ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI, QUAN ĐIỂM
CỦA NÓ VỀ NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG TRONG
NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI
Nhà nước hay thị trường giữ vai trò chính trong nền kinh tế là vấn đề quan
trọng được bàn đến xuyên suốt các thời kỳ lịch sử: từ các đại biểu kinh tế Cổ
điển đến nay, đã có thời kỳ người ta tuyệt đối hóa vai trò nhà nước hay vai trò
thị trường. Tranh luận giữa một bên đề cao vai trò của thị trường và một bên
đề cao vai trò của nhà nước càng trở nên mạnh mẽ khi khủng hoảng kinh tế
diễn ra. Bốn năm từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra, chúng ta
vẫn chưa thấy có sự khởi sắc nhiều: tốc độ tăng trưởng vẫn thấp, lạm phát,
thất nghiệp vẫn là còn ở mức cao… Chủ nghĩa tự do mới từng được coi là liều
thuốc vạn năng, liệu đã mất vị trí thống trị trong việc vận dụng vào nền kinh tế
hiện nay hay không? Những thay đổi nhận thức về vai trò của nhà nước và thị
trường trong nền kinh tế đương đại như thế nào? Cần có nhìn nhận về vai trò
nhà nước và thị trường sao cho phù hợp với xu hướng phát triển trong tương
lai?.
1. Bối cảnh ra đời của Chủ nghĩa tự do mới.
Chủ nghĩa tự do mới (còn gọi là trường phái cổ điển mới - Newclassical )
có nguồn gốc sâu xa từ những tư tưởng kinh tế của trường phái kinh tế chính
trị cổ điển với đặc trưng nổi bật của nó là đề cao chủ nghĩa tự do kinh tế. Nhìn
lại lịch sử, cuộc khủng hoảng sản xuất dư thừa 1929 – 1933 bùng nổ ở Mỹ sau
đó lan ra toàn thế giới đã gây ra những tổn thất nặng nề cho nền kinh tế thế
giới (13 triệu người thất nghiệp, sản lượng công nghiệp giảm 45%, số nhà xây
mới giảm 80%, 50000 ngân hàng phá sản…) đáng lưu ý là nền kinh tế của các
nước tư bản tưởng chừng như đang trên đà phát triển vững chắc nhưng vẫn
không tránh được cuộc khủng hoảng, ví dụ như ở Mỹ, Anh ; ở Mỹ sản lượng
công nghiệp giảm 50% (trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%),
11500 xí nghiệp nhỏ và cả xí nghiệp lớn bị phá sản, 17 triệu người thất nghiệp,
tiền lương công nhân chỉ còn 56%; ở Anh sản lượng gang sụt mất 50% théo
cũng sụt gần 50%, trên 3 triệu nghười thất nghiệp, lương công nhân chỉ còn
66% Thực tế này đã phá vỡ các quan điểm vốn đã có và đang thống trị của
(the preasure
principle is the instinctual seeking of pleasure and avoiding of pain in order to
satisfy biological and psychological), đem lạc thú được thỏa mãn như một
chính sách kinh tế, thay cho sự hi sinh. Keynes là Freud trong kinh tế học.
Tuy nhiên khi hàng loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước
vào những năm 70 của thê kỷ XX: khủng hoảng Bảng Anh 1992, khủng hoảng
Peso Mexico 1994, khủng hoảng tiền tệ Đông Á 1997, Khủng hoảng tài chính
Nga 1998, khủng hoảng Argentina 1990 – 2002… Trong đó gây ảnh hưởng
rộng nhất và có thiệt hại mạnh mẽ nhất chính là cuộc khủng hoảng tiền tệ
Đông Á 1997 (Khủng hoảng tài chính Đông Á), thì giới nghiên cứu kinh tế lại
chứng kiến sự trỗi dậy của tư tưởng tự do kinh tế trong một số trường phái
kinh tế : Chủ nghĩa bảo thủ mới ở Mỹ, chủ nghĩa tự do mới ở Đức, Chủ nghĩa
cá nhân mới ở Anh, chủ nghĩa kinh tế mới ở Áo hay là thuyết giới hạn mới ở
Thụy Điển… được tập hợp dưới tên gọi chung là chủ nghĩa cổ điển mới (New
classical) hay còn gọi là chủ nghĩa tự do mới. Đây là một chủ thuyết lớn trong
lĩnh vực kinh tế. Dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa tự do mới, thế giới đã có
một
giai đoạn phát triển kinh tế khá thành công, nhất là trong mấy thập
1 Kates, Steven (1998). Say's Law and the Keynesian Revolution: How Macroeconomic Theory Lost
Its Way. ISBN 978-1-85898-748-4.
