giải pháp phát triển thị trường trái phiếu ở việt nam hiện nay - Pdf 22

MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân trên 8%/năm. Để đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy, thì yếu tố nguồn
vốn phục vụ cho việc phát triển kinh tế chiếm giữ vai trò quan trọng.
Việc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước của Việt Nam đã đạt được kết quả
hết sức khả quan. Nếu như nguồn vốn trong nước, gồm nguồn vốn huy động từ dân
cư, cá tổ chức kinh tế, giữ vai trò chủ đạo thì nguồn vốn nước ngoài, gồm vốn
FDI, ODA, FPI, là động lực và cơ sở để thay đổi công nghệ. Điều này thể hiện
chính sách, thể chế, luật pháp của Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới kịp
thời nhằm phù hợp hơn với xu thế quốc tế hóa. Tuy nhiên, việc huy động vốn trong
nước cũng chưa thật sự phát triển mạnh, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn.
Do đó, để đẩy nhanh việc huy động nguồn huy động dài hạn thì việc phát triển thị
trường vốn trong thời gian sắp tới là rất cần thiết. Đặc biệt là phát triển thị trường
chứng khoán, đây là kênh dẫn vốn quan trọng để phát triển nhanh nền kinh tế đất
nước.
Vừa qua, thị trường chứng khoán đã có những bước phát triển đáng kể cả về quy
mô và chất lượng hàng hóa trên thị trường. Tuy nhiên, hiện nay chỉ tập trung phát
triển thị trường cổ phiếu mà chưa đặc biệt quan tâm đến việc phát triển thị trường
trái phiếu. Do vậy, thị trường trái phiếu là thị trường hết sức tiềm năng, cần có cơ
chế, chính sách để đẩy mạnh phát triển thị trường này trong tương lai.
Với tính cấp thiết của việc phát triển thị trường trái phiếu mà nhóm em chọn đề tài
“Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam” nhằm đưa ra những giải
pháp có tính chất định hướng trong ngắn hạn và dài hạn.
Phần nội dung
Chương 1:sơ lược về thị trường chứng khoán
1.1khái niệm:
 Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn,
hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội
tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và
Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
 Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán

1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế;
2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng;
3. Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán;
4. Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế;
5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô.
1.4.các hình thức của thị trường:
1. Thị trường tập trung
2. Thị trường phi tập trung (OTC);
3Thị trường chợ đen
Chương 2:thị trường trái phiếu-một bộ phận của thị trường chứng khoán.
2.1. Khái niệm
Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế
chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng
của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường trái phiếu là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư
và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và
nền kinh tế nói chung.
2.2. Phân loại thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
2.2.1. Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành. Trên thị
trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc
nhà đầu mua các trái phiếu mới phát hành
- Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua
việc phát hành chứng khoán
- Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhà rỗi tạm
thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền san dạng vốn dài hạn.
2.2.2. Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường
sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị

Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu:
+ Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào
chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt
ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó.
+ Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của
lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao.
+ Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như
nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
3.2.3. Giá mua:
Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà nhà đầu tư bỏ ra để có được quyền sở
hữu trái phiếu. Giá mua có thể bằng, cao, hoặc thấp hơn mệnh giá. Tuy nhiên dù
giá mua thế nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá. Và đến ngày đáo
hạn, trái chủ sẽ được trả lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu.
Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu:
+ Kỳ hạn của trái phiếu: kỳ hạn càng dài, tính biến động của trái phiếu càng
lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường.
+ Lãi suất tín dụng dài hạn: khi lãi suất này hạ thấp thì nhiều nhà đầu tư mua
TP làm cho cầu TP tăng và giá TP tăng và ngược lại
+ Tình hình lạm phát: khi nhà đầu tư mua TP các công ty phát hành cam kết
sẽ trả một lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn của TP. Do đó khi lạm phát xảy ra, giá
TP sẽ giảm.
+ Tình hình kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp phát hành
+ Rủi ro về tỷ giá
+ Rủi ro thanh lý: rủi ro về tính thị trường phụ thuộc vào khả năng bán dễ dàng
một TP mới.
+ Rủi ro do biến cố bất ngờ
+ Rủi ro TD: nguy cơ công ty phát hành không có khả năng chi trả đúng hạn, tức là
không có khả năng chi trả mệnh giá và lãi đúng hạn
3.2.4. Thời hạn:
Thời hạn của trái phiếu là số năm theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những

- Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài
hạn.Trái phiếu công ty có đặc điểm chung sau:
Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham
dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả
lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại
mệnh giá. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán
trước các cổ phiếu. Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm
bảo cho khoản vay.
Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
+ Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp
cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được
bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ
đối với một tài sản cụ thể.
+ Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản
mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái
chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm,
nhưng trước cổ động. Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ
được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ
theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào,
hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.
Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn
kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên
nào đó. Cụ thể là:
+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước
khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất
lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với
những trái phiếu khác có cùng thời hạn.
+ Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại
trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong
trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp

- Chính phủ: Chính phủ phát hành trái phiếu nhằm thu hút vốn cho đầu tư phát
triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình trọng điểm quốc gia, phục vụ phát
triển kinh tế.
- Chính quyền địa phương: Chủ yếu cho các địa phương huy động vốn phục vụ cho
việc xây dựng các công trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ
yếu phát hành thông qua công chúng của chính địa phương đó thông qua KBNN.
- Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu nhằm
huy động vốn trung dài hạn, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, cho vay tín dụng của
ngân hàng.
- Doanh nghiệp: Các doanh nghiệp tham gia thị trường vói tư cách là nhà phát
hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp, doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm huy
động vốn, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh.
4.2. Phân tích thực trạng thị trường trái phiếu VN hiện nay
4.2.1. Quy mô nhỏ, thanh khoản thấp
Bất cập thứ nhất, hiện thị trường trái phiếu Việt Nam có quy mô quá nhỏ. Chủ yếu
trái phiếu Chính phủ đang ''thống lĩnh'' thị trường, trong khi trái phiếu của các DN
phát hành rất hạn chế. Tính thanh khoản của các loại trái phiếu còn thấp.
Trái phiếu Chính phủ là loại chứng khoán có độ an toàn cao nhất; nhưng đầu tư
vào loại trái phiếu này chỉ đem lại một mức thu nhập khiêm tốn.
''Theo nguyên tắc của kinh tế thị trường, muốn kiếm được lợi nhuận cao thì cần
phải chấp nhận rủi ro cao. Thị trường trái phiếu Việt Nam cũng như các nhà đầu tư
cần những loại trái phiếu có độ rủi ro cao hơn vì hứa hẹn những khoản thu nhập
cao hơn. Cần có những biện pháp khuyến khích các công ty huy động vốn qua thị
trường chứng khoán thay vì qua kênh ngân hàng như truyền thống. Ví dụ việc ra
đời và hoạt động của Công ty định mức tín nhiệm sẽ giúp cho thị trường có các
mức giá (chi phí huy động vốn) phù hợp với từng đối tượng công ty - theo độ tín
nhiệm của mình. Việc phát hành trái phiếu của các công ty sẽ được tiến hành một
cách nhanh chóng với chi phí thấp hơn''.
Thị trường TPCP thiếu một cơ chế giao dịch có khả năng cung cấp thanh khoản
cho các trái phiếu Chính phủ như các nhà tạo lập thị trường, hợp đồng mua lại.

