Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1. 1. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển với tốc độ ngày càng
cao và hoạt động sản xuất kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hoạt động này trải
qua nhiều giai đoạn và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau tác động đến với những nguyên nhân
khách quan và chủ quan của nó. Mỗ doanh nghiệp để tồn tại được trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt
của nền kinh tế thị trường thì phải luôn luôn tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả cao nhất, và tùy
theo tình trạng của doanh nghiệp mà có thể đặt ra những mục tiêu khác nhau nhưng mỗ doanh nghiệp
đều không ngừng phát huy sáng tạo, không ngừng phát triển khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ, cải
tiến phương thức sản xuất nhằm nâng cao nâng suất lao động. Điều đó, đòi hỏi con người phải có nhận
thức đầy đủ, kịp thời và chính xác để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó tác động trực tiếp đến
kết quả sản xuất, tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi hoạt động tài chính ổn định sẽ thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh phát triển, và công tác tài chính tốt hay xấu sẽ thúc đẩy hay kìm hãm quá trình
sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính thì sẽ chủ động và thuận lợi hơn trong
việc tiến hành sản xuất, dự trữ cần thiết cũng như quá trình tiêu thụ sản phẩm… Vì vậy, mỗi doanh
nghiệp cần phải thường xuyên đánh giá tình hình tài chính và đây được coi là một công tác có vai trò rất
quan trọng đối với doanh nghiệp.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đã chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi lĩnh vựa. Đặc biệt lĩnh vực kinh tế được chính phủ
quan tâm cộng với các chính sách và biện pháp kinh tế tích cực để nước ta có đủ điều kiện hòa nhập với
nền kinh tế thế giới. Năm 2006, nước ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế giới
WTO, đây cũng là cơ hội và thách thức cho mỗi doanh nghiệp. Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, phát triển kết cầu hạ tầng cơ sở, lĩnh vực cầu đường bộ càng được
chú trọng làm mới, xây dựng, tu sửa. Trước thực trạng đó, để phát huy hết khả năng của doanh nghiệp và
có những quyết định chính xác về phương thức, mục tiêu đầu tư, các biện pháp quản lý, sử dụng tài
chính một cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Để có thể phân tích được tình hình thực tế và khả năng hoạt động, ưu nhược điểm của quá trình hình
2.1.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được tiến hành thường xuyên liên tục, nó phong phú
và phức tạp, được phản ảnh và tính toán bằng những quy tắc nhất định thể hiện ở những thông tin kế
toán, đồng thời được đối chiếu với thông tin kế hoạch. Để thấy được bức tranh toàn cảnh và tình hình tài
chính, thấy được bản chất hoạt động, ưu nhược điểm của quá trình hình thành và sử dụng nguồn vốn của
doanh nghiệp, thấy được chất lượng hoạt động tài chính, những nguyên nhân ảnh hưởng, mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đến sự thay đổi các chỉ tiêu phân tích, người ta đi sâu nghiên cứu mối quan hệ
qua lại được thể hiện dưới hình thức tiền tệ, phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền
tệ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng những phương pháo khoa học.
Trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp mới để khắc phục hạn chế sai sót, phát huy những mặt tích cực
đồng thời khai thác hiệu quả những tiềm năng tài chính của đơn vị và công tác đó chính là phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là hoạt động thực tiễn nó là một giai đoạn của quá trình
quản lý là cơ sở để có thể đề ra những quyết định quản lý tài chính đúng đắn.
2.1.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình
hình cung ứng vật tư, nguyên vật liệu nếu không thực hiện tốt ảnh hưởng đến năng suất lao động chất
lượng sản phẩm, sản phẩm không tiêu thụ được ... sẽ làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp gặp
khó khăn. Ngược lại, công tác tài chính tốt hay xấu sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất kinh
doanh, thúc đẩy tăng năng suất lao động, chẳng hạn khi có đủ vốn thì sẽ chủ động và thuận lợi hơn trong
việc tiến hành sản xuất, dự trữ cần thiết cho sản xuất cững như tiêu thụ sản phẩm... Vì thế cần phải
thường xuyên, kịp thời kiểm tra đánh giá phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp và công tác này
được xem là có vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết.
Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ chính xác tình hình phân phối, sử dụng quản
lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn và xu hướng vận động tài chính của
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp khai thác sử dụng, bảo toàn nâng cao hiệu qủa sử dụng
năng lực tài chính và những nguồn tài chính tiềm tàng. Đồng thời, việc phân tích tình hình tài chính là
công cụ không thể thiếu, nó phục vụ cho công tác quản lý của các cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính,
ngân hàng, thuế... như: Đánh giá tình hình thực hiện chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem
xét việc cho vay vốn...
cơ sở để dự tính doanh nghiệp sẽ hoạt động ra sao trong tương lai.
