Ôn thi triết học sau đại học có đáp án - Pdf 22

1. Trình bày niên đại, nguồn gốc, kết cấu, nội dung và ý nghóa của kinh Upanishad.
2. Trình bày nội dung tư tưởng triết lý nhân sinh của Phật giáo Ấn Độ nguyên thủy (qua học thuyết
nhân quả, Tứ diệu đế, Thập nhò nhân duyên, Bát chính đạo).
a. Điều kiện ra đời
Triết học Phật giáo là một trường phái triết học – tôn giáo điển hình thuộc phái không chính
thống và có ảnh hưởng rộng rãi, lâu dài trên phạm vi thế giới.
Phật giáo được hình thành vào khoảng thế kỷ VI tr.CN. Người sáng lập là Siddharta (Tất Đạt Đa).
Sau này ông được tôn xưng với nhiều danh hiệu khác nhau, nhưng phổ biến nhất là Sakyamuni (Thích Ca
Mâu Ni), còn có hiệu là Buddha (Phật).
Cội nguồn của tư tưởng giải thoát trong triết học – tôn giáo Ấn Độ trước hết là do điều kiện tự
nhiên và kinh tế – xã hội Ấn Độ cổ đại quy đònh. Thứ hai, về lôgíc nội tại của nó, các nhà tư tưởng Ấn
Độ ít chú trọng ngoại giới, coi trọng tư duy hướng nội, đi sâu khái quát đời sống tâm linh con người.
b. Nội dung tư tưởng
Tư tưởng triết học Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật và biện chứng chất
phác, thể hiện rõ nét nhất ở quan niệm về tính tự thân sinh thành, biến đổi của vạn vật, tuân theo tính tất
đònh và phổ biến của luật nhân quả: nhân nào quả ấy, nhân trước quả sau. Phủ nhận sự sáng tạo thế giới
bởi Brahman, cũng như phủ nhận “cái tôi” (atman), và đưa ra quan niệm “vô ngã” (anatman) và “vô
thường”.
Phạm trù “vô ngã” bao hàm tư tưởng cho rằng, vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ
nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại). Ngay bản thân sự tồn tại của con người chăûng qua cũng là do
“ngũ uẩn” (năm yếu tố) hội hợp lại: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và
thức (ý thức). Do vậy không có cái gọi là “tôi” (vô ngã)
Phạm trù “vô thường” gắn liền với phạm trù “vô ngã”. “Vô thường” nghóa là vạn vật biến đổi vô
cùng theo chu kỳ bất tận: sinh – trụ – dò - diệt. Vậy thì “có có” – “không không” luân hồi bất tận;
“thoáng có”, “thoáng không”, cái còn mà chẳng còn, cái mất mà chẳng mất.
Phật giáo đặc biệt chú trọng triết lý về nhân sinh. Cũng như nhiều trường phái triết học – tôn giáo
khác của Ấn Độ cổ đại, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm sự “giải thoát” (Moksa), con người sẽ đạt tới sự
giác ngộ, nhận ra chân bản của mình, thực tướng của vạn vật, xóa bỏ vô minh, diệt mọi dục vọng, vượt ra
khỏi vòng “luân hồi” (Samsara), “nghiệp báo” (Karma) để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana).
Nội dung triết học nhân sinh của Phật giáo tập trung ở bốn luận đề (Tứ diệu đế).
Luận đề thứ nhất, khổ đế, cho rằng sự thật nơi cuộc sống nhân sinh không có gì khác ngoài sự đau

và các trường phái triết học khá hoàn chỉnh (bách gia tranh minh, bách hoa tranh khai). Theo sách Hán
thư có tất cả 103 học phái, trong đó có 6 phái chủ yếu là Nho, Mặc Đạo, Danh, Pháp và Âm Dương.
Điều kiện trên quy đònh nội dung, tính chất của triết học Trung Hoa cổ đại là hầu hết các học
thuyết đều có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trò – đạo đức của xã hội với nội
dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trò nước.
* Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI tr.CN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử
(551 tr.CN – 479 tr.CN). Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và
phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy tâm và duy vật, trong đó dòng Nho gia Khổng – Mạnh có
ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lòch sử Trung Hoa và một số nước lân cận.
Hệ thống kinh điển của Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về
chính trò – đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Quan điểm về xã hội, về chính trò – đạo đức
của Nho gia do Khổng Tử đề xướng thể hiện rõ nét nhất trong học thuyết “chính danh”.
b. Tư tưởng học thuyết
* Vì sao Khổng Tử chủ trương “chính danh”?
+ Xuất phát từ thực tiễn lòch sử xã hội Trung Quốc thời bấy giờ: chiến tranh loạn lạc, trật tự lễ
nghóa xáo trộn, đạo đức băng hoại (Quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử) – “thượng bất
chính, hạ tắc loạn”
+ Khôi phục lại nền nếp đạo đức, kỷ cương trật tự xã hội; minh đònh “danh” và “thực”: “danh”
phải phù hợp với “thực”, và “thực” phải là chuẩn mực để đònh “danh”, không thể có tình trạng “hữu
danh vô thực”
* Nội dung:
+ Mỗi người và vật sinh ra đều có công dụng nhất đònh – đó chính là “thực” và tương ứng với nó
có một tên gọi nhất đònh (“danh”). Nếu “danh” hợp với “thực” thì gọi là “chính danh”; “danh” không
hợp với “thực” thì là không chính danh, loạn danh.
2
“Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng.”
“Chính danh là quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử.”
“Danh chính ngôn thuận.” -> Danh không chính, ngôn không thuận dẫn tới việc thi hành sai cho
nên nhà cầm quyền xưng danh phải đúng với phận, với nghóa.
* Biểu hiện: Nho gia coi những quan hệ chính trò – đạo đức là những nền tảng của xã hội, trong đó quan

