Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV - Pdf 22

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÔN NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
TIỂU LUẬN
Tổ chức hoạt động giám sát ngân hàng: BOK, MAS, SBV

GVHD: TS. HOÀNG CÔNG GIA KHÁNH
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2014
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu

1
Chương 1. Thực trạng mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại Hàn Quốc,
Singapore và Việt Nam

2
1.1. Tổ chức giám sát Ngân hàng tại Hàn Quốc

2
1.1.1. Lịch sử hình thành

2
1.1.1.1. Trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998.

2
1.1.1.2. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998


1.3. Tổ chức giám sát Ngân hàng tại Việt Nam

10
1.3.1. Lịch sử hình thành

10
1.3.2. Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Việt Nam

10
1.3.3. Cơ cấu tổ chức giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

11
1.3.4. Mục tiêu giám sát của

11
Chương 2. Đối sánh ba mô hình giám sát ngân hàng

12
2.1. Đặc điểm chung

12
16
2.2. Đặc điểm riêng

12
2.2.1. Lực chọn mô hình tổ chức giám sát

12
2.2.2. Lựa chọn cơ quan giám sát


- Hàn Quốc, Singapore, Việt Nam áp dụng mô hình tổ chức hoạt động giám sát tài
chính như thế nào?
- Sự khác biệt giữa các mô hình tổ chức hoạt động giám sát tài chính?
5. Nội dung nghiên cứu:
- Thực trạng mô hình tổ chức giám sát tài chính tại Hàn Quốc, Singapore, Việt
Nam.
- Đối sánh điểm giống và khác nhau giữa ba mô hình tổ chức giám sát tài chính.
- Một số giải pháp cho mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu.
16
Chương 1: Mô hình tổ chức giám sát ngân hàng tại
Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam
1.1. Tổ chức giám sát ngân hàng tại Hàn Quốc
1.1.1. Lịch sử hình thành
1.1.1.1. Trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998
Trước khủng hoảng tài chính Châu Á năm 2007, Hàn Quốc áp dụng mô hình tổ
chức giám sát chuyên ngành.
Hình 1: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc trước năm 1998
Nguồn: Thu thập của học viên
Khi khủng hoảng xảy ra, Chính phủ Hàn Quốc cho rằng hệ thống giám sát hiện tại
không có sự liên kết chặt chẽ giữa các Ban giám sát, không chuyên môn hóa, lỏng lẻo
trong hoạt động dẫn đến khủng hoảng. Do đó, Hàn Quốc nhờ có sự giúp sức của IMF đã
tiến hành cải cách hệ thống giám sát tài chính.
1.1.1.2. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998
Năm 2008, Hàn Quốc có bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử cải cách hệ thống giám
sát tài chính. Việc thành lập Ủy ban giám sát tài chính có chức năng ban hành các quy
định về giám sát toàn bộ các định chế tài chính trong nền kinh tế.
Hình 2: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc sau năm 1998
Nguồn: Tổng hợp của học viên

Năm 2008, Hàn Quốc nhận thấy rủi ro trong hoạt động của các tập đoàn tài chính
đa quốc gia nên đã tiến hành điều chỉnh mô hình tổ chức giám sát tài chính . Năm 2008,
Ủy ban Giám sát tài chính đã tách ra làm hai phần chính: một là thành lập Ủy ban dịch vụ
tài chính (FSC) và hai là sát nhập vào Bộ Tài chính kinh tế tạo thành Bộ Chiến lược và
tài chính. Như vậy, hệ thống giám sát tài chính của Hàn Quốc hiện nay bao gồm Ủy ban
dịch vụ tài chính, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai, Dịch vụ giám sát tài chính.
1.1.2. Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc
Hiện nay Hàn Quốc đang áp dụng mô hình một cơ quan giám sát hợp nhất tập
trung. Trong đó, Ủy ban dịch vụ tài chính, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai
hướng dẫn và giám sát hoạt động thực thi giám sát của Dịch vụ giám sát tài chính. Dịch
vụ giám sát tài chính chịu trách nhiệm giám sát ba mảng chính là Tập đoàn và bảo hiểm,
Ngân hàng và tổ chức Phi ngân hàng, Thị trường vốn.
Hình 3: Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Hàn Quốc hiện nay
Nguồn: Tổng hợp của học viên
Bank of
Korea
(BOK)
Financial
Supervisor
y
Service
(FSS)
Korea
Deposit
Insurance
Corporation
(KDIC)
Ministry of
Strategy
and Finance