2 Sigmund Freud (1900), Pleasure principle , Pearson Education Canada.
kỷ gần đây.
Những
nguyên nhân của sự thành công này đã được biết đến
như là hệ quả của sự tự do hoá
thương
mại, của các luồng vốn đầu tư quốc
tế cao hay của các chính sách linh hoạt và can đảm
mà
chính phủ các nước
.
Cho đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2007 bắt đầu từ Mỹ
đã lây lan nhanh chóng và
ảnh
hưởng sâu sắc đến nền kinh tế toàn cầu, đẩy
hầu hết các quốc gia trên thế giới vào một
cuộc
khủng hoảng tài chính – suy
giảm kinh tế nghiêm trọng. Năm 2008 được coi là năm bi tráng của nền kinh
tế thế giới, cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ “hàng trăm năm mới có một
lần
4
” Cuộc khủng hoảng bùng phát tại Mỹ và nhanh chóng lan rộng toàn cầu,
3 TS. Trần Hữu Dũng (2009), Về kinh nghiệm phát triển: Đọc Rodrik và Chang, hai kẻ nghi ngờ, Thời Báo
Kinh Tế Sài
Gòn, Số 1/ 2009.
4 Lời ông Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (FED).
kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định chế tài chính khổng lồ, thị trường
chứng khoán điên đảo. Năm 2008 cũ ng chứng kiế n nhữ ng nỗ lự c chưa
từng có của cả thế giới để ứng
phó
với cuộc khủng hoảng này. Nhà kinh tế
học Paul Krugman lo sợ: "Tôi lo sợ rằng chúng ta sẽ chứng kiến cuộc suy
thoái trên toàn thế giới giống như ở Nhật Bản trong những năm 1990, vốn kéo
dài hàng thập kỷ. Nếu điều đó xảy ra chúng ta sẽ sống trong một thế giới mà
lãi suất bằng 0, giảm phát, không có dấu hiệu phục hồi và tình trạng này sẽ
xảy ra trong thời gian rất dài. Thật không may là điều đó rất dễ xảy ra. Chúng
ta sẽ thấy nền kinh tế thế giới còn đình trệ cho đến hết năm 2011 và có thể còn
lâu hơn. Hiện tại, tôi chưa nhìn thấy nơi nào an toàn trên thế giới này cả".
Theo IMF, kinh tế thế giới chỉ đạt 3.7% (con số của WB là 2.5%) sụt
chí
Cộng sản.
tín dụng nói chung sau một thời kỳ dài thả lỏng tín dụng và tăng trưởng ảo;
(ii) sự
yếu
kém của hệ thống tài chính – ngân hàng các nước trước sự lấn
lướt của xu thế toàn cầu
hoá
kinh
tế.
Nhìn nhậ n trên bình diện chung hơn,
có thể thấy, cuộc khủng hoảng này bùng phát từ
sự
mất cân bằng kinh tế
toàn cầu, sâu sắc và kéo dài, đã và đang phá vỡ các nền tảng, các cấu
trúc
phát triển cần có. Nó là hệ quả của việc nới lỏng quản lý, giám sát, điều
hành của nhà
nước
đối với nền kinh tế nhất là trên thị trường tài chính, là hệ
quả xuất phát từ một sự bất cân
bằng
– có thể coi là bất cân bằng gốc giữa
nhà nước và thị trường trong vận hành kinh
tế.