5. Trình bày khái quát nội dung tư tưởng pháp trò của Pháp gia, từ đó đánh giá và rút ra bài học lòch
sử của nó đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay.
a. Điều kiện ra đời
- Bối cảnh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc
- Pháp gia và Nho gia có quan hệ chặt chẽ: trong nội dung tư tưởng của Pháp gia cũng đã có chòu ảnh
hưởng Nho gia; các nhân vật trong Pháp gia có thể nói đều là các nhà Nho học.
b. Nội dung tư tưởng
* Tiền đề tư tưởng (Vì sao?)
3
- Dựa trên cơ sở triết học “đạo đức” (Lão Tử). Các nhà tư tưởng Pháp gia cho rằng mỗi một sự vật
hiện tượng đều có “đạo lý” riêng của nó; trong đó “đạo” là qui luật phổ biến, là cái chung và không biến
đổi, còn “lý” là những biểu hiện khác nhau trong mỗi sự vật cụ thể, mỗi giai đoạn cụ thể, là cái riêng và
luôn biến đổi.
- Xuất phát từ việc phân tích điều kiện lòch sử xã hội Trung Hoa, các nhà tư tưởng Pháp gia đã chỉ
ra nguyên nhân của sự biến đổi xã hội nằm ở sự thay đổi đân số và của cải.
+ Thời thượng cổ: sản vật có sẵn, người ít – chỉ việc hái lượm -> không cần pháp luật. Thời Chiến
Quốc: dân đông, của cải tinh xảo lại ít đi – dẫn tới cướp giật, tranh đoạt, chiến tranh -> cần có chế độ
thưởng phạt nghiêm minh.
+ Hàn Phi Tử cho rằng phép trò nước của con người cũng phải luôn thay đổi cho phù hợp với điều
kiện lòch sử xã hội của một quốc gia nhất đònh (“biến pháp”). “Thời biến thì pháp phải biến. Thời biến
mà pháp không biến thì loạn.”
Kẻ thống trò phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lòch sử, đặc điểm của thời thế mà lập ra chế
độ, phương pháp trò nước thích hợp. Không có thứ pháp luật luôn đúng. Đó là thứ xiềng xích trói buộc
không khác gì “người Tống ôm cây đợi thỏ.”
Cụ thể: thời Xuân Thu – Chiến Quốc khác xa thời Nghiêu Thuấn nên không thể chủ trương “Đức
trò” mà phải là “Pháp trò”.
- Dựa trên việc nghiên cứu kỹ tâm lý con người.
+ Bản chất ích kỷ, tư lợi, “ham lợi thì tìm nó, sợ hãi thì tránh nó”.
+ Mọi mối quan hệ trong xã hội đều dựa trên cơ sở cân nhắc lợi hại -> kẻ thống trò phải nắm được
tâm lý ý muốn của người dân, thưởng phạt nghiêm minh thì không ai không theo.

+ Dùng hình pháp là tiêu chuẩn để duy trì trật tự xã hội, điều chỉnh hành vi đạo đức của con người
thay cho … -> đây là bước tiến lòch sử
+ Về mặt tư tưởng: là tiếng nói đại diện cho giai cấp quý tộc mới chống lại tàn dư của chế độ xã
hội cũ, chống lại những tư tưởng bảo thủ -> là công cụ để nhà Tần thống nhất đất nước Trung Hoa phân
liệt, xay dựng nhà nước TW tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc.
- Hạn chế:
+ Nặng về hình, nhẹ về đức; chỉ dùng luật lệ áp đặt mà không chú ý giáo hóa cho con người (Sử
gia Tư Mã Thiên đã bình: người dân vì sợ mà tuân theo chứ không phải thực tâm, không phải bản thân họ
nhận thức được cái lợi ấy; Thương Ưởng đã chết vì chính Tân pháp của mình)
+ Sử dụng pháp luật bạo tàn, làm công cụ thống trò đại đa số nhân dân lao động Trung Quốc ->
thiên hạ không chòu nổi sự hà khắc bạo ngược của nhà Tần nên đã nổi dậy khắp nơi, nhà Tần chỉ truyền
được ngôi đến Tần Nhò Thế và diệt vong.
+ VN chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thò trường -> vai trò nhà nước quan trọng,
phải có luật pháp, hành lang pháp lý (luật ống!)
+ Đảm bảo các thành phần kinh tế vẫn tồn tại trong nước
* Bài học lòch sử (xây dựng nhà nước pháp quyền?)
- Xây dựng tinh thần tôn trọng pháp luật; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
- Pháp luật cần được bổ sung, hoàn chỉnh; nếu không nó sẽ trở thành xiềng xích trói buộc con người. (lý
luận phải phù hợp với thực tiễn)
- Phải có chiến lược đúng đào tạo và sử dụng người tài trong bộ máy nhà nước.
6. Trình bày các hình thái cơ bản của chủ nghóa duy vật trong lòch sử triết học.
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản trong triết học đã chia các nhà triết học thành hai
trường phái lớn. Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết đònh ý thức của
con người được gọi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của CNDV.
Ngược lại, những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm; họ
hợp thành các môn phái khác nhau của CNDT.
Là một trong hai trường phái cơ bản của triết học - trường phái duy vật và trường phái duy tâm,
CNDV đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại, khi triết học mới bắt đầu hình thành. Từ đó đến nay, lòch sử phát
triển của CNDV luôn gắn liền với lòch sử phát triển của khoa học và thực tiễn. Nó đã trải qua nhiều hình
thức khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở chỗ coi vật chất là cái có trước và quyết đònh ý thức,