Nhiệm vụ của FSS bao gồm: Kiểm tra và giám sát tình hình hoạt động kinh doanh
của các định chế tài chính được quy định trong Đạo luật về việc thành lập các tổ chức
giám sát tài chính; Xử phạt theo Luật định khi có hành vi vi phạm pháp luật; Hỗ trợ trong
việc thực hiện nhiệm vụ của FSC và SFC; Nhiệm vụ khác giao cho FSS theo pháp luật
hoặc các quy định khác có liên quan.
Dịch vụ giám sát tài chính (FSS) là cơ quan giám sát độc lập. Ngân hàng trung
ương Hàn Quốc, Bộ Chiến lược và tài chính, Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc
khi có nhu cầu về hoạch định chiến lược tài chính thì yêu cầu FSC cung cấp thông tin,
hoặc sẽ cử người cùng FSC và FSS thực hiện thu thập dữ liệu về giám sát cần thiết.
Ngân hàng trung ương Hàn Quốc, Bộ Chiến lược và tài chính, Tổng công ty Bảo
hiểm tiền gửi Hàn Quốc đưa ra các chính sách quản lý hoạt động của các định chế tài
chính. Khi có nhu cầu thông tin về tình hình giám sát trong nước để phục vụ cho việc
soạn thảo văn bản luật thì các đơn vị này yêu cầu FSC và FSS cung cấp tài liệu hoặc sẽ
cử người cùng FSS khảo sát số liệu cần thiết. Tuy nhiên không trường hợp FSC và FSS
cho rằng lý do yêu cầu thông tin của các đơn vị này không phù hợp với nguyên tắc bảo
mật thì FSC và FSS có quyền từ chối.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức giám sát của FSS
Đội ngũ lãnh đạo
Cơ cấu tổ chức của Dịch vụ Giám sát Tài chính bao gồm: một Thống đốc, ba Phó
Thống đốc, chín Trợ lý Thống đốc, và một Giám đốc điều hành kiểm toán.
16
Thống đốc Dịch vụ giám sát tài chính do Tổng thống bổ nhiệm. Các Phó Thống đốc
và Trợ lý Thống đốc của Dịch vụ Giám sát tài chính được bổ nhiệm theo quyết định của
Chủ tịch FSC dựa trên đề nghị của Thống đốc FSS. Giám đốc điều hành kiểm toán được
Tổng thống Hàn Quốc bổ nhiệm theo đề nghị của Ủy ban Dịch vụ tài chính.
Nhiệm kỳ của Phó Thống đốc, trợ lý thống đốc và các kiểm toán viên là ba năm, và
mỗi người trong số họ có thể được bổ nhiệm lại chỉ một lần.
Hình 4: Cơ cấu tổ chức hoạt động giám sát của FSS
Nguồn: />Thống đốc có quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm đối với toàn bộ nhân viên.
Phó Thống đốc, trợ lý thống đốc, kiểm toán viên, và người lao động không tham

trương ương tương ứng với các phòng ban của chính phủ.
Cùng với phát triển kinh tế, môi trừơng tài chính ngân hàng ngày càng phức tạp đòi
hỏi phải có mô hình giám sát quản lý phù hợp để cho thị trường tiền tệ phát triển. Do đó,
năm 1970, Quốc hội Singapore đã thông qua Luật quản lý tiền tệ dẫn đến sự ra đời của Cơ
quan quản lý tiền tệ (MAS) vào ngày 01/01/1971, đóng vai trò như ngân hàng trung ương
của Singapore. Thông qua đạo luật này (MAS Act), MAS được ủy quyền hoạt động như một
ngân hàng và là cơ quan đại diện tài chính của Chính phủ, nhằm giám sát và thúc đẩy ổn
định tiền tệ, tín dụng và chính sách ngoại hối có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế.
Tháng 04/1977, MAS thêm chức năng quản lý ngành bảo hiểm. Và tháng 09/1984,
MAS được chuyển giao quản lý thêm lĩnh vực chứng khoán.
Hiện nay, MAS đảm nhận chức năng giám sát, quản lý và điều hành các đạo luật
khác nhau liên quan đến tiền tệ, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các lĩnh vực tài
chính nói chung. Sau khi sáp nhập với Ban Ủy Viên tiền tệ vào ngày 01 Tháng 10 năm
2002 , MAS cũng đã thừa nhận chức năng phát hành tiền tệ.
16
1.2.2. Mô hình tổ chức hoạt động tài chính Singapore
Singapore có cấu trúc quản lý tài chính hợp nhất, cơ quan quản lý tiền tệ có quyền
điều hành lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.
Hình 5: Mô hình quản lý hệ thống tài chính Singapore