Bốn năm đã trôi qua kể từ cuộc khủng hoảng đó, song kinh tế thế giới
vẫn đang phục hồi chật vật. Gam màu chủ đạo của bức tranh kinh tế thế giới
năm 2012 là “xám tối” trong bối cảnh nhịp độ tăng trưởng trên toàn cầu tiếp
tục yếu, đặc biệt tại các nước phát triển: Mỹ (1.5%), Nhật Bản (2.2%)…, nợ
6
. Tự do kinh tế sẽ làm cho
những lợi ích riêng và những nguyện vọng của người từ tự nhiên, sẽ bắt buộc
họ phải chia và phân phối tư bản của bất cứ một xã hội nào cho các công việc
khác nhau trong xã hội đó, làm thế nào để có thể phù hợp nhất với lợi của toàn
thể xã hội. Lợi ích cá nhân là lợi ích xuất phát, lợi ích xã hội là lợi ích phụ
thuộc và giữa hai cái đó không mâu thuẫn với nhau. Lợi ích xã hội sẽ được
6 Adam Smith (1776), An Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of Nations.
phát triển trong quá trình lợi ích cá nhân được thỏa mãn. Họ tự đặt câu hỏi
rằng: liệu những người được trao quyền xã hội có thực sự vì quyền lợi chung
không? Kinh nghiệm chỉ rõ rằng, ở một số thời điểm, nhiều chính phủ theo
đuổi các chính sách tỏ ra phù hợp với mục tiêu công cộng, song ở những thời
điểm khác, chính phủ lại theo đuổi những chính sách mà dù có tưởng tượng
phóng đại lên như thế nào cũng không thể phù hợp với lợi ích công cộng. Hơn
nữa ngay cả những người lãnh đạo có dụng ý tốt vẫn thường dẫn dắt đất nước
của mình đi sai đường. Họ cho rằng không nên dựa vào chính phủ hay bất kỳ
mọi tình cảm đạo đức để làm điều tốt đẹp. Lợi ích công chỉ được gìn giữ khi
nào mỗi cá nhân làm điều gì đó vì lợi ích riêng của bản thân, cá nhân có thể
xác định chính xác xem lợi ích bản thân là gì trước khi xác định lợi ích công.
Và họ tin rằng nếu thị trường có những thất bại thì chính phủ cũng có những
thất bại đáng sợ hơn và khi không có thất bại thị trường thì ngay cả một chính
phủ lý tưởng cũng không thể nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Điểm khác
biệt về quan điểm của tự do cổ điển và tự do mới là lúc này dù chưa nhìn nhận
hết vai trò của nhà nước nhưng họ đã chấp nhận nhà nước như một thành phần
không thể thiếu trong nền kinh tế, miễn là sự can thiệp không quá sâu và không
có cản trở cho sự phát triển tự do cá nhân cũng như các chủ thể kinh tế.
Thứ hai, về phương pháp chủ nghĩa tự do mới họ không tiếp nối những
nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật, không tiếp tục nghiên cứu cái bản
chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, không tiếp tục nghiên cứu lý luận
giá tị – lao động cùng với những hình thái chuyển hóa của nó, không chú trọng
chỉnh sao cho phù hợp nhất với quyền lợi của mình.
