1. Phân tích khái niệm thương nhân theo quan niệm pháp luật thương mại hiện hành. SS khái niệm
thương nhân với khái niệm chủ thể kinh doanh và doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2005.
Khái niệm Thương nhân theo khoản 1, Điều 6 Luật thương mại 2005:
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập một cách hợp pháp,cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập,thường xuyên và có đăng kí kinh doanh”
Điều 7 của Luật thương mại 2005 qui định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp
luật. Trường hợp chưa đăng kí kinh doanh, thương nhânvẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo
quy định của luật này và những quy định của các luật khác”
Khái niệm Chủ thể kinh doanh: Chủ thể kinh doanh là cá nhân, tổ chức kinh tế được pháp luật thừa nhận trên thực tế
có hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lợi.
Khái niệm Doanh nghiệp theo khoản 1, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005:Doanh nghiệp là tổ chức kinh tê có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích
thực hiện các hoạt động kinh doanh
Giống nhau: khái niệm Chủ thể kinh doanh bao hàm khái niệm Thương nhân và khái niệm Doanh nghiệp, do đó có
sự giống nhau:
+ Đều mang tính hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
+ Về mục đích hoạt động: thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, như trong khoản 2, điều 4
của Luật Doanh nghiệp 2005 có nêu : “kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
+ Trong hoạt động, đều tự chủ trong kinh doanh, sử dụng lao động, tự chịu trách nhiệm.
+ Đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật.
Khác nhau: khái niệm Chủ thể kinh doanh bao hàm khái niệm Thương nhân và khái niệm Doanh nghiệp. Nhưng
không phải tất cả Chủ thể kinh doanh đều là Thương nhân và Doanh nghiệp. Cá nhân là Chủ thể kinh doanh, có thể
là Thương nhân nếu có đăng kí kinh doanh, nhưng cá nhân không thể gọi là Doanh nghiệp bởi Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế.
+ Về cơ cấu tổ chức, đặc điểm:
Thương nhân gồm cá nhân, tổ chức kinh tế. Ví dụ: Cá nhân: Nhà đầu tư chứng khoán,…tổ chức kinh tế: Các Công
ty môi giới chứng khoán, …
Chủ thể kinh doanh gồm cá nhân, tổ chức kinh tế.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định. Ví dụ các Công ty TNHH MTV, Công ty
Cổ Phần…
tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2. Nghĩa vụ của doanh nghiệp
Với tư cách là đơn vị kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp không tồn tại đơn lẻ, địa vị pháp lý của doanh nghiệp
luôn được xác định trong mối quan hệ với các chủ thể khác trong sinh hoạt thị trường và đời sống xã hội. Pháp luật
phải giải quyết hài hòa, hợp lý về lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường để không ai có thể vì lợi ích của mình
xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Dưới góc độ lý thuyết, các nghĩa vụ được coi là trách nhiệm và
giới hạn quyền của doanh nghiệp trong những quan hệ giữa họ với nhà nước, với người lao động, các doanh nghiệp
khác và người tiêu dùng. Cụ thể là:
(1) Với hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế, các doanh nghiệp có nghĩa vụ hoạt động kinh doanh theo đúng
ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của
pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; Đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực
hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh.
Tự do kinh doanh không có nghĩa là tự do vô tổ chức, mà luôn được đặt trong trật tự của thị trường để bảo đảm sự
phát triển có định hướng của thị trường với vai trò quản lý của nhà nước. Những nghĩa vụ kể trên có hai ý nghĩa cơ
bản: thứ nhất, doanh nghiệp bảo đảm thực hiện đúng cam kết với nhà nước khi đăng ký kinh doanh. Lý thuyết về tự
do kinh doanh đã cho doanh nghiệp quyền chủ động lựa chọn ngành nghề và tự kê khai nội dung đăng ký kinh
doanh. Với nhà nước, thủ tục đăng ký kinh doanh cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường làm cơ sở cho hoạt
động quản lý và xây dựng các chính sách phát triển thị trường hiệu quả. Đối với doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh
doanh xác lập tư cách cho doanh nghiệp, đồng thời, nội dung kê khai khi đăng ký còn là những cam kết của doanh
nghiệp trước nhà nước. Vì lẽ ấy, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện đúng những gì đã cam kết; thứ hai, doanh
nghiệp bảo đảm trách nhiệm vật chất đối với hoạt động quản lý của nhà nước và cộng đồng.
