Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
Lời nói đầu
Phần 1 Tổng quan về môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nơi mà hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp
diễn ra, nó ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp. Những
biến động về kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh
nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh tế trước khi quyết định
đầu tư là một việc làm rất quan trọng, đặc biệt là đầu tư ra nước ngoài.
Doanh nghiệp cần phải theo dõi, phân tích, dụ báo biến động của từng yếu
tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm
cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ
và đe dọa. Môi trường kinh tế của một quốc gia quyết định sức hấp dẫn của
thị trường xuất nhập khẩu của quốc gia đó. Môi trường kinh tế bao gồm các
yếu tố về mức độ tăng trưởng kinh tế; thu nhập quốc dân, quốc nội, thu
nhập bình quân đầu người; tỷ lệ lạm phát hay suy thoái; thuế suất; lãi suất
ngân hàng; tỷ giá hối đoái;…Môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động marketing quốc tế của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
muốn tấn công sang một thị trường nước ngoài thì phải có những hiểu biết
cụ thể về nền kinh tế của quốc gia đó, từ đó đưa ra được các chính sách
marketing phù hợp với những điều kiện kinh tế của quốc gia đó. Như vậy
sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra được quyết định có nên đầu tư không và đầu
tư như thế nào: với những sản phẩm gì, giá cả như thế nào, chiến lược
truyền thông ra sao,…Sau đây, chúng tôi xin đi sâu nghiên cứu vào sự ảnh
hưởng của từng yếu tố trong môi trường kinh tế đến hoạt động marketing
quốc tế của một doanh nghiệp.
Phần 2 Các ảnh hưởng của các biến động trong môi trường kinh tế lên
hoạt động marketting quốc tế của DN Việt tại Trung quốc
2.1 . Tốc độ phát triển kinh tế và GDP, GNP, thu nhập bình quân đầu
người.
Có thể nói, năm 2010 tiếp tục là năm thành công của đất nước Trung
năm 2010. Cùng với tăng trưởng mạnh về kinh tế, Trung Quốc đang là 1
trong số các nước có lượng tiêu thụ than đá lớn nhất thế giới. Và theo dự
báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Trung Quốc sẽ tăng trưởng 9,6% vào
năm 2011. Đồng thời, Phó Chủ tịch Viện Nghiên cứu năng lượng Trung
Quốc cho biết, Trung Quốc cần hơn 2 triệu tấn than đá trong vòng 10 năm
tới để phục vụ công nghiệp.
Như vậy, với dự báo nhập khẩu than đá năm 2011 tăng gần gấp đôi
so với năm 2010 của đất nước đông dân nhất thế giới này thì đây chính là
cơ hội lớn giành cho doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời cũng sẽ đặt ra cho
doanh nghiệp Việt Nam nhiều thách thức mới. Với việc nhu cầu từ phía
Trung Quốc tăng cao, Doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị cho mình
nguồn lực, những phương tiện cần thiết để có thể đáp ứng được nhu cầu
ngày càng tăng cao của Trung Quốc để tránh rơi vào thế bị động.
Với việc tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao
dẫn đến nhu cầu nội địa của Trung Quốc cũng sẽ tăng cao nên sẽ rất thuận
lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các nước trên thế giới xuất
khẩu hàng hóa sang Trung Quốc nói chung và xuất khẩu than đá nói riêng.
Tuy nhiên, nền kinh tế tăng trưởng quá nóng cũng xuất hiện những hạn chế
xuất phát từ nội tại của Trung Quốc. Các nhà phân tích cho rằng chính phủ
Trung Quốc đang phải đối mặt với một vấn đề khó khăn, đáng lo ngại là
lạm phát, mặc dù trong tháng 12/2010, giá cả chỉ tăng có 4,6%, thay vì
5,1% trong tháng 11. Chính vì vậy, vào lúc Mỹ và châu Âu đang cố gắng
thúc đẩy tăng trưởng, Trung Quốc lại tìm cách “ hạ nhiệt” nền kinh tế như:
Page 2 of 12
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
sử dụng các chính sách thắt chặt tiền tệ, những cam kết chống tệ nạn đầu
cơ… Điều này sẽ dẫn đến việc chính phủ Trung Quốc rút bớt tiền khỏi lưu
thông, làm cho người dân thắt chặt chi tiêu hơn, dẫn đến các doanh nghiệp
cuối cùng”.
Nhận thức rõ điều này, Bắc Kinh gần đây đã ra sức kiểm soát đà tăng
trưởng kinh tế nội địa, kiềm chế giá lương thực và bất động sản bằng cách
tăng lãi suất cơ bản, thắt chặt các quy định về mua bán nhà đất và hạn chế
đà tăng trưởng tín dụng.