Chủ nghĩa tự do kinh tế, mặc dù các lý thuyết trong đó có điểm xuất phát
khác nhau, phương pháp khác nhau với nhiều trình độ, cấp bậc phản ánh khác
nhau nhưng tựu chung lại các lý luận kinh tế của học thuyết này đều xoay
quanh và bảo vệ chủ nghĩa tự do kinh tế_ nghĩa là đều xuất phát và đề cao,
thậm chí tuyệt đối hóa hai định đề cơ bản: Thị trường tự do đó là thi trường
luôn hoàn hảo do luôn tiếp nhận thông tin hoàn hảo, cung cầu luôn cân bằng…
nó luôn đồng nghĩa với hiệu quả; con người kinh tế cá thể biệt lập đó là những
con người cá nhân tự do, luôn có những hành vi và quyết định đúng đắn, hợp
lý, luôn hướng đến tối đa hóa lợi ích. Trong các học thuyết của các nhà cổ điển
trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh, vai trò của cơ chế thị trường – “ bàn
tay vô hình” được đề cao, người ta phản đối sự can thiệp của nhà nước vào nền
kinh tế. Nhà nước chỉ là “ người lính gác đêm” giữ gìn trật tự an toàn xã hội,
không được can thiệp vào các quá trình kinh tế, theo họ nguồn gốc của cải của
các dân tộc là khả năng phát huy các công năng của các cá nhân, và xã hội, là
một hệ cân đối, có thể tự cân bằng thông qua sự điều tiết kinh hoạt của lực
lượng thị trường; và sau đó, Nhà nước được coi như “ người làm vườn chăm
chỉ”, được phép “ chăm sóc cây con”… nhưng không được can thiệp vào quá
trình sinh học bình thường của cây”…nhưng không được can thiệp vào “quá
trình sinh học bình thường của cây”… Đến đầu thế kỷ XX, lực lượng sản xuất
phát triển lên một mức cao hơn, “ bàn tay vô hình” không đủ sức để điều hành
sự vận động của nền kinh tế, đã đến lúc phải có “luật chơi chung” và có người
“ điều khiển trò chơi”, tránh tình trạng phát triển vô tổ chức, gây khủng hoảng.
Học thuyết Keynes ra đời với lý thuyết về “bàn tay hữu hình” – cơ chế can
thiệp của nhà nước; nhà nước trở thành “ người trọng tài trên sân bóng, có
quyền thổi phạt các cầu thủ nhưng không được chạm vào bóng”. Đã có thời kỳ
cơ chế này được coi là “ liều thuốc hữu hiệu” của chủ nghĩa tử tư bản. Nhưng
rồi “ bàn tay hữu hình” cũng tỏ ra bất lực bở sự can thiệp quá sâu vào nền kinh
tế. Chủ nghĩa tự do mới đưa ra quan điểm về vai trò của nhà nước trên cơ sở
kết hợp các tư tưởng kinh tế của Keynes mới và trường phái trọng thương mới.
thuyết về số lượng tiền tệ. Tuy nhiên lý thuyết của họ chỉ được đánh giá như
một lĩnh vực học thuật tiền tệ thuần túy chuyên môn, chưa phải là một học
thuyết hoàn chỉnh. Đến những năm 40 – 50 của thế kỷ XX, trường phái tiền tệ
đầu tiên được hình thành với các nhà tiền tệ nổi tiếng: H.Simons, L.Mints,
P.Douglas, tuy nhiên đến các công trình nghiên cứu sau đó của Friedman,
P.Cagan, R.Selden…, với các tư tưởng tự do kinh tế phát triển theo hướng phân
tích mối quan hệ giữa điều tiết khối lượng tiền với mức tăng trưởng và giải
quyết việc làm thì mới có đủ cơ sở lý luận cho việc xây dựng chủ nghĩa tiền tệ
kiểu mới. Các đại biểu trường phái này chú trọng đến lĩnh vực tiền tệ, lý thuyết
của họ bàn đến ba vấn đề cơ bản: giá cả và tiền công; cơ chế hoạt động của nền
kinh tế thị trường; chính sách kinh tế và vai trò của nhà nước. Họ ra sức cổ
động cho một nền kinh tế thị trường tự do không có sự can thiệp của nhà nước.
Thậm chí một số còn cho rằng nhà nước không cần thiết phải can thiệp vào cả
những vấn đề như an toàn xã hội, kiểm soát môi trường, thị trường có thể tự
giải quyết các vấn đề đó, bởi theo họ, hầu hết sự can thiệp của nhà nước
thường phá vỡ những cân bằng tự nhiên, do vậy có hại cho nền kinh tế. Họ ưu
tiên chống lạm phát hơn là giảm thất nghiệp, theo họ thất nghiệp có nguồn gốc
từ hai nguyên nhân khác nhau: tự nguyện và do sai lầm của chính phủ. Họ chủ
trương không khắc phục tuyệt đối hiện tượng thất nghiệp và cho rằng trong nền
kinh tế thị trường, sự tồn tại hiện tượng thất nghiệp tự nhiên ở một tỷ lệ nào đó
là điều bình thường và cái đáng sợ hơn đối với nền kinh tế chính là hiện tượng
lạm phát, và vì thế để ngăn ngừa lạm phát thì cần phải chấp nhận một tỷ lệ thất
nghiệp cao hơn mức thất nghiệp tự nhiên.
