Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
Lời mở đầu
Trong những năm qua với sự nỗ lực cao của chính phủ và các bộ nghành kinh tế
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta đã đạt được những thanh tựu nhất định, nhất là
giá trị sản xuất và giá trị xuất khẩu tang trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch
tích cực đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên mặc dù đến nay đã là
năm cuối thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
giai đoạn 2001-2010 nhưng phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn vẫn còn chậm
nhất là nông trưởng nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững, năng lực cạnh tranh
yếu, chất lượng nông sản thấp, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn chậm
phát triển, thể chế nông thôn chậm đổi mới… Thực tế đó đòi hỏi cần phải có các
giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế nông
nghiệp và nông thôn.
Nhằm hiểu rõ hơn về vấn đề kinh tế trên nhóm chúng tôi xin chọn đề tài “ Thực
trạng và giải pháp của nghành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay”. Đề tài này rất
rộng mang tính thời sự, tuy nhiên do hiểu biết của nhóm còn hạn chế nên chúng tôi
chỉ xin đống góp một phần nhỏ hiểu biết của mình. Mong thầy cô và các nhóm góp
ý thêm.
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 1
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới khu vực nông thôn Việt Nam đã có sự
thay đổi rõ rệt cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịc vụ phát
triển mạnh, hình thành và phát triên các mô hình kinh tế mới (Khu công nghiệp,
trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả
thu hút nhiều lao động nông thôn tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế. Kết cấu
kinh tế – xã hội ở nông thôn có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường, trường, trạm,
cơ sở y tế, nước sạch, môi trường được quan tâm và đẩy mạnh. Công tác xóa đói
giảm nghèo đạt thành tích đáng kể tỉ lệ hộ nghèo giảm. Măc dù việc xây dựng và
thực hiện các chương trình phát triển đối với một số nghành nông nghiệp mới được
Khu vực nông nghiệp đã góp phần giải quyết công ăn viêc làm cho hàng triệu
lao động, tiếp tục là ngành chính tạo ra thu nhập chính cho người nghèo. Tính đến
cuối năm 2009, khu vực nông nghiệp nông thôn có 15,57 triệu hộ ra đình (chiếm
69.37% tổng số hộ gia đình của cả nước) và dân số là 60,41 triệu người (chiếm
70,37% tổng số dân cả nước) có trên 24 triệu lao động đang làm việc trên lĩnh vực
nông nghiệp, chiếm tỷ trọng gần 60% tổng số lao động đang làm việc trong các
khu vực kinh tế của cả nước.
Một nền nông nghiệp hướng vào sản xuất hàng hóa đã bước đầu hình thành.
Diện tích tích gieo trông các loại cây trông mà sản phẩm tạo ra dành nhiều cho
xuất khẩu hoặc phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng trong nước đã tăng lên như
diệ tích các loại cây rau quả, cây công nghiệp ngằn ngày có hướng tăng nhẹ
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 3
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
khoảng 2 - 4%/năm. Diên tích các cây lâu năm tăng gần 80 nghìn ha, riêng trong
năm 2009 do giá xuất khẩu một số nông sản này tăng. Những dịch chuyển này đã
tạo ra sự hình thành các vùng chuyên canh, đặc biệt là vùng sản xuất các loại cây
rau quả, quả xuất khẩu như vải, bưởi, sầu riêng, na, xoài… cùng với sự hình thành
các mô hình sản xuất hành hóa nông sản lớn. Bên cạnh đó thì những cây trồng có
địng hướng phục vụ cho các ngành nông nghiệp chế biến các sản phẩm chỉ tiêu
dùng nội địa thể hiện sự khó khăn, không có năng lực phát triển như cây mía
đường, bông, gia súc…
Một số nét mới trong phát triển nông nghiệp là đã xuất hiện một số mô hình tổ
chức sản xuất kiểu mới như kinh tế trang trại, cao su tiêu điền, cà phê nhân dân, tổ
hợp tác tự nguyện, hợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ cho kinh tế hộ. Tính đến năm
2009 cả nước đã có 135,437 trang trại, trong đó có 39,769 trang trại trồng cây hàng
năm, 23,880 trang trại trồng cây lâu năm, 20,809 trang trại chăn nuôi và 35,489
trang trại nuôi trồng thủy sản, tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bào Sông Cửu
Long. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã dịch vụ trong nông nghiệp cũng là một nét
mới đáng ghi nhận trong tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay.
và nhà máy chế biến. Như đối với ngành hạt điều , từ chỗ mới có vài chục ngàn ha
với sản lượng đáp ứng tiêu dùng nội địa, đến nay nhà nước đã có trên 400.000 ha
điều, tuy nhiên công suất của các nhà máy chế biến đã vươt quá khả năng cung ứng
nguyên liệu điều thô trong nước. Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong lĩnh vực
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 5
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
thủy sản. Trong 3 năm trở lai đây, năng lực của các nhà máy chế biến thủy sản tăng
tới 20% trong khi sản lượng khai thác và nuôi trông chỉ tăng 7,6%.