thức và ít chú ý đến mối liên hệ giữa các bộ phận ấy. Những nhà duy vật máy móc xem xét giới tự nhiên
và con người như một hệ thống máy móc phức tạp khác nhau. CNDV này còn là siêu hình vì họ chỉ
nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong trạng thái biệt lập, không vận động và không phát triển. Tiêu biểu cho
thế giới quan duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII là thế giới quan của Bêcơn, Lốccơ, Spinôda,
Đêcáctơ, … Nhìn chung, theo quan niệm của các nhà duy vật siêu hình thì thế giới là vô số những sự vật
cụ thể tồn tại cạnh nhau trong một không gian trống rỗng, vó đại.
Thế giới quan duy vật siêu hình thời cận đại tuy góp phần chống thế giới quan duy tâm, giúp con
người đạt được một số hiệu quả trong việc nhận thức từng lónh vực hẹp, song vì phát triển tư tưởng về vật
chất của các nhà duy vật thời cổ đại và phương pháp nhận thức là siêu hình nên ngoài những hạn chế mà
các nhà duy vật thời cổ đại đã mắc phải, các nhà duy vật thời này còn mang nặng tư duy máy móc,
không hiểu thế giới là một quá trình với tính cách là lòch sử phát triển của vật chất trong mối liên hệ đa
dạng, phức tạp và trong trạng thái vận động không ngừng, vónh viễn.
* Quá trình khắc phục các thiếu sót máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã
hội của CNDV thế kỷ XVII – XVIII cũng đồng thời là quá trình ra đời của hình thái lòch sử thứ ba của
CNDV – đó là CNDV biện chứng. Thế giới quan duy vật biện chứng được C. Mác và Ph. ngghen xây
dựng vào giữa thế kỷ XIX, V.I. Lênin và những người kế tục ông phát triển.
Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng là kết quả kế thừa tinh hoa các quan điểm về thế
giới trước đó, trực tiếp là những quan điểm duy vật của Phoiơbắc và phép biện chứng của Hêghen; là kết
quả sử dụng tối ưu những thành tựu khoa học chuyên ngành cụ thể, trước hết là thành tựu của Vật lý học
và Sinh học.
6
Nội dung, bản chất của CNDVBC đem lại cho con người không chỉ một bức tranh trung thực về
thế giới mà còn đem lại cho con người một đònh hướng, một phương pháp tư duy khoa học để con người
tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới. CNDVBC duy vật về mặt xã hội, nó lý giải cơ sở tồn tại của xã hội
là từ kinh tế chứ không phải từ yếu tố tinh thần. Nó đánh giá đúng vai trò của quần chúng nhân đân trong
lòch sử; thấy rõ mối quan hệ giữa và lãnh tụ. CNDVBC là hình thức cao nhất của CNDV song nó luon
luôn mang tính sáng tạo chứ không khép kín.
7. Trình bày khái quát và đánh giá các hình thức cơ bản của phép biện chứng trong lòch sử triết học.
Cũng như CNDV và CNDT, các phương pháp biện chứng và siêu hình đã xuất hiện ngay từ thời
cổ đại, khi con người bắt đầu tìm hiểu các sự vật của thế giới xung quanh mình và suy xét về chúng. Từ

chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi.
Chính tính chất duy tâm ấy trong quan điểm biện chứng của Hêghen nói riêng, của triết học cổ
điển Đức nói chung là cái cần lọc bỏ. C. Mác và Ph. ngghen đã thực hiện sự lọc bỏ ấy bằng cách chứng
minh rằng, những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua chỉ là sự phản ánh của các sự vật hiện
thực khách quan, do đó, bản thân biện chứng của ý niệm cũng chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của
7
sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách quan. Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các
nhà triết học tiền bối, mà trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của
Phoiơbắc, dựa trên việc khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời cũng như thực tiễn
lòch sử loài người, vào giữa thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. ngghen đã cải tạo phép biện chứng ấy từ chỗ là
duy tâm thành duy vật và sáng tạo ra phép biện chứng duy vật – giai đoạn phát triển cao nhất của phép
biện chứng, và về sau được Lênin phát triển.
Mác và Ph. ngghen đã khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời
cổ đại cũng như những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại, làm cho phép
BCDV trở thành một khoa học.
Ph. ngghen đã đòi hỏi tư duy khoa học phải phân đònh rõ ràng, đồng thời phải thấy sự thống nhất
về cơ bản giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan. Khi đề cập tới hai phạm trù này,
ngghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ
quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên …”
Phép BCDV được tạo thành từ một loạt những phạm trù, những nguyên lý và những quy luật được
khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực. Cho nên, nó có khả năng phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận
động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. bất kỳ cấp độ nào phát triển nào của nó, nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển vẫn được xem là những nguyên lý có ý nghóa khái quát nhất.
Bởi vậy, Ph. ngghen đã đònh nghóa: “phép biện chứng … là môn khoa học về những quy luật phổ biến
của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và của tư duy”.
* Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện
chứng; giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách
mạng trong tư duy triết học.
Khái quát ý nghóa PPL được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, tức là
phương pháp biện chứng trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn, ngghen viết: “Phép biện chứng là