được thành lập.
Số lượng các thành viên tham gia đấu thầu qua TTGDCK TP.HCM còn hạn chế, từ
năm 2002 trở về trước chỉ giới hạn ở các thành viên đấu thầu trong nước và số
lượng thành viên cũng không nhiều. Tính đến năm 2004, số thành viên đấu thầu đủ
điều kiện tham gia đấu thầu trên TTGDCK TP.HCM là 24 thành viên, trong đó chỉ
có 2 thành viên nước ngoài bắt đầu tham gia từ năm 2003. Số lượng thành viên đủ
điều kiện tham gia đấu thầu càng ít thì số lượng thành viên tham gia đấu thầu càng
hạn chế và lãi suất đặt thầu càng ít mang tính đại diện cho thị trường.
Thị trường trái phiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư và có rất nhiều
nguyên nhân khiến các nhà đầu tư ít quan tâm đến loại chứng khoán này. Lý do là
giao dịch trái phiếu đòi hỏi một lượng vốn lớn, chỉ thích hợp với các nhà đầu tư có
tổ chức, trong khi thị trường trái phiếu hiện nay có rất ít các nhà đầu tư có tổ chức.
4.2.3. Tính đồng bộ của thị trường này còn thấp
Khả năng tập trung và phân bổ nguồn lực tài chính qua thị trường chưa thực sự
hiệu quả, còn có sự chưa ăn khớp giữa cơ cấu và kỳ hạn huy động vốn với sử dụng
vốn. Sự phối hợp giữa các kênh huy động vốn còn chưa đồng bộ; vai trò của trái
phiếu Chính phủ trong việc định hướng lãi suất thị trường còn hạn chế. tỷ lệ huy
động vốn dài hạn qua kênh tín dụng ngân hàng hiện nay thấp. Trong khi đó, việc
sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn cho đầu tư dài hạn, làm giảm hiệu quả sử dụng và
tăng nguy cơ rủi ro tài chính; việc phối hợp điều hành lãi suất giữa thị trường tiền
tệ và thị trường vốn chưa thật ăn khớp, tiến trình cải cách hệ thống tổ chức tín dụng
còn chậm; việc kiểm soát các dòng vốn trong nền kinh tế chưa thực sự có hiệu quả,
vẫn còn tình trạng vốn dài hạn chuyển sang đầu tư ngắn hạn và ngược lại.
4.2.4. Hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh:
Khung pháp luật mới được hình thành bước đầu; một số lĩnh vực vẫn chưa có hệ
thống văn bản pháp lý hoàn chỉnh, nhất là lĩnh vực chứng khoán. Các nguyên tắc
quản lý và chuẩn mực quốc tế về tính minh bạch, kế toán, kiểm toán tuy đã được
áp dụng nhưng còn ở phạm vi hẹp.
''Sự phối hợp trong điều hành chính sách lãi suất giữa các cơ quan chức năng như
Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước còn bất cập.Một số đợt phát hành trái phiếu

nhà đầu tư. Khối lượng trúng thầu thấp cộng với một số nhỏ các nhà đầu tư nắm
giữ sẽ làm giảm tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường thứ cấp.
Hiệu ứng vòng luẩn quẩn (vicious circle) cũng là một nguy cơ. Thị trường trái
phiếu thanh khoản thấp càng làm giảm tính hấp dẫn của nó đối với các nhà đầu tư,
và càng ít nhà đầu tư càng làm giảm tính thanh khoản của thị trường. ''Đây là hiện
tượng thường thấy trên các thị trường trái phiếu mới nổi và mới đi vào hoạt động.
Sẽ có ít nhà đầu tư muốn tham gia mua trái phiếu lần đầu trên thị trường phát hành
cũng như mua lại trên thị trường thứ cấp nếu biết rằng khả năng bán lại các trái
phiếu đó là rất ít, hoặc nếu có họ phải chờ một thời gian khá lâu và bỏ lỡ các cơ hội
đầu tư khác''.
4.2.6. Từ phía các công ty: Chưa quen với kênh huy động vốn thông qua phát
hành trái phiếu
Thị trường trái phiếu công ty kém phát triển do các công ty chưa quen với việc huy
động vốn vay trực tiếp qua phát hành trái phiếu mà vẫn dựa vào nguồn vốn vay của
ngân hàng, đặc biệt là các Tổng công ty lớn, các DN Nhà nước do có khả năng tiếp
cận các nguồn vốn vay ngân hàng, vay ưu đãi. Các đơn vị này cũng thiếu tổ chức
định mức tín nhiệm giúp cho việc xác định tín nhiệm và làm tăng tính minh bạch
cho các trái phiếu phát hành; chưa xây dựng được đường cong lợi suất phi rủi ro
cho TPCP phát hành làm tiêu chuẩn cho việc định lãi suất phát hành các công cụ
nợ khác như trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị
4.2.7: Thông tin thị trường
Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, nguyên nhân quan trọng khiến thị
trường trái phiếu của Việt Nam kém hấp dẫn chính là việc thiếu một hệ thống cung
cấp thông tin đầy đủ. Thể hiện rõ nhất là cho đến nay vẫn chưa có những công ty
định mức tín nhiệm.
Hiện nay, trên thị trường đang có 3 loại trái phiếu và được phát hành bởi Chính
phủ, chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, quy mô phát
triển của thị trường này còn nhỏ bé (chỉ chiếm 7% GDP). Bên cạnh những vướng
mắc xuất phát từ hệ thống văn bản chính sách khiến tính thanh khoản của trái phiếu
không được cao, lượng doanh nghiệp có uy tín tham gia phát hành thì việc thiếu