Page 3 of 12
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
Kết thúc hội nghị công tác kinh tế trung ương mới đây - hội nghị thường
niên cấp cao về chính sách kinh tế của Trung Quốc, quy tụ các quan chức
hàng đầu ở trung ương và địa phương thảo luận các ưu tiên kinh tế cho năm
tới - Bắc Kinh cam kết sẽ ngăn chặn lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Cam kết này được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Ngân hàng Trung ương
Trung Quốc buộc các ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- lần tăng thứ sáu trong năm nay và lần tăng thứ ba trong vòng một tháng -
như một biện pháp làm chậm đà tăng trưởng tín dụng; và cơ quan thống kê
nước này cho biết, chỉ số giá tiêu dùng tháng 11-2010 tăng 5,1% so với
cùng kỳ năm trước - mức tăng cao nhất trong ba năm trở lại đây. Những
động thái ấy làm phát sinh lời đồn đoán rằng, qua năm mới, Trung Quốc sẽ
tiếp tục tăng lãi suất cơ bản sau khi đã tăng một lần hồi tháng 10-2010, lần
tăng lãi suất đầu tiên trong vòng ba năm qua.
B.Tình hình lạm phát
Giá thực phẩm tăng cao, đặc biệt là thịt, được xem như nguyên nhân chính
đẩy tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc từ mức 6,5% của tháng 12/2007 lên
7,1% trong tháng đầu tiên của năm 2008.
Giá dịch vụ tại Trung Quốc cũng đã tăng 2,6%, phản ánh chi phí nhân công
ở nước này đang có xu hướng tăng.
Tỷ lệ lạm phát 7,1% của Trung Quốc trong tháng 1/2008 là mức cao nhất
kể từ tháng 9/1996, khi lạm phát lập ngưỡng 7,4%.
cùng kỳ năm trước lên 191 triệu tấn, nhập khẩu than tăng 42,2% lên 122
triệu tấn. Nhưng nhập khẩu quặng sắt giảm 2,5% xuống 458 triệu tấn.
Riếng đối với mặt hàng than
Theo số liệu chính thức của Hải quan Trung Quốc, lượng nhập khẩu than
của Trung Quốc trong tháng 1 đã giảm 2% so với tháng trước, xuống còn
16,07 triệu tấn nhưng vẫn gấp 5 lần cùng kỳ năm ngoái.
Việt Nam hiện nay đang là nhà cung cấp than đứng thứ 3 cho thị trường
Trung Quốc sau Indonesia và Australia. Giá than nhập từ Indonesia vào
Trung Quốc đạt trung bình 74 USD/tấn, giá than nhập từ Colombia giá 112
USD/tấn. Giá than Australia, bao gồm cả than nhiệt và than mỡ, giá trung
bình 164 USD/tấn. Giá than nhập từ Nga là 138 USD/tấn, còn giá nhập từ
Việt Nam là 72 USD/tấn.
Mức thuế nhập khẩu mà chính phủ Trung quốc áp dụng với các mặt hàng
than nhập vào từ Việt Nam là:
Đối vời than đá là 17%, than cốc là , than nhiệt là 15%, than mỡ là 12%,
than gỗ là 16%, than huyền là 15%, than quả bàng là 16%, than bùn là 10%
Ngoài ra tất cả các loại than trên đều phải chịu thuế xuất khẩu tại Việt Nam
là 20%.
2.4Lãi suất ngân hàng ơ TQ
Lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ, do vậy nó ảnh hưởng trực
tiếp tới nền kinh tế của một quốc gia. Sự tăng giảm của lãi suất lại ảnh
hưởng trực tiếp tới tỷ giá, do vậy ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu
của một quốc gia. Hiện tại, nền kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn
tăng trưởng nóng, sau 3 năm cố gắng phục hồi nền kinh tế do khủng hoảng
Page 5 of 12
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
kinh tế thế giới thì cho đến giai đoạn này, các nhà kinh tế lại đang phải đối
mặt với tình hình lạm phát tăng cao. Lãi suất là công cụ đầu tiên mà chính
đó, lãi suất vay sẽ tăng từ 5,81%/ năm lên 6,06%/ năm; lãi suất tiền gửi
cũng tăng từ 2,75%/năm lên 3%/năm.
Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tối 19/10 tuyên bố, kể từ ngày 20/10 sẽ
tăng lãi suất cơ bản huy động và cho vay đồng Nhân dân tệ của các cơ quan
tài chính-ngân hàng. Lãi suất huy động kỳ hạn một năm tăng 0,25%, từ
2,25% hiện nay nâng lên tới 2,5%. Lãi suất cho vay kỳ hạn một năm tăng
0,25%, từ 5,31% hiện nay nâng lên tới 5,56%; lãi suất huy động và cho vay
Page 6 of 12
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
các loại kỳ hạn khác sẽ được điều chỉnh tương ứng. Chuyên gia kinh tế cho
rằng, hiện nay khả năng nền kinh tế trượt dốc đã cơ bản loại trừ, nhưng áp
lực tăng giá và lạm phát không ngừng gia tăng, tăng lãi suất là quyết định
đúng đắn của Ngân hàng Trung ương nhằm giữ gìn nền kinh tế phát triển
ổn định, khá nhanh và quản lý tốt lạm phát theo dự kiến.
Được biết, đây là lần tiên Ngân hàng Trung ương Trung Quốc tăng lãi suất
sau gần 3 năm. Lần tăng lãi suất gần đây nhất là tháng 12/2007. Để ứng
phó tính thanh khoản dồi dào và áp lực lạm phát, năm 2007 Ngân hàng
Trung ương Trung Quốc đã 6 lần tăng lãi suất huy động và cho vay. Từ
tháng 9/2009, để ứng phó khủng hoảng tài chính quốc tế, Ngân hàng Trung
ương Trung Quốc lại 5 lần giảm lãi suất cho vay và 4 lần giảm lãi suất huy
động.
Lãi suất tăng sẽ làm cho tiết kiệm tăng và đầu tư giảm, nó sẽ làm giảm
nhiệt của nền kinh tế và có tác dụng làm cho giá cả bớt leo thang. Lãi suất
tăng làm cho tiêu dung trong nước giảm do vậy mà nhập khẩu cũng sẽ
giảm. Đó chính là vấn đề đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của nước ta,
ngành than cũng vậy. Và việc mà một doanh nghiệp xuất khẩu phải làm đó
là phải theo dõi tình hình tăng trưởng kinh tế của đất nước mà chúng ta
đang làm ăn hoặc sẽ làm ăn, từ đó dự đoán chính sách tăng giảm lãi suất để
bố, sử dụng để hạch toán, tính thuế xuất nhập khẩu, Trung quốc cho phép
một loại tỷ giá thứ hai được tồn tại, sử dụng để mua bán, giao dịch trên thị
trường ngoại tệ. Năm 1991, Trung quốc chuyển từ tỷ giá cố định sang chế
độ tỷ giá thả nổi có quản lý, duy trì hai loại tỷ giá. Do tỷ giá thị trường biến
động mạnh đã tạo ra khoảng cách giữa hai loại tỷ giá. Đến năm 1993, thị
trường giao dịch hối đoái giữa các doanh nghiệp phát triển, làm cho chênh
lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia tăng. Trong thời gian này các doanh
nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ để sử dụng. Kết quả là ngoại tệ
tập trung vào nhà nước ít hơn so với khu vực dân cư nắm giữ, Trung quốc
gặp khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ.
Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1994 lại đây. Để khắc phục các khó khăn do thị
trường tự phát gây nên, để thực hiện kế hoạch mở cửa kinh tế đối ngoại,
đồng thời tạo điều kiện cải thiện cán cân thương mại, Trung quốc đã đưa tỷ
giá chính thức lên ngang bằng với tỷ giá thị trường. Việc điều chỉnh thống
nhất hai loại tỷ giá được thực hiện từ ngày 01/01/1994. Trung quốc đã cho
đồng nhân dân tệ phá giá tới 35%, tỷ giá chính thức được điều chỉnh từ
mức 5,7 NDT/USD lên 8,7 NDT/USD. Kèm theo đó là các quy định xóa bỏ
chế độ tự giữ ngoại hối, các doanh nghiệp thực hiện chế độ kết hối ngoại tệ
100%, các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ thanh toán hàng nhập khẩu
được mua ngoại tệ tại các ngân hàng được phép. Riêng các giao dịch phi
thương mại không được phép mua ngoại tệ của các ngân hàng. Trung quốc
cho phép thành lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng với trung tâm chính
tại Thượng Hải và một số chi nhánh tại các thành phố lớn để thực hiện các
giao dịch giao ngay trên thị trường. Từ năm 1994 đến nay Trung quốc đã
thực hiện chuyển đổi tỷ giá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước, tuy nhiên trên thực tế Trung quốc vẫn thực hiện cơ chế tỷ giá cố định
gắn với đồng USD.