(2) Tôn trọng lợi ích của xã hội, các doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ: Bảo đảm quyền, lợi ích của người lao
động theo quy định của pháp luật về lao động; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác
Luat doanh nghiep
cho người lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm; Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng
hoá, dịch vụ theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố. Trong quan hệ với người lao động, các nghĩa vụ của doanh
nghiệp không còn là việc nội bộ của họ mà là trách nhiệm có tính cộng đồng. Mặt khác, các chuẩn mực về lao động
như vấn đề vấn đề bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và các quy chuẩn chất lượng hàng hóa … luôn phản ánh các chính
sách xã hội của quốc gia mà bất cứ nhà nước nào cũng theo đuổi, góp phần khắc phục các khuyết tật của thị trường.
Pháp luật về Sở hữu công nghiệp Việt nam qui định bất kỳ hành vi sử dụng, chiếm đoạt các đối tượng Sở hữu công
nghiệp đã được bảo hộ, vì mục đích thương mại mà không được phép của chủ Sở hữu, là hành vi xâm phạm quyền
Sở hữu công nghiệp.
Luat doanh nghiep
Chế tài, các biện pháp thực thi và giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu công nghiệp tại Việt nam.
1. Các chế tài hành chính
Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp
Ngày 21/9/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Sở hữu công nghiệp. Nghị định này sẽ thay thế cho Nghị định số 106/2006/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 9/11/2010.
Điều 3. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền:
a) Phạt cảnh cáo được áp dụng đối với hành vi vi phạm thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 (Pháp lệnh Xử lý
Điều 13. Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với
mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được
quyết định bằng văn bản.)vi phạm hành chính và quy định tại điều khoản tương ứng của Nghị định này cho phép áp
dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm đó;
b) Phạt tiền được áp dụng theo khung tiền phạt quy định đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính quy định tại điều
khoản tương ứng của Nghị định này, mức phạt tối đa là 500.000.000 đồng.
2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình
thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý;
nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc
chỉ dẫn địa lý; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm khác mang yếu tố vi phạm; phương tiện kinh doanh, gồm cả phương tiện
dịch vụ, phương tiện quảng cáo có chứa yếu tố vi phạm; văn bằng bảo hộ, giấy chứng nhận hoặc tài liệu khác bị sửa
chữa, tẩy xóa hoặc giả mạo;
b) Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không thời hạn chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
thẻ giám định viên; giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hành nghề giám định;
c) Đình chỉ có thời hạn hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm.
soát bức xạ, nhà ở, đất đai, đê điều, xuất bản, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh hoặc vi phạm hành chính
là hành vi buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả thì thời hiệu là hai năm; nếu quá các thời hạn nói trên thì không xử
phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 3 Điều
12 của Pháp lệnh này.
Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thì bị xử lý theo
quy định tại Điều 121 của Pháp lệnh này.
2. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau
đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử
phạt hành chính; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người đã ra quyết
định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
3. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức lại thực hiện vi phạm hành
chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng
thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời
điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
4. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác được quy định tại các điều 23, 24, 25 và 26 của Pháp lệnh
này.)
Luat doanh nghiep
2. Các chế tài dân sự.
Khi thụ lý hồ sơ, dựa vào yêu cầu của nguyên đơn và những đánh giá ban đầu, Toà án có thể thực hiện các biện pháp
khẩn cấp tạm thời như yêu cầu chấm dứt hoạt động sản xuất , kê biên, niêm phong, ngừng thông quan v. v.
Nguyên đơn có thể yêu cầu Bên có hành vi xâm phạm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp gây ra, cải chính, xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng v. v
3. Các chế tài hình sự.
Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp vừa ký thông tư liên tịch số
01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Tội danh “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” được qui định cho hành vi giả mạo hàng hóa nếu lợi nhuận thu
được trên 10 triệu đồng. Cụ thể là, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, nếu việc xâm phạm đã thu
lập công ty.Phần vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán
(như cổ phiếu trong công ty cổ phần) và được ghi rõ trong điều lệ của công ty.
Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu ra ngoài công chúng để huy động vốn.
Việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty bị hạn chế gắt gao. Việc
chuyển nhượng vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất
3/4 số vốn điều lệ của công ty.
Cty chỉ được chia lợi nhuận cho các thành viên khi cty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ
thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật; đồng thời vẫn phải bảo đảm thanh
toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn trả khác sau khi chia lợi nhuận.
Trên mọi giấy tờ giao dịch, ngoài tên công ty, vốn điều lệ của công ty phải ghi rõ các chữ "Trách
nhiệm hữu hạn", viết tắt "TNHH".