Có một số đại biểu của trường phái trọng tiền khẳng định trong nền kinh
tế thị trường hiện đại thì nhà nước là yếu tố không thể bác bỏ, nhưng họ đòi hỏi
nhà nước phải điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế theo những quy tắc có tính
chuẩn mực, và họ cũng kiên quyết phản đối cách điều tiết theo kiểu tùy hứng
của các nhà quản lý. Họ cho rằng, đó là một khuynh hướng khó tránh khỏi, vì
theo kinh nghiệm thi khi ban hành các quyết định quản lý, chính phủ thường
thiên về lợi ích của bản thân chính phủ hơn là lợi ích dân chúng. Chính vì vậy
cũng là bốn chủ trương lớn: Giảm nhà nước; tăng thị trường; giảm điều tiết; tư
nhân hóa bằng nhiều hình thức trong đó có hình thức cổ phần hóa.
Vậy là trong bản thân học thuyết trọng tiền, các đại biểu thuộc học thuyết
này cũng chưa hoàn toàn đồng nhất quan điểm về vai trò của nhà nước và thị
trường: một số thì bác bỏ vai trò nhà nước hoàn toàn, bất kể những vấn đề xã
hội thì nhà nước cũng không nên can thiệp; một số khác thì có sự công nhận
vai trò của nhà nước ở một vài khía cạnh.
Học thuyết trọng cung ra đời vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các lý luận
của trường phái này nổi lên như một hệ thống lý thuyết có tính khả thi cao. Họ
cho rằng nguyên nhân làm cho nền kinh tế Mỹ suy yếu cả ở trương trong nước
và cả trên thị trường quốc tế nằm ngay trong chính sách kinh tế của nhà nước
Mỹ. Chính M.Feldstein (chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế của tổng thống Mỹ
8 M.Friedman (1959): A program for monetary stability, the Milla lectures. N3.
reagan) 1982 khẳng định “… việc nhà nước sử dụng sai trái chính sách tiền tệ
– tín dụng đã làm toàn bộ nền sản xuất bất ổn định và nạn lạm phát phát triên
nhanh chóng”
9
. “cung tự đẻ ra cầu của nó” , luận điểm của J.B.Say năm 1803
và trong tác phẩm “các nguyên lý kinh tế chính trị học” của A. Marshall cũng
cho rằng chính cơ chế tự điều tiết của thị trường đã tạo ra những tiền đề cần
thiết cho các nhà kinh doanh tính toán đầu vào và đầu ra của sản xuất một cách
hợp lý nhất, phần lớn các yếu tố trong tác phẩm được Mashall nhấn mạnh đều
ở phía cung. Các đại biểu của trường phái này là Arthur Laffer, Jede Winniski,
Norman Ture, Paul Craig Roberts, George Gilder, song đại biểu xuất sắc đưa ra
các quan điểm chủ đạo có tính đột phá và hình thành hệ thống lý thuyết trọng
cung hiện đại theo khuynh hướng tự do kinh tế mới là A.Laffer. “ cơ sở của lý
thuyết cung chủ trương rằng trong hoạt động của Nhà nước, cần bãi bỏ mọi
khả năng có thể làm thay đổi thu nhập thực tế của nền kinh tế” Norman.
B.Ture
10
chỉ là nhất thời vì trong điều kiện thiết chế tự do dân chủ được xác lập vững
chắc, dân chúng hoàn toàn có thể chủ động trong việc tự điều chỉnh cách ứng
xử, và cách gây bất ngờ của chính phủ ở những lần ra chính sách khác sẽ
không có hiệu quả. Các đại biểu của học thuyết chấp nhận vai trò của nhà
nước, tuy nhiên họ cho rằng nhà nước chỉ có vai trò tức thời, vai trò đó
thường chỉ phát huy trong thời gian ngắn khi mà đạt được những kỳ vọng duy
lý.