b. Sáng tạo ra CNDV lòch sử
Một đặc điểm có ý nghóa to lớn của cuộc cách mạng trong triết học là mở rộng CNDV sang lónh
vực lòch sử xã hội loài người, hình thành nên CNDV lòch sử. Lênin đánh giá rằng: “CNDV lòch sử của
Mác là thành tựu vó đại nhất của tư tưởng khoa học. Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ
đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện vẫn ngự trò từ trước đến nay trong các quan niệm về lòch sử và chính
trò…”
CNDV lòch sử của triết học Mác đã chỉ ra quy luật vận động của lòch sử xã hội loài người, chỉ ra
sự thay thế của các hình thái KT-XH là một quá trình lòch sử - tự nhiên. Trong các quy luật của lòch sử xã
hội, quy luật biện chứng giữa LLSX và QHSX có vai trò quyết đònh. Các quan hệ về kinh tế quyết đònh
các quan hệ về KTTT. Triết học lòch sử cũng phát hiện ra vai trò sứ mệnh lòch sử của giai cấp công nhân
là người “đào huyệt chôn CNTB”, thực hiện cuộc cách mạng XHCN, hướng đến mục tiêu giải phóng con
người.
Với bản chất duy vật triệt để trong lónh vực xã hội, triết học Mác đã trở thành công cụ vó đại để
nhận thức và cải tạo thế giới; tạo ra bước phát triển mới về chất, một sự nhảy vọt so với các hệ thống
triết học khác trong lòch sử.
c. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
- Triết học Mác không chỉ là lý luận khoa học phản ánh bản chất, quy luật của sự vận động và
phát triển của thế giới mà quan trọng hơn, đó là học thuyết nhằm mục đích cải tạo thế giới. Vì vậy sự
thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác.
- Trong lòch sử, các hệ thống triết học trước Mác đều chưa thấy vai trò thực tiễn là cơ sở, động lực,
mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý; chưa nhận thức được hết ý nghóa thực tiễn cao nhất
của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóng con người.
- Chỉ khi triết học Mác ra đời, vai trò thực tiễn và sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mới
được xem là nguyên tắc căn bản, chi phối mọi hoạt động. Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con
người có thể đạt tới chân lý khách quan không hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn
đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý, nghóa là chứng minh tính hiện
thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình. Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện
thực của tư duy tách rời thực tiễn là một vấn đề kinh viện thuần túy.”
9
d. Thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng

động, phát triển thì cũng chỉ thay đổi về lượng chứ không thay đổi về chất. Đây là phương pháp xem xét
có tính một chiều, tuyệt đối hóa mặt này hay mặt kia; phủ nhận các khâu trung gian, chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật. nghen khẳng đònh phương pháp siêu hình “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt
mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy; chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy
mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy; chỉ nhìn thấy trạng thái tónh của
những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy; chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng.”
Thuật ngữ biện chứng trong triết học Mác được dùng đối lập với thuật ngữ siêu hình. Phương pháp
này không chỉ thấy những sự vật riêng biệt mà còn thấy mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng; không chỉ
thấy sự tồn tại của những sự vật mà còn thấy cả sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy; không
chỉ thấy trạng thái tónh mà còn thấy trạng thái động của sự vật. Đó là lý luận đồng thời là phương pháp
10
“xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong
sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”. (nghen)
* Trong lòch sử phát triển của phép biện chứng có 3 hình thức cơ bản: … phép BCDV là hình thức
phát triển cao nhất, khác về chất so với các phép biện chứng khác …
- Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển; về những quy
luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện
chứng; giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách
mạng trong tư duy triết học.
…………………………………………………… (câu 7)
B. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật: [ĐỌC THÊM]
Bao gồm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Đây là các nguyên lý có ý
nghóa khái quát nhất. Các phạm trù, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự cụ thể hóa
các nguyên lý trên.
a) Nguyên lí về mối liên hệ
Thế giới được tạo thành từ những sự vật hiện tượng khác nhau. Vậy giữa chúng có mối quan hệ qua
lại với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng tồn tại trong sự
liên hệ qua lại, thì nhân tố gì quy đònh sự liên hệ đó?
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật và hiện tượng tồn

hoàn toàn tách rời nhau, không có liên hệ với nhau. Giữa các bộ phận, các yếu tố đó có mối liên hệ,
trong đó mỗi bộ phận, mỗi yếu tố vừa đảm trách phần việc của mình vừa tạo điều kiện cho những bộ
phận khác. Do vậy, sự biến đổi của một bộ phận nào đó trong cấu trúc của sự vật sẽ gây ảnh hưởng đến
những bộ phận khác cũng như đối với toàn bộ chỉnh thể sự vật.
+ Nếu xét về mặt thời gian: mỗi một sự vật, hiện tượng nói riêng và cả thế giới nói chung trong quá
trình tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua những giai đoạn, những thời kỳ khác nhau, thể hiện rõ
nhất là các giai đoạn phát sinh - phát triển - suy tàn - chuyển hóa thành cái khác. Các giai đoạn, các thời
kỳ đó có mối liên hệ không tách rời nhau mà làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này lại là
điểm mở đầu cho giai đoạn tiếp sau. Như vậy giữa quá khứ, hiện tại và tương lai có mối liên hệ với nhau.
có sự chuẩn bò cho nhau.
Như vậy, xét trên mọi phương diện từ vó mô đến vi mô, từ hiện tại tới quá khứ và tương lai ở đâu
chúng ta cũng thấy sự hiện diện của các MQH, sự vật hiện tượng tồn tại trong các MQH đó vì vậy MLH
là có tính phổ biến.
- Mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được thể hiện rất phong phú, rất đa dạng, phức tạp
và tuỳ theo tính chất, phạm vi, vai trò của MLH đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật. Khi nghiên
cứu về hiện thực khách quan có thể phân chia chúng ra thành từng loại khác nhau tùy theo tính chất phức
tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ cao hay thấp, … Khái quát lại có những mối liên hệ
chính phổ biến sau đây:
+ Mối liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài. (Cuộc CMKH&CN hiện đại vừa tạo ra thời cơ, đồng thời
cả những thách thức to lớn đối với tất cả các nước chậm phát triển. Nước ta có tranh thủ được thời cơ hay
không trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta)
+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu.
+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp.
+ Mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên.
+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất.
+ Mối liên hệ chung và riêng.
Trong đó, những mối liên hệ bên trong, trực tiếp, bản chất, tất yếu là những mối liên hệ quan trọng
giữ vai trò quyết đònh đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật.
- Quan điểm DVBC về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại: các loại
liên hệ khác nhau có khả năng chuyển hóa lẫn nhau. Điều này hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi

các lónh vực của quá trình đổi mới, Đảng CSVN cũng đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính
trò về CNXH là khâu đột phá; trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lónh vực kinh tế lẫn chính
trò, Đảng ta cũng xem đổi mới KT là trọng tâm.
Khi đề cập tới vấn đề này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng CSVN đã khẳng đònh:
“Xét trên tổng thể Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trò trong việc hoạch
đònh đường lối đối nội và đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song,
Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới KT, khắc phục khủng
hoảng KT- XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn đònh chính trò, xây dựng và
củng cố niềm tin của ND, tạo điều kiện để đổi mới các mặt khác của đời sống XH”.
b) Nguyên lí về sự phát triển
Khi xem xét vấn đề phát triển cũng xuất hiện sự đối lập về thế giới quan và phương pháp luận. Quan
điểm biện chứng và quan điểm siêu hình về sự phát triển nảy sinh khi trả lời câu hỏi: Sự phát triển diễn
ra như thế nào, bằng cách nào?
Quan điểm siêu hình xem phát triển là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về lượng, không có sự thay
đổi về chất. Sự phát triển chỉ là thay đổi số lượng của từng loại đang có, không có sự nảy sinh những loại
mới với những quy đònh mới về chất, có thay đổi về chất chăng nữa thì đó cũng chỉ diễn ra theo một vòng
tròn khép kín hay là một quá trình tiến lên liên tục, không có những bước quanh co phức tạp.
* Khái niệm: Theo quan điểm DVBC, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình
vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Theo quan điểm đó, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động, Không phải mọi sự vận
động đều là phát triển mà chỉ có quá trình vận động nào làm nảy sinh những tính quy đònh mới cao hơn
13
về chất, qua đó làm tăng cường tính phức tạp của sự vật, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại của
sự vật cùng những chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn mới gọi là phát triển. (Phân biệt
vận động và phát triển)
Trong hiện thực khách quan, sự phát triển được thực hiện khác nhau tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ
thể của các dạng vật chất. Trong giới hữu cơ sự phát triển thể hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi
của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, khả năng tiến hóa của cơ thể, khả năng hoàn thiện quá trình
trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường. Đối với XH, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục giới
tự nhiên, cải tạo XH để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người; tạo ra ngày

động của các sự vật, hiện tượng.
* Ý nghóa phương pháp luận
- Tự nhiên, xã hội và tư duy con người nằm trong quá trình vận động và phát triển không ngừng. Bản
chất khách quan của quá trình đó đòi hỏi chúng ta, để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có
quan điểm vận động và phát triển. Điều đó có nghóa là, khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nó
trong trạng thái vận động và phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng.
14
Liên quan tới vấn đề này, Lênin viết: “Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển,
trong sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó”.
- Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn
đối lập với tư tưởng bảo thu,û trì trệ, đònh kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó trong hoàn cảnh lòch
sử phát triển nhât đònh sẽ dẫn chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.
Hơn nữa, quan điểm phát triển cũng đòi hỏi không chỉ thấy sự vật như là cái đang tồn tại mà cần
phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó, dự báo sự xuất hiện của nhân tố mới, cái
mới, chuẩn bò những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của cái mới.
- Sự phát triển của các sự vật và hiện tượng trong thực tế là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn.
Chúng ta phải nhận thức rõ tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển như là một hiện tượng phổ
biến. Cần có thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự chiến thắng tất yếu của cái mới, của tiến trình cách mạng
nói chung và sự tiến triển của từng lónh vực xã hội cũng như của cá nhân nói riêng. Vận dụng quan điểm
phát triển với tư cách là nguyên tắc PPL của hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo
quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải phát hiện ra mâu thuẫn và tổ chức để các mâu thuẫn đó
được giải quyết.
- Cần đấu tranh khắc phục và chống lại mọi biểu hiện của trì trệ, bảo thủ, không dám đổi mới để phát
triển; đồng thời phải chống thái độ nóng vội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn.
* Nghiên cứu về MLH phổ biến và sự phát triển đòi hỏi phải xây dựng và quán triệt quan điểm lòch
sử – cụ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. Cần lưu ý rằng mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại
trong không – thời gian nhất đònh và mang dấu ấn của không – thời gian đó.
+ Khi xem xét và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, chúng ta cần chú ý đến điều kiện hoàn cảnh
lòch sử cụ thể làm phát sinh vấn đề đó, tới bối cảnh hiện thực – cả khách quan lẫn chủ quan.
+ Đối với mỗi sự vật, hiện tượng, vấn đề khác nhau cần có những biện pháp, giải pháp khác nhau để