2.1.5. Phương pháp sử dụng khi phân tích, tình hình tài chính doanh nghiệp.
a. Doanh nghiệp sử dụng phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu được dùng trong phân tích tài chính doanh nghiệp,
yêu cầu điều kiện so sánh phải phản ánh cùng nội dung kinh tế, cùng phương pháp tính toán, đơn vị tính
qui đổi về cùng 1 qui mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Phương pháp so sánh cho phép.
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi theo
hướng được cải thiện tốt hơn, hay xấu hơn đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
So sánh giữa số thực hiện kỳ này đối với mức trung bình toàn ngành để thấy mức độ hoạt động của
doanh nghiệp so với toàn ngành .
So sánh chiều dọc để thấy tỷ trọng của từng loại trong tổng số ở trong bảng báo cáo, so sánh theo
chiều ngang để thấy sự thay đổi về số tuyệt đối và tương đối của một chỉ tiêu nào đó qua các liên đội kế
toán liên tiếp nhau.
b. Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối.
Trong phân tích hoạt động tài chính thì nguồn tài liệu đầu tiên và không thể thiếu được là số tuyệt
đối, đồng thời nó là cơ sở để tính số tương đối.
Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối với việc so sánh thống nhất về nội dung phản ánh, về đại
lượng biểu hiện và phương pháp tính toán sẽ cho ta thấy trị số cụ thể về quy mô, khối lượng về một chỉ
tiêu kinh tế, trong một thời gian địa điểm cụ thể. Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối được thực hiện
bằng phép trừ.
c. Phương pháp so sánh bằng số tương đối.
Phương pháp so sánh này có hình thức thể hiện là số lần, số %, nó cho phép so sánh trong hai chỉ
tiêu kinh tế khác nhau về điều kiện thời gian hoặc không giam để thấy được sự vận động thay đổi của chỉ
tiêu kinh tế và nó được thực hiện bằng phép chia.
2.1.6. Phân tính tình hình kết cấu và biến động vốn
2.1.6.1Phân tích khả năng đảm bảo nguồn vốn và tình hình biến động vốn
a.Đánh giá khả năng đảm bảo nguồn vốn.
Là tổng hợp số liệu về tổng tài sản, về tổng nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp . Kết quả cho
thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp người ta xác định chỉ tiêu tỷ
suất đầu tư.
TSCĐ & ĐTDH
Tỷ suất đầu tư = x 100%
Tổng tài sản
+ TSCĐ tăng dần lên là tốt. Tuy nhiên nó phải phù hợp với nhu cầu năng lực sản xuất, nếu không
sẽ gây lãng phí vốn.
+ Các khoản đầu tư dài hạn tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp mở rộng hoạt động song phải xét đến
tính hợp lý và hiệu quả của các khoản đầu tư đó .
2.1.6.2. Cơ cấu và biến động nguồn vốn :
Kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
Đánh giá tình hình sử dụng và kết cấu nguồn vốn và xem xét sự biến động các loại nguồn vốn,
nhằm thấy được tình hình huy động, sử dụng các loại nguồn vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh
mặt khác cho ta thấy được thực trạng tài chính của doanh nghiệp để từ đó có biện pháp tạo và sử dụng
vốn hợp lý.
2.1.6.3. Tình hình thanh toán của doanh nghiệp
a.Nợ phải trả:
Nợ phải trả giảm về số tuyệt đối và tỷ trọng trong khi tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp tăng
lên, trường hợp này được xem là tích cực nhất. Tuy nhiên cũng có thể coi là hợp lý khi tỷ trọng nợ phải
trả tăng lên nhưng không bằng tỷ lệ tăng lên của vốn chủ sở hữu.
Để đánh giá rõ hơn người ta xem xét:
Nguồn vốn tín dụng: gồm có nợ vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn phải trả, nợ dài hạn.
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
+ Khi nguồn vốn tín dụng tăng do doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất trong khi nguồn vốn
khác không đủ đáp ứng thì vẫn đánh giá là hợp lý. o doanh nghiệp dự trữ quá mức vật tư hàng hoá, thành
phẩm không tiêu thụ được vì chất lượng kém thì được đánh giá là không tốt.
+ Khi nguồn vốn tín dụng giảm được xem là không tôt khi quy mô sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thu hẹp lại. Mặt khác nó được xem là tích cực khi nguồn vốn chủ sở hữu và vốn chiếm dụng hợp
lý tăng lên .