Quy mô sản xuất nhỏ, hoạt động sản xuất còn manh mún.
Ví dụ như đối với ngành cà phê, cho tới nay, cà phê thuộc các gia đình nông dân
quản lí đã chiếm trên 90% tong diện tích cà phê cả nước, trong đó có tới 53% chủ
vườn có diện tích cà phê dưới 1 ha và 85% chủ vườn có diện tích cà phê dưới 2 ha.
Diện tích cà phê của các nông trường nhà nước đã ngày càng thu hẹp do chính sách
khoán đến hộ công nhân và bán vườn cây của các nông trường. Đối với cây cao su
đến năm 2009 diện tích cao su tiểu điền chiếm khoảng 50,2% tổng diện tích cao su
cả nước, tương đương với 338.480 ha. Do quy mô sản xuất nhỏ vốn đầu tư ít điều
kiện kinh tế nhiều hộ nông dân còn nghèo nên công nghiệp sau thu hoạch như phơi
sấy, chế biến và bao quản còn nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp.
Cơ cấu giống cây trồng và con vật nuooin còn nhiều điểm chưa hợp lí dẫn tới
cơ cấu sản phẩm nông nghiệp chưa hợp lí theo cả cung và cầu.
Ví dụ như diện tích cà phê như hiện nay chiếm tới 92,9% chủ yếu trồng bằng
hạt, diện tích cà phê, chè chỉ đạt trên 31.000 ha, chiếm khoảng 7% trong khi nhu
cầu tiêu dùng thì chủ yếu tập trung vào cà phê, chè. Hiện tượng này diễn ra tương
tự với nhiều loại cây trồng và vật nuôi khác. Cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi còn
thiếu đa dạng, tồn tại nhiều giống cây cho hiệu quả và naeng xuất thấp, nhiều
giống vật nuôi có chất lượng kém hơn so với sản phẩm cùng loại của cả nước.
Năng xuất lao động chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh
tranh yếu do đó chưa hình được các chuỗi giá trị nông sản mạnh và bền vững.
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
khi các mặt hàng nông sản của chung ta chưa làm chủ được thị trường thì sự thụ
động về mặt cung cầu càng tang lên đồng nghĩa với việc rủi do về giá cả càng trở
nên nghiêm trọng đối với người nông dân. Sự khó khan về vốn, sự yếu kém về kỹ
thuật trong các khâu phơi sấy, bảo quản dân đến người nông dân không làm chủ
được thời điểm tiêu thụ, buộc phải bán ngay vào thời điểm giá thấp. Sự bất ổn về
giá còn có nguyên nhân xuất phát từ chính người nông dân. Khi giá một loại nông
sản tăng lên trong một năm thì ngay mùa vụ sau, người nông dân lại đổ xô đi trồng
hoặc chăn nuôi loại nông sản đó, dẫn đến nguồn cung tăng đột biến, giá thành lập
tức hạ xuống.
Một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế còn tồn tại trong lĩnh vực nông
nghiệp hiện nay.
+ Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được thực hiện tốt, thiếu
những chiến lược và giải pháp nhằm qui hoạch ổn định, lâu dài đối với từng cây,
con, sản xuất phần nào còn mang tính phong trào tự phát gây ảnh hưởng tiêu cực
đối với các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn nước.
Ví dụ như đối với cây cà phê, mặc dù thủ tướng chính phủ đã có quyết định số
150/QĐ-TT của việc phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm
nghiệp và thủy sản cả nước đến năm 2015 và tầm nhìn 2020, quy mô cả nước duy
trì từ 450.000 đến 500.00 ha, nhưng thực tế hiện nay cả nước có khoảng trên
525.000 ha, nhiều diện tích trồng mới không nằm trong vùng quy hoạch, chủ yếu là
trồng trên những nới không thích hợp với đặc điểm sinh lí, sinh thái của cây cà
phê, do đó không những không đủ bù đắp sản lượng thiếu hụt của những diện tích
cà phê già cỗi mà còn đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của những diện tích cà
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 8
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
phê còn lại do môi trường bị hủy hoại. Theo số liệu của ngành nông nghiệp tỉnh
Đắc lắc, diện tích cà phê ở đây có lúc lên tới 270.000 ha, trong đó có đến hơn ½
phải tưới bằng ngồn nước ngầm. Tình trạng khai thác nước ngầm quá mức để phục
vụ tưới nước cho cây cà phê không tuân thủ theo đúng quy trình đã dẫn đến hiện
hạ tầng tại các vùng nông thôn chậm đươch xây dựng và nâng cấp gây khó khăn
cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nông thôn. Có tới 21%
doanh nghiệp nông thôn cho rằng chất lượng giao thong nông thôn còn rất kém và
là vấn đề nghiêm trọng cản trở phát triển.