lượng thị trường, tính thanh khoản và tính minh bạch. Hiện nay tại Việt Nam, thị
trường trái phiếu chính phủ lớn mạnh hơn hẳn so với thị trường trái phiếu doanh
nghiệp, 15 tỉ USD so với 2 USD. Tổng lượng phát hành của nợ chính phủ năm
ngoái tăng 9,7% trong khi doanh số bán ra của doanh nghiệp giảm 94,2%.
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng của khu vực Đông Á mới nổi – quỹ hưu trí,
công ty bảo hiểm và các tổ chức an sinh xã hội – ngày càng trở thành những người
mua trái phiếu doanh nghiệp quan trọng của khu vực. Nhu cầu của họ cũng tăng
khi họ tìm thấy lợi nhuận cao hơn và khoản đầu tư dài hạn hơn so với trái phiếu
chính phủ.
Sự quan tâm của nước ngoài tới trái phiếu bằng đồng nội tệ của khu vực này vẫn
duy trì ở mức cao tại hầu hết các thị trường trong năm 2011, mặc dù lượng đầu tư
nước ngoài vào Indonesia đạt mức cao nhất trong khu vực, vẫn bị chững lại vào
cuối năm 2011.
Năm ngoái, các thị trường tăng trưởng mạnh nhất trong khu vực là các thị trường ở
Việt Nam, Singapore và Malaysia với mức tăng lần lượt là 16,5%, 13,1%, và
10,4%. Philipines, Trung Quốc và Indonesia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất là ba
tháng cuối năm 2012.
4.4.Thị trường trái phiếu Việt Nam: Những thành tựu và hạn chế
4.4.1Bức tranh thị trường trái phiếu năm 2011
Mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011 – 2020
là tăng quy mô, độ sâu và tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán; Phấn đấu
đưa tổng giá trị vốn hóa trị trường cổ phiếu đạt khoảng 70% GDP vào năm 2020;
Đưa thị trường trái phiếu trở thành một kênh huy động và phân bổ vốn quan trọng
cho phát triển kinh tế; Đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, phát triển hệ thống nhà đầu tư
tổ chức, khuyến khích đầu tư nước ngoài dài hạn và đào tạo nhà đầu tư cá nhân.
Nhiệm vụ phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là thị trường trái phiếu chính
phủ được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu trong của Chiến lược.
Năm 2011, kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thách thức từ
cả những yếu tố bên ngoài (khủng hoảng nợ công, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao…) lẫn
các yếu tố nội tại của nền kinh tế (lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; hệ thống

đấu thầu đã huy động được 81.715,8 tỷ đồng (gấp gần 3 lần khối lượng trúng thầu
năm 2010), trong đó huy động trái phiếu kho bạc đạt 62.153,8 tỷ đồng, đạt khoảng
80% kế hoạch huy động. Lãi suất phát hành tuy ở một mặt bằng mới cao hơn năm
trước, song vẫn thấp hơn khoảng 2% so với lãi suất huy động của hệ thống ngân
hàng.
Toàn bộ trái phiếu Chính phủ phát hành qua kênh đấu thầu và bảo lãnh đều được
thực hiện niêm yết trên thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt theo quy định.
Trên thị trường thứ cấp, từ cuối năm 2010 sang năm 2011, lãi suất trái phiếu Chính
phủ đã ồ ạt tăng mạnh ở tất cả các kỳ hạn. Lãi suất đạt đỉnh vào thời điểm đầu
tháng 6/2011, với lãi suất kỳ hạn 1 năm, 3 năm và 10 năm tương ứng là 13,532%,
13,234% và 12,385%. Sau khi đạt đỉnh này, lãi suất trái phiếu Chính phủ giảm dần,
tuy vậy kết thúc năm 2011 vẫn đứng ở mức cao. Có thể phân chia thành 3 giai
đoạn thay đổi lãi suất trái phiếu Chính phủ trong năm 2011 gồm:
- Giai đoạn I (từ đầu năm đến tháng 5/2011): lãi suất trái phiếu Chính phủ liên tục
tăng, đặc biệt với kỳ hạn 1 năm khi đạt đỉnh ở mức 13,532% vào ngày 26/5/2011.
Nguyên nhân chủ yếu là do lạm phát tăng rất mạnh trong những tháng này (chỉ số
CPI tăng bình quân 2,1%/tháng).
- Giai đoạn II (từ tháng 6/2011 đến đầu tháng 10/2011): lãi suất giảm nhanh trong
giai đoạn tháng 6, 7 và giảm chậm dần trong tháng 8, 9/2011. Nguyên nhân là do
lạm phát phi mã lập đỉnh vào tháng 6 sau đó giảm dần các tháng tiếp theo cùng với
nó là việc Ngân hàng Nhà nước siết chặt trần lãi suất 14%, đặt mục tiêu hạ lãi suất
cho vay xuống 17-19%.
- Giai đoạn III (quý IV/2011): lãi suất có xu hướng tăng trở lại do xuất hiện nhiều
vụ vỡ nợ tín dụng đen, rủi ro tín dụng trên thị trường tăng lên. Một số ngân hàng
thương mại bắt buộc phải nhận hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước.Kết
thúc năm 2011, tình hình vẫn chưa có thay đổi khi lãi suất ngắn hạn vẫn cao hơn
dài hạn. Đây là chỉ báo rõ ràng chứng tỏ thị trường vẫn chưa quay trở lại với trạng
thái thông thường, nguy cơ khủng hoảng thanh khoản đang còn hiện hữu.
Hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt đã được vận hành ổn định, an toàn với
quy mô giao dịch 90.221 tỷ đồng, giá trị giao dịch bình quân phiên đạt 364 tỷ