Mác đã đánh giá: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ CNDV từ trước đến nay – kể cả CNDV của
Phoiơbắc – là sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình
thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn.”
Mặc dù các nhà triết học trước Mác chưa đặt ra vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, nhưng vai
trò của thực nghiệm trong khoa học lần đầu tiên được đề cập và thực sự là một trong những tiền đề đặt
nền tảng cho quan niệm thực tiễn của triết học Mác.
- Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và KHTN nói riêng, cùng với hoạt động của
các ông trong phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, C. Mác và Ph. Anghen đã có công lớn trong
việc đưa thực tiễn vào nhận thức luận. Không những thế, cả lý luận và thực tiễn đều được nâng lên trình
độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng. Nhờ đó, lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở
thành vũ khí nhận thức và cải tạo thế giới. C. Mác và Ph. Anghen đã thực hiện một bước chuyển biến
cách mạng trong lý luận nói chung và trong nhận thức luận nói riêng.
Theo triết học Mác –Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lòch sử
– xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người. (đònh nghóa)
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thực tiễn là hoạt
động vật chất, là những hoạt động mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật
chất nhất đònh nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu mục đích của con người. Mỗi một hoạt động của con
người đều mang tính lòch sử cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong một giai đoạn lòch sử nhất đònh nào đó và chòu sự
chi phối của giai đoạn đó cả về đối tượng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động. Hoạt động thực tiễn
của con người mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người nhưng lại không thể tách rời các
quan hệ xã hội. Do vậy nó mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng, vì cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý thức. Mục đích của hoạt
động thực tiễn là nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội. Không có
hoạt động nào là không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũng
diễn ra phù hợp với mục đích của con người.
- (Hình thức) Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng song có thể chia ra 3 hình thức cơ bản là:
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trò – xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học. Các hình thức
hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng chúng thống nhất, có chung chủ thể hoạt động,
có cùng mục đích; chúng hỗ trợ, ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động
thực tiễn mang tính tương đối. Hoạt động SXVC không thể không hoạt động trong cộng đồng xã hội,

- Thực tiễn là mục đích của lý luận. Tự thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng
nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ
biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận. Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý
luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trò phương pháp của lý luận đối với
hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì thế mà C. Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con
người có thể đạt đến chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề
thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân
lý của lý luận nhưng chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến
chân lý.
- Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn tới sự hình thành lý luận. Đó không
chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lòch sử nhận thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn. Con người nhận thức
hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề con người quan tâm. Năng lực của con người ngày
càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận.
Con người hình thành lý luận chủ yếu để làm phương pháp cho hoạt động của mình. Do đó, hệ thống lý
17
luận nào góp phần giải quyết đúng đắn, phù hợp mục đích của con người thì được con người quan tâm
khái quát. Vì lẽ đó, lý luận phải đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn.
ii. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực tiễn,
tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng đònh hướng mục tiêu, xác đònh
lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các
mối quan hệ của thực tiễn. Như vậy, lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ
sở để khắc phục những hạn chế và tăng cường năng lực hoạt động của con người trong cải tạo tự nhiên
và cải tạo xã hội. C. Mác đã cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí; lực lượng vật chất chỉ có thể bò đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ
trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.
Lý luận tuy là logic của thực tiễn song lý luận có thể lạc hậu so với thực tiễn vì lý luận, dù mang
tính khái quát cao song nó còn có tính lòch sử, cụ thể. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta
phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kòp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận,

chứng minh. Nhưng lý luận chỉ khái quát thực tiễn dưới hình thức khuynh hướng. Sự phát triển phong
phú, phức tạp của thực tiễn chính trò – xã hội đòi hỏi phải dựa vào khuynh hướng cơ bản của lý luận để
bổ sung, hoàn thiện lý luận về CNXH phù hợp với thực tiễn nước ta và xu hướng của thời đại.
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, coi trọng lý luận chính là vận dụng sáng tạo các tri thức khoa
học nhân loại đã đạt được vào điều kiện cụ thể của đất nước. Con đường phát triển ngắn nhất và bền
vững nhất hiện nay của các quốc gia chậm phát triển là tranh thủ thời cơ, ứng dụng các thành tựu khoa
học và công nghệ để phát triển đất nước. Việt Nam đang cố gắng nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng có
hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ thế giới để “đẩy mạnh CNH, HĐH, phấn đấu cơ bản trở
thành nước công nghiệp vào năm 2020”.
Lý luận cách mạng của chủ nghóa Mác – Lênin khi vận dụng vào thực tiễn phải quán triệt quan
điểm lòch sử, cụ thể; đồng thời chúng ta cần tiếp thu những thành tựu của tư duy nhân loại trong xây dựng
nền kinh tế thò trường, về xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ,
văn hóa, xã hội … để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
iii. Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là những biểu hiện khác nhau của sự vi phạm nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Bệnh kinh nghiệm là sự tuyệt đối hóa những kinh nghiệm thực tiễn trước đây và áp dụng một cách
máy móc vào hiện tại khi điều kiện đã thay đổi. Bệnh kinh nghiệm xuất phát từ tri thức kinh nghiệm
thông thường. Tri thức kinh nghiệm thông thường góp phần tạo nên những thành công không nhỏ trên các
lónh vực kinh tế, chính trò – xã hội, đặc biệt trong nền kinh tế truyền thống. Nước ta là một nước nông
nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ rất thấp – thực trạng của một nền kinh tế truyền thống
với phong cách tư duy, hoạt động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Cơ chế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp
thực hiện một thời gian dài ở nước ta là một trong những nguyên nhân triệt tiêu tính sáng tạo của người
lao động và tạo nên tâm lý ỷ lại, dựa dẫm, tuyệt đối hóa kinh nghiệm của thế hệ trước, của cấp trên –
biểu hiện của bệnh kinh nghiệm chủ nghóa.
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận; bổ
sung vận dụng lý luận phù hợp thực tiễn. Mặt khác, phải hoàn thiện cơ chế thò trường đònh hướng XHCN.
Kinh tế thò trường luôn vận động, biến đổi. Nó đòi hỏi mọi thành phần kinh tế, mọi chủ thể kinh tế phải
năng động sáng tạo. Trong thò trường không có chỗ cho bệnh kinh nghiệm tồn tại. Khi thò trường hóa toàn

13. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.
HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
Học thuyết hình thái - kinh tế xã hội là nội dung cơ bản của CNDV lòch sử và cũng là một trong
những nội dung cơ bản của toàn bộ chủ nghóa Mác. Học thuyết đó vạch rõ những quy luật cơ bản của vận
động xã hội, vạch ra phương pháp duy nhất khoa học để giải thích lòch sử.
Bằng sự kế thừa có chọn lọc tất cả những thành tựu về triết học xã hội của các bậc tiền bối, bằng
những công trình nghiên cứu tỉ mỉ về quá trình lòch sử loài người, nhất là lòch sử xã hội tư bản, Mác đã
xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội bao gồm những quan điểm cơ bản sau:
1. Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội.
2. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
3. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
4. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội.
5. Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lòch sử tự nhiên.
Tự nhiên, theo nghóa rộng, là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan. Với nghóa này thì con
người và xã hội loài người là một bộ phận, hơn nữa, là một bộ phận đặc thù của tự nhiên. Xã hội là hình
thái vận động cao nhất của vật chất. Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác
động lẫn nhau giữa người và người làm nền tảng. Mác viết: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất
hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào
một giai đoạn phát triển lòch sử nhất đònh, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt”.
Mác đã chỉ ra rằng quan hệ sản xuất, phù hợp với một trình độ phát triển nhất đònh của LLSX, là tiêu
chuẩn quan trọng nhất chỉ rõ tính chất các kiểu xã hội khác nhau. QHSX cũng là cái cơ bản quyết đònh
tất cả mọi quan hệ khác của xã hội. Bên cạnh đó, ông còn vạch ra mối quan hệ có tính chất cơ bản để
xác đònh diện mạo của các hình thái kinh tế - xã hội; đó là mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng.
* Căn cứ vào tư tưởng của các nhà kinh điển CN Mác – Lênin và thực tiễn lòch sử loài người, chúng
ta có thể xác đònh: Hình thái kinh tế – xã hội là một phạm trù của CNDV lòch sử, dùng để chỉ xã hội ở
từng giai đoạn lòch sử nhất đònh, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một
20
trình độ nhất đònh của LLSX và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan
hệ sản xuất ấy.

XH, còn QHSX là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội khác nhau. Các quan hệ sản
xuất hợp thành CSHT xã hội, KTTT được hình thành trên CSHT nhưng nó là công cụ để bảo vệ và duy
trì phát triển CSHT đã sinh ra nó.
Sự tác động qua lại giữa chúng hình thành nên 2 quy luật cơ bản chi phối sự tồn tại, vận động và
phát triển của xã hội, đó là quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ của LLSX và quy luật CSHT quyết
đònh KTTT. Chính những quy luật này đã làm cho XH phát triển không ngừng qua các hình thái KT–XH
khác nhau; sự phát triển đó là khách quan và Mác đã khẳng đònh: “Sự phát triển của những hình thái KT–
XH là 1 quá trình lòch sử – tự nhiên”
b. Sự phát triển của các hình thái KT – XH là một quá trình lòch sử tự nhiên
- Sự phát triển của các hình thái KT–XH là quá trình lòch sử tự nhiên, điều đó có nghóa là con
người làm ra lòch sử của mình, tạo ra những mối quan hệ xã hội của mình và đó là xã hội của con người.
21
Tuy nhiên xã hội lại vận động theo những quy luật khách quan không phụ thuộc vào những ý muốn của
con người và bản thân những hoạt động của con người chỉ có ý nghóa khi tuân thủ và phù hợp với những
quy luật khách quan đó.
Lênin đã giải thích: “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và đem quy
những QHSX vào trình độ của những LLSX thì người ta mới có một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát
triển của những hình thái KT – XH là một quá trình lòch sử - tự nhiên”
- Mặt tự nhiên của quá trình vận động phát triển của các hình thái KT–XH là do tính tất yếu khách
quan của các quy luật xã hội quy đònh. Trong đó, đặc biệt là vai trò và tác động của 2 quy luật: QHSX
phải phù hợp với trình độ của LLSX và quy luật CSHT quyết đònh KTTT.
+ Quy luật của đời sống xã hội có đặc điểm là tác động thông qua hoạt động của con người, song
không phải vì thế mà nó không mang tính khách quan. Quy luật vận động của xã hội không những không
phụ thuộc vào ý thức, ý chí của con người mà ngược lại, xét đến cùng, còn quyết đònh cả ý thức, ý chí
của con người. Mỗi một hình thái KT–XH đã được triết học Mác tiếp cận và nhìn nhận như một cơ thể xã
hội tồn tại và vận động theo những quy luật vốn có của nó. Đó là 1 cơ thể xã hội riêng biệt có những quy
luật riêng về sự ra đời của nó, về hoạt động của nó và về bước chuyển biến của nó lên 1 hình thức khác,
chuyển thành 1 cơ thể xã hội khác.
+ Mặt tự nhiên còn thể hiện ở quá trình vận động phát triển thay thế nhau của các hình thái diễn ra
theo 1 trình tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp với một xu hướng ngày càng tiến bộ và văn