Chủ nghĩa tự do mới ở Đức – học thuyết về nền kinh té thị trường xã
hội, do Alfred Muller – Armack đề xướng vào năm 1946 dựa trên cơ sở các
công trình nghiên cứu của trường phái Freiburg (Walter Eucken, Franz Bohm,
Wilhelm Ropke) và được Ludwig Erhard – Giám độc Cục kinh tế trong khu
vực kinh tế hợp nhất vùng Mỹ – Anh (sau này là thủ tướng CHKB Đức) ủng
hộ và triển khai. Trong hoàn cảnh khó khăn của Đức sau thế chiến II, nước
Đức bị chia cắt và suy thoái cả về đọa đức, chính trị, kinh tế – cụ thể, việc bị
mất tám triệu người và 24% lãnh thổ quốc gia, 14 triệu người bị săn đuổi, 47%
nhà cửa bị phá hủy hoặc hưu hại, mất mát gần ½ các thiết bị công nghiệp,
đường giao thông và phương tiện vận tải, hàng triệu người bị rơi vào cảnh đói
khổ cùng cực, lạm phát, thất nghiệp cao…
Hệ thống kinh tế kế hoạch hoàn toàn từ bỏ thị trường bằng những điều
khiển trung ương, tước bỏ những quyền tự do cơ bản về kinh tế, điều này đặt ra
thách thức lớn để cải cách hệ thống kinh tế.” Sau khi đã tìm thấy hoặc tạo ra
một môi trường xã hội, con người sẽ xây dựng cuộc sống cộng đồng của mình
theo một dạng thức xã hội nhất định”
12
. Đó là thị trường xã hội. Theo họ mô
hình nền kinh tế thị trường xã hội trên ba nguyên tắc cơ bản: thứ nhất, đảm bảo
tự do cạnh tranh không có sự tham gia của độc quyền; thứ hai, đảm bảo sự bền
vững của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bảo đảm tính độc lập về kinh tế và
trách nhiệm của các chủ thể kinh tế; thứ ba, triệt để trong việc chống lại sự can
thiệp của sai của nhà nước, nhưng phải thừa nhận những chức năng của nhà
trường xã hội đòi hỏi nhà nước phải mạnh, song chỉ can thiệp với mức độ và
tốc độ cần thiết và phải dựa trên hai nguyên tắc hỗ trợ và tương hỗ.
Nguyên tắc hỗ trợ, xác định chức năng của nhà nước trước hết phải khơi
dậy và bảo vệ các nhân tố thị trường như: kích thích phát triển các xí nghiệp tư
nhân, đảm bảo cho họ một hành lang pháp lý vững chắc để họ tự sản xuất kinh
doanh độc lập, đây là nhân tố căn bản trong chức năng của nhà nước. Ta biết
rằng, các mối đe dọa đối với cạnh tranh có hiệu quả không chỉ bắt nguồn từ
khu vực tư nhân, mà còn xuất phát từ chính nhà nươc. Khi chính phủ tự tách
13 Alfred Muller–Armack (1956), Soziale Marktwirtschft, Handworterbuch der
Sozialwissenschaften, Stuttgart/ Tubungen/ Gottingen, Q9.
bạch mình với tư cách là người mua hoạc người bán hàng, dịch vụ, lạm dụng vị
trí chi phối của mình trong lĩnh vực thương mại, việc nhà nước trợ cấp cho một
nghành công nghiệp đang suy sụp nhằm duy trì sự tồn tại của các nghành này
cũng đi ngược lại những cố gắng của các lực lượng thị trường muốn di chuyển
các nguồn lực đang bị tồn đọng sang những nghành khác có thể sử dụng chúng
hiệu quả hơn. Những đe dọa đó có thể trở thành hiện thực khi nhà nước vi
phạm nguyên tắc hỗ trợ.