Khó khăn về vốn cho sản xuất
Khi đa số hộ nghèo tập trung ở nông thôn và hầu hết người đan sống ở nông
thôn có thu nhập thấp thì vốn cho phát triển sản xuất là một vấn đề dặc biệt quan
trọng. Do không có vốn người nông dân không thể mở rộng sản xuất cũng như
không thể đẩu tư áp dingj các phương thức sản xuất tiên tiến, từ đó dẫn tới không
thể nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất. Việc thiếu vốn cũng dẫn đến người
nông dân bị thụ động trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, bị thương lái
ép giá. Tính tới cuối năm 2008, tổng dư nợ tín dụng nông nghiệp nông thôn đạt 248
nghìn tỉ dồng tăng, 15,1% so với năm 2007 nhưng chỉ chiếm 20% tổng dư nợ tín
dụng của nền kinh tế. Người nông dân không tiếp cận được với nguồn vốn từ khu
vực tài chính. Chính thức do thủ tục vay ngân hàng còn dườm dà trong khi giá trị
khoản vay thấp, dẫn tới chi phí vay cao. Hơn nữa, các yêu cầu cho vay từ phía các
ngân hàng là khá chặt chẽ, hông thường đòi hỏi có tài sản thế chấp( mà chủ yếu là
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 10
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
bất động sản) nên người nông đân không thể vay đươc do không có tài sản thế
chấp. Do đó người nông đân thường phải chấp nhân vay từ khu vực phi chính thức
với lãi suất cao hơn so với lãi xuất của ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng với
của thống ngân hàng cũng chưa có một hệ thống đánh giá rủi do hợp lí đẻ có thể
tiến hành các hoạt động cho vay quy mô, bản than các ngân hàng cũng không
muốn mở rộng cho người nông dân vay cho hoạt động sản xuất của họ mang nhiều
yếu tố rủi do dãn đén mất khả năng thanh toán
Một số giải pháp phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay
1: chính phủ cần sớm xây dựng và phê duyệt quy hoạch phát triển tổng thể đối
khuyến nông, hướng dẫn và đào tạo ngắn hạn cho người nông dân. Tăng cường
công tác đào tạo cho đội ngũ khuyến nông và nâng cao chất lượng hệ thống cán bộ
quản lý tại các vùng nông thôn.
7.Đẩy mạnh tạo lập thương hiệu cho hang hóa nông sản Việt Nam. Đối với các
nghành sản phẩm tạo ra giá trị xuất khẩu cao, đã chiếm linh được vị thế trên thị
trường thế giới, cần tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm để duy trì và nâng cao
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 12
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
thương hiệu hang hóa. Nhà nước và doanh nghiệp cùng phối hợp trong việc quảng
bá hình ảnh nông sản Việt Nam đến người tiêu dùng thế giới,có thể lồng khép
trong các hoạt động quảng bá du lịch. Tăng cường tham gia các sàn giao dịch nông
sản quốc tế, người nông dân cũng phải tham gia quá trình tạo lập thương hiệ bằng
cách tranh thủ nghiệm ngặt các quy trình đmr bảo chất lượng sản phẩm. Chỉ những
sản phẩm có chất lượng tôt mới có hình thành thương hiệu và định vị lâu dài trên
thị trường quốc tế. việc tạo lập thương hiệu cho hang hóa nông sản cần có sự tham
gia phối hợp của cả người nông dân, doanh nghiệp, các hiệp hội nghành nghề và
các cơ quan quản lý nhà nước.
8.Hình thành mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, thúc đẩy hơn nữa mối liên
kết “4 nhà”đặc biệt là mối liên kết giữa nhà nông và doanh nghiệp. Cần xây dựng
các mô hình tổ chức quản lý từ khâu trông trọt, chăn nuôi đến khâu thu hoạch, bảo
quản, chế biến và tiêu thụ tạo thành một chu trình khép kín hợp lý, giúp người
nông dân có thể liên minh với doanh nghiệp, sử dụng nhiều biện pháp như ký gửi
để có thể tiêu thụ theo kế hoạch lưu trữ sản phẩm để bvans khi có giá cao.
9.Xây dựng và phát triển các sàn giao dịch hành hóa nông sản tập trung là đầu
mối để người nông dân tiếp cận thi trường cũng như các doanh nghiệp tiếp cận với
nguồn sản xuất, giãm thiểu các khâu trung gian. Trên cơ sở phát triển của các sàn
giao dịch tập trung còn có thể hình thành thị trường các tài sản phát sinh như hợp
đồng giao sau, tang cường cơ hội lựa chọn cũng như tính ổn định trong khâu tiêu
thụ hang hóa cho người nông dân.
nghề nông. Tuy nhiên sản xuất nông nghiệp có độ rủi do cao do hoạt đọng sản xuất
của nó dựa vào yếu tố khách quan như dựa vào thời tiết, nguồn nước… Mặt khác,
do đặc điểm về sự co giãn cung cầu sản phẩm nông nghiệp thường làm cho giá sản
phẩm có nhiều biến động lớn. Vậy hiện nay nền nông nghiệp nước ta đang có
nhiều thuận lợi vào khó khăn gì những giải pháp nào đã và đang được chính phủ
nước ta đã được chính phủ nước ta đưa ra để thúc đẩy nâng cao sự phát triển cho
nền nông nghiệp.
GVHD: PHẠM VĂN THẮNG Lớp: CDTN12TH
Trang 15