Nếu công ty có từ 11 thành viên trở xuống cơ cấu tổ chức quản trị gồm có hội đồng thành viên là
cơ quan quyết định cao nhất, Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) điều
hành. Cty TNHH có trên 11 thành viên thì phải thành lập ban kiểm soát.
• Cty TNHH 1 TV (tham khảo Luật DN 2005, chương III, Mục II, Điều 63 – 76
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu
- gọi tắt là chủ sở hữu cty, chịu trách nhiệm về các khỏan nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của cty
trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Cty TNHH 1 TV có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận KD.
Cty TNHH 1 TV không được quyền phát hành cổ phần.
Công ty TNHH một thành viên là cá nhân có chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc. Chủ
sở hữu công ty đồng thời là chủ tịch công ty. Chủ tịch công ty hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc
là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Chủ tịch công ty có
thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm giám đốc hoặc tổng giám đốc.
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho
tổ chức, cá nhân khác. Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên là cá nhân chịu trách nhiệm về
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Cty TNHH 1 TV không được giảm vốn điều lệ; tăng vốn điều lệ bằng việc chủ sở hữu cty đầu tư
thêm hoặc huy động thêm vốn góp của người khác.
• Cty cổ phần ( tham khảo Luật DN 2005, chương IV,Điều 77 – 129)
DNTN không được phát hành bất kỳ chứng khoán nào
Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN, không được đồng thời là chủ sở hữu của DNTN khác
hoặc chủ sở hữu hộ kinh doanh và thành viên hợp danh cty hợp danh.
Cá nhân chủ sở hữu tự quyết định cơ cấu tổ chức và thường trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt
động kinh doanh; và là người đại diện theo luật doanh nghiệp.
Cá nhân chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp
Chủ DNTN có quyền cho thuê toàn bộ DN của mình nhưng phải báo cáo bằng văn bản đến cơ
quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế.
Chủ DNTN có quyền bán DN, sau khi bán DN chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà DN chưa thực hiện , trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa người
mua, người bán và chủ nợ của DN.
So sánh các loại cty về khía cạnh : vốn và bộ máy quản trị công ty.
Luat doanh nghiep
Luat doanh nghiep
SO SÁNH CÁC LOẠI HÌNH CTY VỀ KHÍA CẠNH VỐN
Nội dung Cty TNHH 2 TV Cty TNHH 1TV Cty Cổ phần Cty Hợp danh DNTN
Thủ tục
- Định giá tài sản góp vốn, lập
biên bản góp vốn.
- Chuyển quyền sở hữu tài sản
đối với tài sản có đăng ký.
- Có thể góp vốn theo tiến độ
đã đăng ký.
- Định giá tài sản góp vốn, lập
biên bản góp vốn.
- Chuyển quyền sở hữu tài sản
đối với tài sản có đăng ký.
- Cấp cổ phiếu
doanh.
Không Không
Khả năng
rút vốn
- Chủ sở hữu rút vốn bằng cách
chuyển nhượng một phần hoặc
toàn bộ phần góp vốn của mình
cho người khác; nhưng quyền
chuyển nhượng bị hạn chế theo
cách phải ưu tiên chuyển
nhượng cho các thành viên
khác.
- Chủ sở hữu rút vốn bằng cách
chuyển nhượng một phần hoặc
tất cả vốn điều lệ cho người
khác
- Cổ đông phổ thông rút vốn
bằng cách tự do chuyển
nhượng cổ phần cho người
khác.
- Cổ đông sáng lập bị hạn chế
chuyển nhượng cổ phần trong
thời hạn 3 năm kể từ ngày cấp
giấy chứng nhận ĐKKD
- Thành viên góp vốn được tự
do chuyển nhượng phần góp
vốn cho người khác.
- Thành viên hợp danh có thể
chuyển nhượng phần vốn góp,
nhưng phải được sự đồng ý của
- Vay vốn từ ngân hàng hoặc từ
các chủ nợ khác Kết nạp thêm
thành viên hợp danh hoặc góp
vốn Huy động thêm vốn góp
từ các thành viên hợp danh
và/hoặc thành viên góp vốn.
- Vay vốn từ ngân hàng hoặc từ
người khác Không thể huy
động vốn góp ( dưới hình thức
phần góp vốn hoặc cổ phần)
Rút vốn/
chuyển
nhượng vốn
- Hạn chế - Tự do
- Tự do, trừ hạn chế với cổ
đông sáng lập.
