người mới phân biệt được
đâu là mối quan hệ ngẫu nhiên bề ngoài, đâu là mối liên hệ bản chất, những quy luật vận động và phát triển
của sự vật.
2. Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Những tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn. Mục đích cuối cùng
của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những
nhu cầu vật chất và tinh thần xã hội. Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do
yêu cầu của thực tiễn.
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp cho
hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể
hiện được sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa.
3. Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát
triển và ngược lại.
4. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức nói chung và công tác lý luận nói
riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ
nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Lý luận
a. Khái niệm
Là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn. Nó phản ánh những quy luật, của từng
lĩnh vực trong hiện thực khách quan.
b. Đặc điểm
Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của xã hội nên bất kỳ một lý luận
nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng.
Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học.
2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa lý luận và thực tiễn thống nhất
biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm
mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người.
a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn. Thực tiễn là hoạt động
cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Lý luận không có mục đích tự nó mà
mục đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn,
phục vụ cho yêu cầu của thực tiến.
b. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản. Sự thành công
hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay
Page 19 of 29
không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời
lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quy luật
vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp
đúng đắn cho hoạt động thực tiễn.
thực khách quan làm cơ sở cho hoạt động của mình. Gắn lý luận vào thực tiễn để hoạt động trở nên khoa
học, có cơ sở vững chắc. Tinh thần ấy chính là vấn đề cần nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
VI.
e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-
Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần
Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động
cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý luận luôn luôn cần
được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động.
* Con đường biện chứng của sự nhận thức:
Nhận thức của con người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừng vận động, phát triển. Sự vận
động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện chứng:
- “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn - đó là con
đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.
+Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhận thức, được hình
thành trong quá trình thực tiễn.Giai đoạn này được hình thành thông qua các hình thức cơ bản nối tiếp
nhau: cảm giác, tri giác, biểu tượng
Page 20 of 29
+Tư duy trì tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức dựa trên cơ sở
những tài liệu do giai đoạn trực quan sinh động mang lại.
- Nhận thức của con người phát triển đến giai đoạn tư duy trìu tượng chưa phải là chấm dứt, mà nó
lại tiếp tục vận động trở về với thực tiễn. Nhận thức phải trở về với thực tiễn vì:
+ Mục đích của nhận thức là phục vụ hoạt động thực tiễn. Vì vậy nó phải trở về chỉ đạo hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới.
+ Đến giai đoạn tư duy trìu tượng vẫn có khả năng phản ánh sai lạc hiện thực. Vì vậy, nhận thức
phải quay trở về thực tiễn để kiểm tra kết quả nhận thức, phân biệt đâu là nhận thức đúng, đâu là nhận thức
sai lầm.
+ Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển. Vì vậy nhận thức phải trở về với thực tiễn để trên cơ sở
thực tiễn mới tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức.
được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự
nhiên hay dùng sắc lệnh để xóa bỏ những giai đoạn đó” [3]. Tất nhiên trong thực tiễn vẫn thường xuất hiện
những hành động cách mạng mà không dựa
trên cơ sở khoa học mà chúng ta thường giải thích là do nhiệt tình cách mạng thái quá. Điều đáng quan tâm
theo chúng tôi là trong hoạt động thực tiễn vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta thường có khuynh
hướng tách rời giữa tính cách mạng với tính khoa học và nguy hại hơn là khuynh hướng đề cao tính cách
mạng mà coi nhẹ tính khoa học. Thực tiễn quá trình cách mạng ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước xã hội
Page 21 of 29
chủ nghĩa trước đây cho thấy, những người cách mạng thường hay phạm phải sai lầm tả khuynh hơn là hữu
khuynh, là một minh chứng cho điều đó.
Những sai lầm của cách mạng, cả tả khuynh và hữu khuynh đều bắt nguồn từ rất nhiều nguyên
nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là do chúng ta chưa thật sự coi trọng tính khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lênin trong hoạt động thực tiễn. Đó cũng là biểu hiện sự tách rời trong thực tiễn giữa tính cách
mạng với tính khoa học. Điều đã rõ ràng là, bản chất khoa học và cách mạng là cội nguồn sức sống của chủ
nghĩa Mác - Lênin, sự thống nhất biện chứng giữa tính khoa học với tính cách mạng trong hoạt động thực
tiễn là cội nguồn thắng lợi của các cuộc đấu tranh cách mạng, các hoạt động cải biến cách mạng.
Câu 9: Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
* QHSX:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã
hội).
Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: Các quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức và
quản lý sản xuất, các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
Quan hệ sản xuất phản ánh quan hệ giữa người với người, nó được hình thành khách quan trong quá
trình sản xuất, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chất, thuộc đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình
thái xã hội của sản xuất. Ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống mang tính
tương đối ổn định so với sự vận động. phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất.
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ
bản đặc trưng cho phương thức sản xuất. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ tổ chức
công cụ sản xuất kết hợp với nhau thành lực lượng sản xuất. Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất người
Page 22 of 29
lao động giữ vị trí quyết định nhất.
Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất. Với sức mạnh và kỹ năng lao động của
mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất
ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động, sức mạnh và kỹ năng của con người ngày càng được tăng
lên, đặc biệt là trí tuệ con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao.
Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Công
cụ lao động, là “sức mạnh tri thức đã được vật thể hoá”, có tác dụng “nối dài bàn tay” và “nhân” sức mạnh của
con người trong quá trình lao động sản xuất. Trong mọi thời đại, công cụ sản xuất luôn là yếu tố động nhất
của lực lượng sản xuất. Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, con người luôn phát minh và sáng chế kỹ
thuật, công cụ sản xuất luôn được cải tiến và hoàn thiện. Chính sự biến đổi thường xuyên của công cụ sản
xuất đã làm thay đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Suy đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã
hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu
chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. Trình độ của lực lượng sản xuất luôn có sự tương ứng giữa
người lao động và công cụ lao động:
• Nếu công cụ sản xuất thô sơ thì nó phù hợp với trình độ sử dụng của một người lao động. Khi đó nó
phản ánh trình độ thủ công của lực lượng sản xuất.
• Nếu công cụ sản xuất bằng máy móc hiện đại nó phù hợp với trình độ của tập thể người lao động. Khi đó,
nó phản ánh trình độ cơ khí hiện đại của lực lượng sản xuất.
Việc chuyển trình độ của lực lượng sản xuất từ thủ công lên cơ khí hiện đại là bước tiến vĩ đại của lực
lượng sản xuất trong quá trình chinh phục tự nhiên của con người. Nó chỉ rõ sự tương ứng giữa trình độ mọi
mặt của người lao động luôn tương ứng với trình độ của công cụ sản xuất.
Trải qua các cuộc cách mạng khoa học, cùng với sự tiến triển của sản xuất, khoa học ngày càng có vai
trò quan trọng trong sản xuất. Khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến
đổi to lớn trong sản xuất và trong đời sống, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách thức mà khoa học
xâm nhập và thể hiện trong thực tiễn khác nhiều so với vài thập kỷ trước đây, làm cho lực lượng sản xuất có
bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.
Khoa học và công nghệ hiện đại chính là đặc điểm thời đại của sản xuất, nó hoàn toàn có thể được coi
là cái đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại.
dung kinh tế kỹ thuật, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất. Nội dung bao giờ cũng
quyết định hình thức. Do vậy, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Điều này có thể thấy rõ: trong quá trình sản xuất con người luôn có xu hướng muốn tăng năng suất
lao động nhưng lại giảm nhẹ sức lao động, từ đó họ tìm cách cải tạo công cụ sản xuất hiện có, chế tạo công
cụ sản xuất mới, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất… Điều đó làm cho lực lượng sản xuất thường xuyên
thay đổi, nó có tính cách mạng…
Khi lực lượng sản xuất thường xuyên biến đổi, tới một giai đoạn nào đó, lực lượng sản xuất chuyển
sang trình độ mới, với tính chất xã hội hóa ở mức cao hơn. Khi đó quan hệ sản xuất lại tương đối ổn định.
Lúc đó, quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt và đến một lúc nào đó quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng
sản xuất”.
Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc bằng cách này hay cách khác
xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thay quan hệ sản
xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là làm cho phương thức sản xuất cũ bị mất đi
phương thức sản xuất mới cao hơn ra đời, phát triển.
2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất
Mặc dù lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất nhưng quan hệ sản xuất có tính độc lập tương
đối, tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, do đó trong quá trình sản
xuất xã hội nó qui định tới:
• Mục đích nền sản xuất xã hội.
• Qui định tới khuynh hướng phát triển các nhu cầu về lợi ích vật chất.
• Qui định hệ thống tính chất quản lý sản xuất, quản lý xã hội.
• Qui định phương thức sản xuất của cải nhiều hay ít.
• Qui định khuynh hướng phát triển các công nghệ.
* Qua sự tác động đó quan hệ sản xuất tác động tới:
• Thái độ tích cực hay không tích cực của người lao động.
• Ảnh hưởng tới việc cải tiến, chế tạo công cụ sản xuất.
• Việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Sự tác động đó kìm hãm hay thúc đẩy lực
ngoài hành tinh với con người ở trên trái đất, y học đã tạo ra được con người trong ống nghiệm và thực tế đã
thành công như trước kia chúa tạo ra con người bằng cách đó… Trên thực tế, con người hiện đại có cấu trúc
cơ thể không khác gì con người cách đây 50 vạn năm. Nhưng về mặt xã hội thì con người hiện đại có bước
tiến xa hơn về năng lực, sự sáng tạo, lối sống.
Thứ hai, là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khác như nhu cầu về
sinh lý và
cũng có các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải uống, sinh hoạt tình dục…
Nhưng giải quyết những
nhu cầu đó ở con người có bước tiến xa hơn so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏi
động vật. Chính quá trình sinh thành, phát triển và mất đi của con người qui định bản tính sinh học trong đời
sống con người. Như vậy, con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính sinh vật.
Thứ ba, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất trong con người, mặt tự nhiên là “nền” cho con
người, mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lên trên động vật.
Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích. Mác không thừa nhận quan
điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh vật. Con người là
một sinh vật
nhưng có nhiều điểm khác với sinh vật. Vậy con người khác con vật ở chỗ nào?
Trong lịch sử đã có nhiều
nhà tư tưởng lớn đưa ra tiêu chí về sự khác nhau giữa con người và con vật có sức thuyết phục như:
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn vấn đề bản chất con người một cách toàn
diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chung chung trừu tượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác.
Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phân biệt với động vật là con người
có hoạt động lao động sản xuất vật chất. Qua quá trình lao động sản xuất: con người sản xuất ra của cải vật
chất phục vụ cho cuộc sống cho mình và cho đồng loại. Sản xuất ra các giá trị tinh thần làm phong phú thêm
đời sống của mình. Lao động là yếu tố hình thành bản chất xã hội của con người, hình thành nhân cách ở con
người.
Thứ tư, là sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội nên ở con người luôn chịu sự chi phối của ba hệ
thống qui luật:
• Hệ thống qui luật tự nhiên: qui định sự phù hợp của cơ thể sống với môi trường, qui luật trao đổi chất,
qui luật biến dị, di truyền.