Những thay đổi của chính sách tỷ giá bắt đầu từ năm 1994 lại đây đã
góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Trung quốc. Trước
năm 1994, Trung quốc luôn bị thâm hụt thương mại, cán cân vãng lai thiếu
loại của Việt Nam không phải cạnh tranh quá quyết liệt về giá với
hàng hóa của Trung Quốc. Việt Nam cũng có thêm lợi thế trong việc
thu hút đầu tư nước ngoài do chi phí sản xuất tại Trung Quốc tăng.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam thì
quyết định tăng giá nhân dân tệ chưa làm thay đổi cán cân thương mại giữa
hai nước trong ngắn hạn, do nhiều mặt hàng của Trung Quốc vẫn quá rẻ so
với hàng hóa sản xuất trong nước. Nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu bao
gồm hàng tiêu dùng thiết yếu, nguyên phụ liệu và một số máy móc, trong
khi xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô, nông sản thực
phẩm tiểu ngạch giá trị rất thấp và không ổn định, nhập siêu từ Trung Quốc
luôn ở mức cao và thường chiếm khoảng 70-80% tổng lượng nhập siêu
hàng năm của Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu hàng hóa từ Trung
Quốc vào Việt Nam trong năm tháng đầu năm 2010 đạt 7,37 tỉ đô la Mỹ,
chiếm 23,32% tổng giá trị nhập khẩu. Riêng nhập siêu từ Trung Quốc đã
Page 9 of 12
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
lên tới gần 5,05 tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ 90% tổng mức thâm hụt thương mại
trong năm tháng qua.
2. Hàng hóa của Trung Quốc đắt lên sẽ hạn chế nhập khẩu, nhất
là đối với các nguyên phụ liệu sản xuất, máy móc trang thiết bị nhập khẩu
chính ngạch, giá nhập khẩu đầu vào cao thì sản phẩm làm ra cũng sẽ bị đắt
lên và các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đánh giá tác động của sự kiện
này tới chi phí sản xuất, nhất là đối với ngành dệt may và chế biến gỗ mỹ
nghệ, là hai ngành phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu nhập từ Trung
Quốc.
3. Trong dài hạn, nhân dân tệ tăng giá sẽ buộc các doanh nghiệp
Việt Nam phải điều chỉnh và tìm kiếm thị trường mới, nhất là khi đồng
Phân tích những ảnh hưởng của môi trường kinh tế lên hoạt động
marketting quốc tế của doanh nghiệp Việt
97,1% và dự đoán năm 2010 là 94,4%. Đây thực sự là những khó khăn của
ngoại thương nước ta, trong khi ta luôn xuất siêu với các thị trường như
Mỹ, Anh, Đức, Úc, song nhập siêu từ thị trường Trung quốc ngày một tăng
và duy trì ở mức cao chưa từng có. Do đó, muốn hạn chế nhập siêu của
Việt nam thì phải có những biện pháp thực sự hiệu quả để giảm thâm hụt
thương mại với Trung quốc.
Các biện pháp cần thiết để giảm nhập siêu với Trung quốc:
Thứ nhất: Việt nam cần tăng cường quản lý và phân công các cửa khẩu
chuyên nhập hàng Trung quốc, như cách làm mà Trung quốc đã thực hiện
với hàng xuất khẩu của Việt nam.
Thứ hai: Cần Tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa, an toàn thực
phẩm đối với hàng nhập từ Trung quốc, bằng cách bố trí đủ lực lượng cán
bộ kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung quốc, đồng thời đưa
ra các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ ba: Cần tăng cường công tác quản lý chống nhập lậu, buôn lậu tại các
vùng biên giới giáp với Trung quốc.
Thứ tư: Cần thực hiện chính sách tỷ giá, tiền tệ phù hợp với tình hình thực
tế của Việt nam. Cơ chế điều hành tỷ giá của chúng ta không theo tỷ giá thả
nổi, không theo tỷ giá cố định, chúng ta phải điều hành tỷ giá linh hoạt, dựa
trên quan hệ cung cầu và có sự điều chỉnh của nhà nước.
Thứ năm: Về trung, dài hạn cần thực hiện các biện pháp điều chỉnh cung,
để giảm hệ số sử dụng hàng nhập khẩu. Cụ thể là cần có biện pháp để dịch
chuyển từ công nghiệp gia công, lắp ráp, sang công nghệ cao phục vụ xuất
khẩu. Cần có chính sách ưu tiên khuyến khích đầu tư vào các ngành sản
xuất máy móc thiết bị thay thế hàng nhập khẩu để hạn chế nhu cầu nhập
khẩu lớn cho mặt hàng này.
Việc giảm thâm hụt thương mại nói chung và giảm thâm hụt thương mại
với Trung quốc nói riêng là vấn đề cấp bách đối với Việt nam, nhất là trong