- Hạn chế đối với thành viên
hợp danh, tự do đối với thành
viên góp vốn.
- Không, trừ khi bán doanh
nghiệp.
Trách nhiệm
của nhà đầu
tư
- Cty là một pháp nhân độc lập
với các thành viên và chịu trách
nhiệm về mọi hoạt động kinh
doanh bằng toàn bộ tài sản của
cty.
- Trách nhiệm của các thành
viên góp vốn chỉ giới hạn trong
phạm vi vốn góp vào cty.
- Chủ DN chịu trách nhiệm vô
hạn bằng toàn bộ tài sản của
mình.
SO SÁNH CÁC LOẠI HÌNH CTY VỀ KHÍA CẠNH BỘ MÁY QUẢN TRỊ CÔNG TY
Nội dung Cty TNHH 2 TV Cty TNHH 1TV Cty Cổ phần Cty Hợp danh DNTN
Luat doanh nghiep
Yêu cầu bắt
buộc về cơ
cấu tổ chức
- Có.Nếu công ty có từ 11
thành viên trở xuống cơ cấu
tổ chức quản trị gồm có hội
đồng thành viên là cơ quan
quyết định cao nhất, Chủ tịch
hội đồng thành viên, giám
đốc (hoặc Tổng giám đốc)
điều hành. Cty TNHH có trên
11 thành viên thì phải thành
lập ban kiểm soát
- Có.Có chủ tịch công ty,
giám đốc hoặc tổng giám đốc.
Chủ sở hữu công ty đồng thời
là chủ tịch công ty. Chủ tịch
công ty hoặc giám đốc hoặc
tổng giám đốc là người đại
diện theo pháp luật của công
ty theo quy định tại điều lệ
công ty. Chủ tịch công ty có
tư vào quản
lý DN
- Trực tiếp quản lý , điều
hành hoạt động KD ( thông
qua hội đồng thành viên); tuy
nhiên có thể không trực tiếp
điều hành hoạt động KD hằng
ngày ( đối với thành viên
thiểu số)
- trực tiếp quản lý đối với cty
TNHH 1 TV là cá nhân.
- Gián tiếp đối với cty TNHH
1TV là tổ chức , có thể không
trực tiếp tham gia quyết định
về các vấn đế quan trọng của
cty.
- Phụ thuộc vào loại cổ đông
và tỷ lệ sở hữu mà mức độ
tham gia vào hoạt động quản
lý khác nhau.
- Không trực tiếp quản lý,
điều hành hoạt động KD( trừ
trường hợp là cổ đông đồng
thời là thành viên HĐQT
hoặc GĐ/TGĐ)
- Không trực tiếp ra quyết
định, quyền quyết định,
quyền quyết định phụ thuộc
vào loại và số cổ phần nắm
giữ trong cty.
- Thứ hai, thay đổi cơ cấu sở hữu (chủ sở hữu) công ty, từ một chủ sở hữu duy nhất – Nhà nước sang nhiều chủ sở
hữu, trong đó có các ông chủ tư nhân đối với CTCP và công ty TNHH hai thành viên trở lên (trừ CTCP hoặc công
ty TNHH hai thành viên trở lên mà các cổ đông hoặc thành viên đều là Nhà nước và công ty TNHH một thành viên
do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ).
- Thứ ba, thay đổi về mô hình tổ chức, quản trị công ty. Cụ thể như: về tổ chức quản lý, CTNN có hoặc không có
HĐQT do người quyết định thành lập doanh nghiệp quyết định bổ nhiệm; còn CTCP thì có Đại hội đồng cổ đông,
có HĐQT do Đại hội đồng cổ đông bầu ra; công ty TNHH thì có Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; về
kiểm soát, đối với những CTNN có HĐQT thì có Ban kiểm soát do HĐQT thành lập; còn CTCP có trên 11 cổ đông
là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức chiếm trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì bắt buộc phải có Ban kiểm
soát do Đại hội đồng cổ đông bầu; công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên thì phải thành lập Ban kiểm soát, các
trường hợp khác thì có Kiểm soát viên.
- Thứ tư, về Điều lệ công ty: Các DNNN đã chuyển đổi thành CTCP hoặc công ty TNHH đương nhiên phải xây
dựng lại Điều lệ công ty theo mô hình công ty mới theo quy định của LDN 2005.