Và quan trọng hơn nhà nước phải có trách nhiệm ổn định hệ thống tài
chính – tiền tệ, duy trì chế độ sở hữu tư nhân và giữ gìn trật tự an ninh và công
bằng xã hội. Thị trường tiền tệ cần phải có sự ổn định ở “ bên trong” như đối
với sức mua và ở “ bên ngoài” như tỷ giá hối đoái, chúng ảnh hưởng đến tất cả
các nhân tố và nguyên tắc thị trường. An sinh và công bằng xã hội không thể
có được nếu không có hiệu quả kinh tế, và hiệu quả kinh tế không thể duy trì
lâu dài nếu không có một tiêu chuẩn hợp lý về an sinh và công bằng xã hội.
Nguyên tắc tương hợp, nếu nguyên tác hỗ trợ liên quan đến vấn đề liệu
nhà nước có nên can thiệp hay không thì nguyên tắc tương hợp lại đề cập tới
việc sự can thiện đó nên thực hiện như thế nào? Vấn đề thứ hai chỉ xuất hiện
khi vấn đề thứ nhất đã được khẳng định. Đây là nguyên tác làm cơ sở để nhà
nước hoạch định các chính sách kinh tế phù hợp với sự vận động của các quy
luật trong nền kinh tế thị trường đồng thời phải đảm bảo được các mục tiêu
nước thực hiện vai trò của mình.
4. Những thay đổi nhận thức về nhà nước và thị trường trong nền kinh tế
đương đại.
Nhận thức về vai trò của nhà nước và thị trường trong nền kinh tế có sự
thay đổi theo địa điểm và từng giai đoạn. Trong lịch sử đã chứng kiến những
sự “luân phiên” trong vai trò của nhà nước và thị trường, nhà nước hay thị
trường giữ vai trò chủ đạo tùy thuộc và bối cảnh lịch sử kinh tế. Sự cần thiết
của nhà nước đối với nền kinh tế đã được khẳng định chắc chắn, tuy nhiên
điều đó không có nghĩa là vai trò của thị trường bị giảm đi. Cả thị trường và
nhà nước đều có những thất bại, do chủ quan hay khách quan. Các cuộc khủng
trong lịch sử là những minh chứng sống cho thấy không phải có sự “may rủi”
ở đây, vì trường hợp hãn hữu xảy ra như một số nhà kinh tế đã nhận định.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, khi không giải thích được nguyên
nhân của cuộc khủng hoảng các nhà tự do cổ điển cho rằng đó là tình huống
bất ngờ, tình huống cá biệt và chưa thể thấy thị trường có thất bại. Đến cuộc
khủng hoảng trong thời gian gần đây từ năm 2007 thì không còn nghi ngờ gì
về những thất bại của thị trường có thể xảy ra chứ không phải là trường hợp cá
biệt nữa. Sự thay đổi nhận thức về vai trò nhà nước và thị trường trước tiên
thể hiện ở các hành động của chính phủ vào nền kinh tế trước các cuộc khủng
hoảng kinh tế hiện nay. Cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra mà chủ nghĩa tự do
mới bị cho là tác nhân chính, thế giới đang có sự điều chỉnh cấu trúc theo
hướng tái lập sự cân bằng giữa nhà nước và thị trường trong điều hành nền
kinh tế. Nỗ lực tập trung giải cứu và kích
thích
cho nền kinh tế sớm phục hồi
theo phương thuốc thông dụng đã khiến nhiều nhà nghiên cứu
có
xu hướng
nhấn mạnh sự trở lại của học thuyết Keynes. Có liều lượng hơn trong việc
kết
cùng
với chủ nghĩa thị trường tự điều tiết của nó đã làm hồi
sinh học thuyết kinh tế của
Keynes.