Nguồn:
Là cơ quan giám sát thống nhất tất cả lĩnh vực dịch vụ tài chính, MAS chỉ đạo giám
sát dựa trên rủi ro của các định chế tài chính. Điều này bao gồm việc cấp phép cho các
định chế tài chính cung cấp dịch vụ (đặc biệt là nhận tiền gửi), thiết lập các quy định và
chuẩn mực, các biện pháp xử lý các định chế, các nhân vi phạm.
MAS giám sát hệ thống tài chính để phát hiện các rủi ro tiềm năng, xu hướng mới
nổi để hướng dẫn và hỗ trợ các hoạt động quản lý cho các tổ chức tài chính.
MAS có trách nhiệm phải báo cáo thường niên cho Thủ tướng và Quốc hội trong
vòng sáu tháng kể từ kết thúc năm tài chính. MAS chịu trách nhiệm cuối cùng về chính
sách quản lý, giám sát, tiền tệ trước Quốc hội thông qua Bộ trưởng phụ trách MAS.

bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm. Bằng cách tiếp cận rủi ro tập trung, giám sát
thận trọng và tiến hành giám sát thị trường của các công ty bảo hiểm.
Đối với thị trường vốn: chia làm bốn vụ, cụ thể:
Vụ giám sát các tổ chức trung gian thị trường vốn: chịu trách nhiệm tiếp nhận và
giám sát thị trường vốn trung gian, bao gồm các đại lý và môi giới chứng khoán tương
lai, các công ty quản lý quỹ, các công ty tư vấn tài chính.
Vụ giám sát các tổ chức trung gian đầu tư: chịu trách nhiệm tiếp nhận và giám sát
việc cấp phép và kinh doanh của các trung gian đầu tư, bao gồm quản lý quỹ, các Công ty
đầu tư tín thác bất động sản; và các cơ quan xếp hạng tín dụng.
Vụ giám sát Ứng xử thị trường: giám sát việc chào bán chứng khoán, ủy thác kinh
doanh, bất động sản đầu tư tín thác và đầu tư tập thể; giám sát các giao dịch mua lại và
sáp nhập. Nó cũng thi hành hình phạt dân sự đối với hành vi sai trái của thị trường.
Vụ giám sát Chính sách Thị trường và Cơ sở hạ tầng: giám sát thị trường và cơ sở
hạ tầng bao gồm cả trung ương và địa phương để đạt được kết quả công bằng cho người
gửi tiền, nhà đầu tư và người mua bảo hiểm.
Đối với việc giám sát thực thi chính sách, rủi ro đặc biệt
Vụ chính sách an toàn: bảo đảm an toàn vốn cho ngân hàng, công ty bảo hiểm và
công ty chứng khoán để thúc đẩy tài chính bền vững. Giám sát việc thực hiện theo các
tiêu chuẩn vốn của Basel III. Giám sát các chính sách về tín dụng nhà ở và tín dụng
không có tài sản bảo đảm Đánh giá chính sách của MAS về việc cấu trúc hệ thống ngân
hàng và tăng cường khung pháp lý cho các ngân hàng, công ty tài chính.
Vụ Quản lý các rủi ro đặc biệt: đánh giá các quy trình quản lý rủi ro và kiểm soát
của các tổ chức tài chính và hệ thống thanh toán. Đồng thời, giám sát các rủi ro vĩ mô của
tài chính và tìm giải pháp hiệu quả giải quyết rủi ro đó. Tập trung vào rủi ro tài chính và
nguy cơ công nghệ, quản lý kinh doanh; hệ thống thanh toán và cơ sở hạ tầng.
Vụ giám sát kinh tế vĩ mô: xác định xu hướng mới nổi và các lỗ hổng giám sát và
đánh giá sự phát triển của G-3 và thị trường tài chính quốc tế. Nghiên cứu các chính sách có
liên quan đến quan hệ vĩ mô, rủi ro hệ thống và các vấn đề ổn định tài chính khác. Kết hợp
chặt chẽ với các cơ quan giám sát của MAS để đảm bảo ổn định tài chính vi mô và vĩ mô.
16

quan
thanh
tra,
giám
sát NH
16
Hình 7: Mô hình tổ chức hoạt động giám sát của Việt Nam

(Nguồn: trích Tạp chí Phát triển và Hội nhập số tháng 5/2013)
1.3.3. Cơ cấu tổ chức giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
Cơ cấu tổ chức: bao gồm Vụ, Cục, Văn phòng tại trụ sở chính và các Cục Thanh
tra, giám sát ngân hàng đặt tại một số tỉnh, thành phố.
- Cục trưởng Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng được ra quyết định thành lập đoàn
thanh tra, và tiến hành thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
- Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.
Hình 8: Cơ cấu tổ chức giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nguồn: Thu thập của học viên
1.3.4. Mục tiêu giám sát:
- Bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng.
- Bảo vệ quyền và lợi ích của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng.
- Bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng.
16
Chương 2. Đối sánh ba mô hình tổ chức giám sát ngân hàng
2.1. Đặc điểm chung
Ba mô hình tổ chức giám sát tài chính của Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam đều
hướng tới mục tiêu chung là đảm bảo sự an toàn của hệ thống tài chính, đảm bảo quyền
lợi của người tiêu dùng, đảm bảo tính minh bạch và công khai trong hoạt động tài chính.
2.2. Đặc điểm riêng
2.2.1. Lựa chọn mô hình tổ chức giám sát
Ta nhận thấy trong ba nước nghiên cứu tồn tại hai loại mô hình tổ chức giám sát, đó