khái quát các hình thái KT–XH đã có trong lòch sử, Mác đã khẳng đònh: nhất đònh loài người sẽ chứng
kiến sự ra đời của hình thái KT–XH mới CSCN thay thế cho hình thái KT–XH TBCN.
Tóm lại: Quá trình lòch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những được thực hiện bằng con
đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm trong nó cả sự bỏ qua trong những điều kiện lòch sử nhất đònh 1
hoặc vài hình thái KT – XH nhất đònh.
c. Vận dụng để giải thích quá trình phát triển đất nước VN
- Ngay từ khi mới ra đời Đảng CSVN đã xác đònh con đường đi lên của VN trải qua những giai
đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN. Sau khi giành được độc lập dân tộc trong cả
nước thì con đường phát triển của VN được khẳng đònh là tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển
TBCN với nội dung cơ bản là thực hiện việc đấu tranh giữa 2 con đường TBCN và XHCN nhằm đem lại
thắng lợi cho con đường phát triển XHCN.
Văn kiện ĐH IX Đảng CSVN đã chỉ rõ: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên
CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vò trí thống trò của QHSX và KTTT TBCN nhưng
tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN để phát triển nhanh LLSX,
xây dựng nền KT hiện đại”. Thực sự con đường đi đó là rút ngắn lòch sử phù hợp với quy luật chung của
sự phát triển của xã hội loài người đồng thời phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam và thời đại
ngày nay. Đó cũng chính là quá trình lòch sử - tự nhiên trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam và
chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện để thực hiện con đường đó.
- Về mặt quốc tế và thời đại:
+ CNTB đã tỏ ra lỗi thời và không thể giải quyết được những mâu thuẫn KT-XH, bắt nguồn từ mâu
thuẫn của trình độ phát triển cao của LLSX với sự lạc hậu của QHSX và CNTB không giải phóng triệt để
được con người.
+ Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên CNXH và được mở đầu bằng thắng lợi của cuộc CM
tháng 10 Nga.
+ Từ những bài học thành công và thất bại của các mô hình XHCN trên thế giới cũng như từ khát
vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, đang có những điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới
theo quy luật tiến hoá của lòch sử loài người tiến lên CNXH.
+ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh, sự phân công lao động và hợp tác
quốc tế ngày càng sâu sắc tạo ra khả năng để thực hiện việc “đi tắt đón đầu” đối với các nước đang phát
triển như Việt Nam.

tại trong suốt thời kỳ quá độ.
+ Xây dựng KTTT XHCN: xây dựng nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng luật pháp; các
thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật.
+ Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng
14. Quan điểm mác xít về bản chất con người và vấn đề phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* Quan điểm triết học phi mác xít về con người
- Quan điểm về con người trong triết học phương Đông rất đa dạng phong phú, tiêu biểu là quan điểm
của triết học Phật giáo (Ấn Độ) và triết học Nho gia (Trung Quốc). Nhìn chung, quan điểm về con người
trong các học thuyết triết học phương Đông thể hiện rất phong phú, nhưng đều mang nặng tính duy tâm.
Về cơ bản, các học thuyết đã lấy đạo đức làm nền tảng để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
- Quan điểm về con người trong triết học phương Tây thể hiện rõ nét qua các thời kỳ cổ đại, trung cổ,
Phục hưng và cận đại, thời hiện đại với hai khuynh hướng duy vật và duy tâm.
* Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người
i. Con người là thực thể sinh vật – xã hội
Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lòch sử triết học, dựa trên những thành tựu của khoa học tự
nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào, triết học Mác khẳng đònh con người vừa là sản phẩm
phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người. Con người
là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội - là thực thể sinh vật – xã hội.
Trước hết con người là một thực thể sinh vật, vì con người cho dù phát triển đến đâu cũng là một
động vật, là một bộ phận của giới tự nhiên. Ănghen khẳng đònh: “Bản thân cái sự kiện là con người từ
24
loài động vật mà ra cũng đã quyết đònh việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc
tính vốn có của con vật”. Tuy vậy, con người khác với động vật vì con người còn là một thực thể xã hội.
Là thực thể xã hội vì các hoạt động xã hội của con người, trước hết và quan trọng nhất là hoạt động lao
động sản xuất, đã làm cho con người trở thành con người với đúng nghóa của nó. Theo Mác, xã hội suy
cho cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Con người tạo ra xã hội và là thành
viên của xã hội.
Như vậy, con người không phải là một động vật thuần túy mà là một động vật xã hội”. Thực thể
sinh vật và thực thể xã hội ở con người không tách khỏi nhau, trong đó thực thể sinh vật là tiền đề mà

ii. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm cuộc sống của nhân dân là mục tiêu của mọi hoạt động cách mạng; ngay
cả “… nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghóa lý gì”, lợi ích
phải là của dân, hạnh phúc phải là của dân.
25

Trích đoạn LLSX quyết định và quy định sự hình thành, phát triển, biến đổi và thay thế lẫn nhau của QHSX. QHSX có tính độc lập tương đối và tác động trở lại LLS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status