Nợ ngắn hạn
Trong thực tế hệ số này > 1 là được và = 2 là tốt nhất.
TSCĐ và ĐTNH : Là tiền và những khoản dễ chuyển đổi thành tiền trong thời gian < = 1 năm.
- Nợ ngắn hạn : Gồm vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả nhà cung cấp, các khoản phải
trả , phải nộp...
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số này cao, có thể
tình hình tài chính được cải thiện tốt hơn, song cũng có thể là do hàng tồn kho ứ đọng quá nhiều kém
phẩm chất... thì đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp là không tốt.
Khả năng thanh toán hiện hành chưa bộc lộ hết khả năng thanh toán của doanh nghiệp . Để đánh
giá khắt khe hơn về tình hình thanh toán người ta dùng chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh.
b. Chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh.
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
TSLĐ – Hàng tồn kho
Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này > = 1 được xem là hợp lý và doanh nghiệp có khả năng thanh toán đồng thời chứng tỏ
tình hình tài chính doanh nghiệp khả quan.
c.Chỉ tiêu khả năng thanh toán bằng tiền.
Vốn bằng tiền
Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tiền gồm : Tiền tồn quỹ, tiền đang chuyển, tiền gửi ngân hàng
Hệ số ~ 0,5 được xem là khả quan.
Các hệ số trên của doanh nghiệp xấp xỉ với hệ số định mức là tốt nhất. Nếu cao quá thì khả năng
thanh toán được xem là tốt, song xét về mặt khác có thể là việc sử dụng vốn ở doanh nghiệp có thể sẽ
mất chủ động về tài chính trong việc mở rộng qui mô, chớp cơ hội đầu tư và đáp ứng nghĩa vụ thanh
toán hạn chế.
2.1.6.5. Phân tích chỉ số đòn cân nợ.
Vòng quay vốn cố định =
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
Vốn cố định
Qua chỉ tiêu này cho ta đánh giá được doanh nghiệp sử dụng vốn cố định như thế nào và một đồng
vốn cố định tạo ra mấy đồng vốn doanh thu.
c. Vòng quay toàn bộ vốn :
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn trong kỳ được doanh nghiệp huy động vào
sản xuất kinh doanh mang lại mấy đồng doanh thu. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp, chỉ tiêu được xác định như sau :
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Tổng số vốn
Kỳ thu tiền bình quân.
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân ngày
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
360 ngày
Qua kết quả xem xét chỉ tiêu này cho phép thấy được tình hình thanh toán (tình hình vốn bị chiếm
dụng như thế nào) của doanh nghiệp như thế nào để từ đó có biện pháp đôn đốc thu hồi vốn.
2.1.6. Phân tích chỉ số doanh lợi.
Việc phân tích khả năng sinh lợi cho phép đánh giá đúng lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ
tiêu khác như doanh thu, tổng vốn, vốn chủ sử hữu mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh
doanh.
a. Doanh lợi tiêu thụ :
Chỉ tiêu được xác định như sau :
2.1.8. Đánh giá khả năng đảm bảo nguồn vốn cố định và sử dụng vốn cố định.
Đánh giá khả năng đảm bảo nguồn vốn cố định là việc xem xét nguồn vốn cố định thuộc chủ sở
hữu như nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước cấp , nguồn vốn khấu hao hàng năm có thể đủ đảm bảo vốn
cố định hay không . Nguyên nhân của việc thừa thiếu nguồn vốn và tìm ra biện pháp cải thiện tình hình
tài chính .
Cách tính toán:
Tổng nguồn vốn chủ sở hữu - Tổng nguồn vốn cố định = ( c )
( a ) ( b )
+ Nếu ( c ) > 0 Chứng tỏ nguồn vốn cố định đủ đảm bảo nhu cầu song chưa phát huy hết năng lực
có được.
+ Nếu ( c ) < 0 Chứng tỏ doanh nghiệp không đảm bảo nguồpn vốn cố định, do vậy phải đi vay hay
chiếm dụng của các đơn vị khác để mua sắm tài sản cố định.
Kết cấu vốn cố định:
Là việc xem xét nguồn vốn cố định được đầu tư vào tài sản cố định bao nhiêu, còn bao nhiêu đầu tư
dài hạn, xây dựng cơ bản dở dang .... để thấy được tính hợp lý trong việc sử dụng nguồn vốn cố định
phục vụ sản xuất kinh doanh đồng thời so sánh qua hai năm để thấy được mức độ phấn đấu của doanh
nghiệp.