giữa các cơ quan giám sát chuyên
ngành với nhau, dẫn đến đùn đẩy
trách nhiệm trong việc giải quyết vấn
đề phát sinh trên thị trường.
Chi phí
cho các
cơ quan
- Hiệu quả trên quy mô: Quy mô
hoạt động của MAS, FSC và FSS
rất lớn, do đó chuyên môn hóa cao
- Có thể không đạt tính kinh tế theo
quy mô: do không tận dụng được về
nguồn lực và cơ sở hạ tầng
16
thanh tra
giám sát
hơn, tận dụng được các yếu tố đầu
vào -> Phù hợp với các nước nhỏ.
- Nắm bắt công nghệ thông tin trở
nên dễ dàng và hiệu quả hơn.
- Hiệu quả hơn trong việc thu hút,
phát triển và giữ chân đội ngũ nhân
viên.
- Tính kinh tế theo phạm vi: sử dụng
nguồn lực tập trung để kiểm soát các
hoạt động đa dạng của tổ chức tài
chính.
- Tốn kém trong việc liên lạc, trao
đổi thông tin giữa các cơ quan giám
sát chuyên ngành

Ưu điểm:
- Ngân hàng trung ương nắm bắt thông tin kịp thời và chính xác về tình trạng và
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Đây chính là điều kiện tiên quyết để thực thi, xây
dựng chính sách tiền tệ. Kịp thời hỗ trợ, thực hiện chức năng là người cho vay cuối cùng.
Nhược điểm:
- Việc vừa giám sát vừa điều chính chính sách tiền tệ có thể dẫn đến lạm dụng
quyền lực, không khách quan trong việc đánh giá hiệu quả của chính sách.
- Rủi ro danh tiếng: nếu ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm giám sát nhưng lại
để xảy ra một vụ phá sản thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng trung ương đó, đồng
thời chính sách tiền tệ có thể thất bại.
2.2.3. Mức độ can thiệp của Chính phủ
Tổ chức giám sát tài chính là “cánh tay đắc lực” của Chính phủ trong việc đảm bảo
minh bạch và ổn định hoạt động của các định chế tài chính trong nền kinh tế. Do đó, đánh
giá mức độ can thiệp của Chính phủ vào tổ chức giám sát tài chính rất quan trọng.
Tại Hàn Quốc, lãnh đạo của FSC, SFC và FSS đều không được gia nhập Đảng phái
chính trị hay tham gia bất kỳ hoạt động chính trị nào khác ngoài nhiệm vụ được giao tại
đơn vị công tác. Điều này được quy định tại Điều 7 của Đạo luật về việc thành lập các tổ
chức giám sát tài chính. Những quyết định của FSC, SFC và FSS đưa ra để giám sát tài
chính không bị ảnh hưởng bởi quyền lợi chính trị của Đảng phái nào mà dựa trên ý kiến
đồng thuận tại Quốc Hội. Do đó, có thể nói mô hình tổ chức giám sát của Hàn Quốc độc
lập với Chính phủ nước này.
Bên cạnh đó, tại Singapore và Việt Nam thì mức độ độc lập của tổ chức giám sát có
phần thấp hơn. Tại Việt Nam, các chính sách giải quyết Ủy ban giám sát tài chính quốc
gia đều dựa trên chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Luật do Quốc hội thông qua. Còn tại
Singapore thì MAS có khả năng tự đưa ra chính sách giải cứu thị trường nếu thấy cần
thiết mà không cần thông qua quyết định của Chính phủ.
16
Chương 3: Kết luận và đề nghị
Mô hình giám sát ngân hàng của SBV là mô hình giám sát chuyên ngành, trực
thuộc Ngân hàng nhà nước.

core principles for Efective banking supervision.
9. PGS. TS. Đoàn Thanh Hà và Phan Thị Thúy Diễm, “Lựa chọn mô hình giám sát
Ngân hàng, Kinh nghiệm các nước và bài học cho Việt Nam”, Chuyển động Chính
sách tiền tệ và Tài khóa, Số 10 (20) - Tháng 05-06/2013.
10.Nghị định số 26/2014/NĐ-CP về Tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát
ngành ngân hàng.
11.Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16.06. 2010
12.Nghị định 156/2013/NĐ-CP, ngày 11/11/2013, Cơ cấu tổ chức Ngân hàng nhà
nước Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status