Dựa vào lý thuyết của Keynes, c
hính
phủ
c
ác
nước
đ
ã
tung
ra
m ột
lo ạ
t
c
thi
như trợ cấp, quốc hữu hoá hay nới lỏng tiền tệ và tài
chính. Chính phủ các nước là trụ
cột
của nền kinh tế thế giới như Mỹ, EU,
Nhật Bản và hàng loạt các nước khác đã phải phối
hợp
sử dụng các gói
giải pháp cứu trợ và kích thích chống suy giảm nền kinh tế với trị giá
hàng
nghìn tỉ USD: đến cuối tháng 11 năm 2008, Mỹ đã đưa ra tổng cộng 2.250
tỷ USD dướ i dạ ng cá c khoả n vay khổ ng lồ để đối
phó
với khủng
hoảng, hệ quả là trong năm năm tỷ lệ cấp tín dụng trên GDP tăng từ 120% lên
gần 200%, nợ địa phương ngày càng phình to và bong bóng bất động sản tạo
ra hàng loạt thành phố ma trên khắp cả nước; tương tự, các gói tài chính
của EU thông qua giảm thuế, tăng cho vay trong ngắn hạn, tạo môi trường đầu
tư, giảm chi phí hành chính, ví dụ trị giá các gói cứu trợ của Đức là 200 tỷ
USD tuy nhiên các nước này tăng kích thích bằng các biện tài khóa đã khiến
thâm hụt ngân sách và tăng nợ công lên nhanh chóng; Trung Quốc chi gần 600
tỷ USD trong 2 năm 2009, 2010…
14
Với biện pháp kích cầu như vậy, nền kinh tế thế giới bước đầu đã ngăn
chặn được đà
suy
giảm tăng trưởng. Các chỉ số kinh tế chính của các nền
kinh tế chủ chốt như Mỹ, EU và
Nhật
Bản đã dịch chuyển nhích lên
15 Tanzi, (2009), The Economic role of the state before and after the current crisis, The International Íntitute of
public finance, Cape town.
suất cơ bản đã ở mức bằng không.
Việc các chính phủ phụ thuộc quá mức
vào công cụ tài khóa để duy trì tăng trưởng còn
khiến việc chính phủ phụ
thuộc quá mức vào công cụ tài khóa để duy trì tăng trưởng kinh tê khiến
thâm hụt ngân sách tăng cao, có thể kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng như
tăng thuế, tăng
lãi
suất dài hạn, gia tăng lạm phát tiền tệ và làm đình trệ hoạt
động kinh doanh. Nguy cơ đình -
lạm
của kinh tế thế giới do lượng tiền
cung ra quá lớn trên toàn cầu không phải là không thể xảy
ra
như đã từng
xảy ra trước
đó
17
.
Và thực tế đến nay, năm 2013 kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng dưới
mức tiềm năng dự báo năm 2013 là tích cực là 3.3%
18
hoặc chỉ ở mức 2.5% –
2.9%
19
, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã dịu xuống nhưng nhìn chung vẫn ở mức cao
trong lịch sử, và vấn đề thất nghiệp vẫn và ngập nợ là bài toán nan giải với khu
vực sử dụng đồng euro (với tỷ lệ tại Hy Lạp và Tây Ban Nha ở trên mức 25%),
gia.
Nhưng giờ đây
quá trình toàn cầu hoá đã làm cho việc sử dụng công cụ này trở lên phức
tạp.
Biện pháp kích cầu giờ đây khó có thể khác biệt trong nội bộ các
quốc gia. Các tập đoàn
đa
quốc gia có thể có lợi, nhưng tác động theo cấp
số nhân đối với các nền kinh tế quốc gia có
thể
rất hạn chế. Nếu chương
trình kích cầu của Keynes được toàn cầu hoá, dựa trên trợ giúp
và
cho vay
từ các nước phát triển có thể giúp nền kinh tế các nước chậm phát triển
tránh khỏi
đổ
vỡ và thậm chí có thể kích thích tăng trưởng ở một số nơi.
Nhưng số phận của các nền kinh
tế
này lại khó được quan tâm. Trong khi đó,
gói kích cầu sẽ không tác dụng nếu không đạt tới
sự
đồng bộ quốc tế và khu
vực.
Hơn nữa, mô hình tư bản có điều tiết của Keynes chỉ đơn thuần trì
hoãn chứ không
đưa
ra giải pháp cho một trong những mâu thuẫn căn
bản (bất cân bằng gốc) dẫn đến