Đánh giá kết cấu nguồn vốn cố định :
Nguồn vốn cố định của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn như do ngân sách Nhà nước
cấp, nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung, nguồn khấu hao hàng năm và nguồn vốn đi vay khác.....
Đánh giá kết cấu nguồn vốn cố định là xem xét nguồn vốn được hình thành từ nguồn nào là chính,
các nguồn khác chiếm tỷ trọng bao nhiêu cũng như xem đơn vị sử dụng nguồn vốn cố định đó như thế
nào, từ đó tìm ra biện pháp điều chỉnh hợp lý.
2.1.9. Đánh giá khả năng đảm bảo nguồn vốn lưu động và sử dụng vốn lưu động:
Vốn lưu động là điều kiện cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh. Vốn lưu động có ở khâu dự
trữ, khâu sản xuất trực tiếp, khâu lưu thông, do vậy để qúa trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình
thường đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn vốn đủ đảm bảo tối thiểu.
- Đánh gía khả năng đảm bảo nguồn vốn lưu động:
Đánh giá khả năng đảm bảo nguồn vốn là xem xét với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, nguồn
vốn lưu động thuộc chủ sở của đơn vị thừa thiếu như thế nào, nếu thiếu doanh nghiệp tìm nguồn ở đâu là
có hợp lý hay không. Nếu khả năng thu hồi vốn kém thì tổng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ giảm, trên cơ
sở nhu cầu chi trả lương, thưởng và các chi phí khác mà xem xét kết cầu tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi Ngân
hàng hợp lý hay chưa, qua đó có biện pháp điều chỉnh thích hợp.
- Đánh giá tình hình các khoản phải thu, phải trả :
Là xem xét biến động của các khoản phải thu và các khoản phải trả. Việc so sánh giữa số đầu năm
với số cuối kỳ của các khoản nợ, qua đó cho phép ta đánh giá tình hình công nợ của đơn vị, tính được tỷ
trọng của các khoản phải thu phải trả trong tổng tài sản và tổng nguồn vốn. Từ đó tìm ra những nguyên
nhân sự đình trệ trong thanh toán nhằm giúp doanh nghiệp làm chủ tài chính, đảm bảo hoạt động sản
xuất kinh doanh phát triển.
2.1.10. Đánh giá tình hình tài chính qua chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận.
Xem xét tổng quát về các doanh thu, lợi nhuận của các hoạt động sau :
- Hoạt động sản xuất kinh doanh chính.
- Hoạt động tài chính.
- Hoạt động bất thường.
a Đánh giá tình hình doanh thu :
Doanh thu là số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm. Có được doanh thu chứng tỏ sản phẩn của
doanh nghiệp làm ra được xã hội thừa nhận, đảm bảo bù đắp chi phí sản xuất đã bỏ ra, có tích lũy tiền tệ
và đảm bảo qúa trình tái sản xuất cho doanh nghiệp.
Đánh giá kết quả doanh thu, thu được trong năm là việc so sánh với doanh thu năm trước để thấy
được mức độ phấn đấu của đơn vị, xem xét các nguyên nhân và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi
doanh thu như số lượng hàng hóa tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, kết cấu và giá cả mặt hàng...
b. Đánh gía tình hình lợi nhuận:
Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm là chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá thành toàn bộ sản phẩm
hàng hóa tiêu thụ. Nó là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, là nguồn vốn quan trọng cho việc đầu tư mở rộng sản xuất.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp đuợc xem là tích cực khi lãi thuần trước
thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh lớn hơn lãi của hoạt động khác và chiếm tỷ trọng cao, đồng thời
sự thay đổi của các hoạt động này qua các thời kỳ cũng theo xu hướng này.
Sự biến đổi của các khoản mục thể hiện xu hướng tăng về lợi nhuận khi :
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 10
đoạn.
Mặc dù có những tác động bất lợi của nền kinh tế thế giới và thiên tai,dịch bệnh ở trong nước,các
chỉ tiêu kinh tế xã hội đạt khá toàn diện; 20/23 chỉ tiêu đã đạt và vượt so với kế hoạch đề ra.
Trước đây hoạt động sản xuất kinh doanh trên thế giới gặp nhiều khó khăn, công nghệ lạc hậu,
trình độ quản lý và tổ chúc còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả sử dụng vốn và kinh doanh kém làm cho
nền kinh tế xã hội phát triển chậm và tình trạng khủng hoảng kinh tế diễn ra làm cho nển kinh tế bị kìm
hãm. Hiện nay, tốc độ phát trển kinh tế không ngừng phát triển với tốc độ mạnh mẽ, đẩy nhanh tốc độ
phát triển vế cả số lượng và chất lượng nhờ vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đáp ứng được nhu
cầu sản xuất kinh doanh. Để đạt được những thành quả rực rỡ như vậy là nhờ sự phấn đấu cuả nhân loại
tửng bước cải tiến phương thức sản xuất, trình độ quản lý và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây khu vực châu Á có những bất ổn là do cuộc khủng hoảng tiền
tệ làm cho tài chính bị suy giảm.