- Thứ 5, về mối quan hệ và quyền của chủ sở hữu đối với công ty
Có thể nói là sau tháng 7/2010, chúng ta đã cơ bản hoàn thành việc chuyển đổi các mô hình tổ chức pháp lý DNNN
theo Luật DNNN thành các mô hình công ty theo quy định của LDN 2005. Chúng ta sẽ còn tiếp tục sắp xếp, cổ phần
hóa những doanh nghiệp mà Nhà nước vẫn còn nắm giữ 100% vốn điều lệ, để DNNN dù ít nhưng mạnh, chỉ còn là
những tập đoàn, những công ty nắm giữ những lĩnh vực then chốt, có vai trò chủ đạo và có khả năng khoả lấp được
những mất cân đối của nền kinh tế thị trường xét về chiến lược và là công cụ ổn định thị trường khi có khủng hoảng
hoặc suy thoái kinh tế, nhưng không tạo ra độc quyền doanh nghiệp. Ở thời điểm hiện nay, khi việc chuyển đổi mô
hình tổ chức pháp lý doanh nghiệp về cơ bản đã được thực hiện thì việc đổi mới cơ chế quản lý, giám sát là chưa
tương xứng. Tình trạng lỏng lẻo và thiếu các quy định pháp luật về cơ chế giám sát việc sử dụng vốn, tài sản, đánh
giá hiệu quả, xác định trách nhiệm ở các Tập đoàn, Tổng CTNN trong thời gian qua, điển hình là trường hợp
Vinashin, đã chỉ rõ điều đó. Do vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế quản lý, giám sát, đánh giá hiệu quả
đối với DNNN để tương xứng với việc chuyển đổi về mô hình tổ chức pháp lý.
Câu 7: Khảo sát về quan hệ nội bộ trong công ty: nguyên tắc tỷ lệ vốn – tỷ lệ quyền lực, sự bảo vệ của PL đối
với cổ đông/thành viên công ty.
Luật doanh nghiệp 2005 nêu rõ: Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty
góp vào vốn điều lệ (mà Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn
nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty).
ty đang hoạt động cũng như khi công ty kết thúc hoạt động.
b/ Sự bảo vệ của Pháp luật đối với cổ đông/ thành viên công ty:
Bảo vệ cổ đông/thành viên công ty bằng công cụ pháp luật giữ vai trò rất quan trọng, là yếu tố tiên quyết
cho việc áp dụng các cách thức, biện pháp khác để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cổ đông/thành viên công
ty. Nhìn chung, Luật DN 2005 đã thể hiện tư tưởng bảo vệ cổ đông/thành viên công ty, đặc biệt bảo vệ cổ đông
thiểu số tốt hơn so với Luật Công ty 1990 và Luật DN 1999, cụ thể như sau:
b.1/ Quyền của thành viên, cổ đông:
- Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, quyền của thành viên qui định tại Điều 41 của Luật DN
2005:
1. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có các quyền sau đây:
a) Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền
của Hội đồng thành viên;
b) Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp;
c) Kiểm tra, xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục sổ đăng ký thành viên, sổ ghi chép và theo dõi
các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm, sổ biên bản họp Hội đồng thành viên, các giấy
tờ và tài liệu khác của công ty;
Luat doanh nghiep
d) Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành
các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
đ) Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc
phá sản;
e) Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; được quyền chuyển nhượng
một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp theo quy định của Luật này;
g) Khiếu nại hoặc khởi kiện Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi không thực hiện đúng nghĩa vụ, gây
thiệt hại đến lợi ích của thành viên hoặc công ty theo quy định của pháp luật;
h) Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho và cách khác
theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
i) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
2. Thành viên hoặc nhóm thành viên sở hữu trên 25% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn do
Điều lệ công ty quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, có quyền yêu cầu triệu tập
cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh
doanh đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông,
tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần
kiểm tra, mục đích kiểm tra;
đ) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại
hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra
quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;
b) Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị mới chưa được bầu
thay thế;
c) Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty.
Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản và phải có họ, tên, địa chỉ
thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với
cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh
doanh đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng
số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do
yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các
vi phạm của Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền.
4. Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người vào Hội đồng
quản trị và Ban kiểm soát quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được thực hiện như sau:
a) Các cổ đông phổ thông tự nguyện tập hợp thành nhóm thoả mãn các điều kiện quy định để đề cử
người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc họp nhóm cho các cổ đông dự
họp biết chậm nhất ngay khi khai mạc Đại hội đồng cổ đông;
b) Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy
định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cử một hoặc một số người theo quyết định của Đại hội
đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Trường hợp số ứng cử viên được
cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định
của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ
đông khác đề cử.