+ Cải tiến quy trình phát hành, rút ngắn thời gian từ đấu thầu lên niêm yết và giao
dịch, đồng thời cũng để kết nối thị trường sơ cấp với thị trường thứ cấp. Đáng lưu
ý là bất chấp yếu tố vĩ mô không thuận lợi nhưng thị trường trái phiếu vẫn thu hút
được nhà đầu tư đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài tham gia trên thị trường.
+ Nhằm tạo hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu, ngay đầu năm 2011, Chính
phủ đã ban hành Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về “Phát hành trái
phiếu chính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa
phương”, Nghị định quy định thêm về hoán đổi trái phiếu, đưa ra khái niệm về nhà
tạo lập thị trường. Tiếp theo, Nghị định số 90/2011/NĐ-CP ngày 14/10/2011 về
phát hành trái phiếu DN có hiệu lực đã tạo điều kiện nhằm khơi thông nguồn vốn
trên thị trường trái phiếu DN, mở rộng phạm vi điều chỉnh, nâng cao tiêu chuẩn,
quy định thêm phương thức phát hành…
- Đối với thị trường thứ cấp:
+ Hình thành cấu trúc với các quy định pháp lý cơ bản của một thị trường giao dịch
theo các tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống giao dịch, thông tin, thanh toán bù trừ và
đang ngày càng được hoàn thiện phù hợp với điều kiện thị trường cũng như tăng
tính thanh khoản, tạo sự sôi động cho các giao dịch trái phiếu.
+ Sự kết nối giữa thị trường thứ cấp và sơ cấp trái phiếu ngày càng được củng cố
chặt chẽ thông qua sự gắn kết về lãi suất giữa hai thị trường và quy trình phát hành
– niêm yết được rút ngắn từ 11 ngày xuống 6 ngày làm việc, đẩy nhanh quá trình
tạo hàng trên thị trường thứ cấp và cơ hội đầu tư cho thành viên.
+ Hệ thống thành viên với vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường thứ
cấp và sơ cấp tiếp tục được giữ vững, tạo tiền đề xây dựng mô hình nhà tạo lập thị
trường cho thị trường trái phiếu.
Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn cần phải sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển chung của Việt Nam và thế giới đó
là:
+ Về cơ cấu kì hạn: nếu tiếp tục thực hiện phát hành và niêm yết với xu hướng tập
trung tại các kỳ hạn ngắn trong nhiều năm sẽ tạo áp lực trả nợ trong ngắn hạn rất
lớn. Thêm vào đó, các tổ chức phát hành có tình trạng phát hành cùng kỳ hạn nên

Khi gia nhập WTO, cũng có nghĩa là phải mở cửa và hội nhập, phải chấp nhận
những điều khoản đã ký kết với các đối tác nước ngoài và của WTO, trong đó có
lĩnh vực dịch vụ, bao gồm cả tài chính, ngân hàng và đương nhiên có cả TTCK.
Trong điều kiện đó, sự phát triển của TTCK vừa có những thuận lợi rất cơ bản,
nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn.
Hai thuận lợi cơ bản:
Thứ nhất, là tăng trưởng chu chuyển vốn, trong đó đầu tư nước ngoài tăng đáng
kể (riêng lĩnh vực đầu tư trên TTCK của các nhà đầu tư nước ngoài như đã nêu
trên đã lên đến 4 tỉ USD). Đây là một trong những vấn đề quan trọng thúc đẩy cho
việc tăng trưởng kinh tế ở nước ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status