Trong hoàn cảnh đầy khó khăn và thách thức đó, nền kinh tế nước ta còn nhiều yếu kém so với các
nước khác, với nhiều khó khăn trước mắt như:
Tỉ lệ sử dụng năng lực tài chính còn thấp, thị trường trong nước không sôi động, tình trạng thiếu
lành mạnh trong hệ thống tiền tệ được khắc phục chậm.
Một số chỉ tiêu quan trọng, nhạy cảm đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô còn ở mức đáng lo ngại.
Nhất là cán cân thanh toán quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng số còn ở mức cao.
Đầu tư trong nền kinh tế chưa có diễn biến tích cực, kế hoạch đầu tư nhà nước còn triển khai chậm,
nhất là nguồn vốn tín dụng. Đầu tư trực tiếp cuả nước ngoài còn thấp, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
và nhân dân vẫn còn trì trệ. Chủ trương phát huy nội lực chưa được các cấp, các ngành quán triệt sâu sắc
và triển khai hiệu lực, còn kém hiệu quả, còn thiếu những biện pháp hữu hiệu để phát huy và động viên
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
tiềm lực kinh tế trong dân cư. Tình hình hình này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng trong thời gian tới
đòi hỏi nhà nước phải có chủ trương, biện pháp hợp lý để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế.
Vượt qua những khó khăn đó nền kinh tế nước ta vẫn có mức tăng trưởng dương và đạt được yêu
cầu là ổn định xã hội
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
c. Quy mô của Công ty :
Từ trước khi thành lập đến nay quy mô của Công ty ngày càng được mở rộng và phát triển theo
thời gian. Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên của Công ty là 204 người trong đó lao động trực tiếp,
lao động gián tiếp được biên chế thành:
+ 5 Phòng ban nghiệp vụ
+ 7 hạt quản lý quốc lộ
+ 4 Đội thi công công trình.
+3 Trạm thu phí.
Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ Daklak là doanh ngiệp có quy mô tương đối lớn với vốn chủ
sở hữu hiện nay hơn 16 tỷ đồng. Ngoài ra, còn thu cho Ngân sách Nhà nước hơn 30 tỷ đồng từ hoạt động
thu phí đường bộ.
d. Đặc điểm về tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty :
Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ Daklak là doanh nghiệp hoạt động công ích thực hiện nhiệm
vụ chủ yếu là duy tu, bảo dưỡng, thi công các công trình cơ sở hạ tầng đường bộ với các bộ phận sản
xuất chính : Trạm trộn nhựa bê tông, đội thi công công trình, các hạt quản lý đường bộ, các trạm thu phí.
Bên cạnh đó còn có các bộ phận phục vụ sản xuất như : đội sản xuất đá, Xưởng cơ khí.
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Minh Phương
Công ty đang quản lý quốc lộ 14 và quốc lộ 28 có tổng chiều dài 337 Km. Toàn bộ tuyến đường đi
qua nhiều địa hình khác nhau, đường quanh co, tầm nhìn hạn chế, độ dốc lớn trong điều kiện khí hậu
Tây Nguyên hai mùa mưa nắng rõ rệt nên Công ty phải đối mặt với nhiều khó khăn. Mùa mưa kéo dài
làm hệ thống đường sá , cầu cống bị hư hỏng xuống cấp nghiêm trọng. Mùa khô gió bụi thiếu nước để
phục vụ thi công và sinh hoạt nơi công trình đang thi công. Bên cạnh việc quản lý duy tu, bảo dưỡng cơ
sở hạ tầng đường bộ. Kể từ năm 1999 Công ty trực tiếp quản lý 3 trạm thu phí đường bộ, hoạt động theo
quyết định 3170 “ Thu phí hoàn vốn “, Công ty nhận vé từ Cục thuế tỉnh Daklak rồi giao cho các trạm
chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Công ty, tiền bán vé được nộp về Công ty.
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH.
e. Tình hình lao động của Công ty :
Con người là nhân tố cơ bản có tính quyết định đối với sự tồn tại và phát triển đi lên của bất kỳ
doanh nghiệp nào. Bởi nếu không có con người thì dù có máy móc thiết bị, phương tiện lao động hiện
SVTH: Ngô Thị Hưởng Trang 14