bài 3 những quan điểm của đảng về công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta được đại hội đảng toàn quốc lần VIII thông qua - Pdf 22

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ đại hội Đảng lần thứ III, Đảng ta luôn coi công nghiệp hoá, hiện
đại hoá (CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã
xác định thực chất của CNH xã hội chủ nghĩa là “Quyết tâm thực hiện cách
mạng kỹ thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình
tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng“.
Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ để thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kinh tế xã hội,
khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, bảo đảm tăng trưởng nhanh ổn
định, nước ta phải xác định rõ cơ cấu kinh tế hợp lý, trang thiết bị ngày
càng hiện đại cho các ngành kinh tế. Mặt khác, nước ta là nước đang phát
triển vì vậy quá trình ấy gắn liền với quá trình công nghiệp hoá để từ đó
hiện đại hoá đất nước.
Việc xây dựng đúng đắn những quan điểm CNH-HĐH ở Việt Nam
hiện nay có vị trí rất quan trọng đối với quá trình CNH-HĐH. Bởi xây
dựng đầy đủ các quan điểm CNH-HĐH sẽ là cơ sở đúng đắn cho việc định
hướng, định lượng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nội dung và các bước
đi của CNH-HĐH phù hợp với bối cảnh xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nghị quyết đại hội VIII của Đảng đã đưa sự nghiệp đổi mới lên tầm cao
mới, đẩy mạnh CNH-HĐH. Mặt khác, CNH-HĐH đất nước phải chứa
đựng được mục tiêu, chiến lược, nội dung, hình thức, phương hướng cách
mạng của đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Để đạt mục tiêu nhất quán và
xuyên suốt đó là dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn
minh thì Đảng ta phải trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, kế thừa 15 năm đổi mới đất nước.
CNH-HĐH là một mục tiêu chiến lược bởi lẽ ngày nay nó đang được
thừa nhận là xu hướng phát triển chung của các nước trên thế giới và Việt
Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Cũng chính xuất phát từ vai trò
của nó trong quá trình đưa kinh tế phát triển qua thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội mà em chọn đề tài "Những quan điểm của Đảng về Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá ở nước ta được đại hội Đảng toàn quốc lần
VIII (6/1996) thông qua".

thức (knowledge workers) thì sẽ rơi vào tình huống thừa lao động giản đơn,
Trang 2 trên 11
2
thiếu lao động lành nghề, số người dôi dư do công nghiệp hoá, hiện đại hoá
tăng lên thành một sức ép xã hội gay gắt, trong khi có quá nhiều việc làm
không tìm được người thích hợp. Ngay một nước phát triển rất coi trọng
giáo dục, đào tạo như oxtrâylia mà cũng có khoảng 30.000 chỗ làm việc
chưa tìm được công nhân thích hợp và có nhiều cảnh báo rằng tình hình sẽ
còn xấu đi.
Hai là, đổi mới giáo dục và đào tạo. Vì sản xuất công nghệ trở thành
loại hình quan trọng hàng đầu, phát minh trở thành một nghề đặc biệt, nên
giáo dục, đào tạo phải khuyến khích tư duy sáng tạo của người học chứ
không phải là nhồi nhét kiến thức, không nên đẩy người học vào tình trạng
"chết đuối trong thông tin nhưng lại chết đói vì tri thức".
Do tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ mà giáo đục phải cập
nhật liên tục trong suốt cuộc đời người lao động. Ngày nay, tri thức cứ 7
năm lại tăng gấp 2 lần, và trong lĩnh vực kỹ thuật thì một nứa những điều
mà sinh viên học được trong năm đầu tiên ở Đại học sẽ trở nên lạc hậu khi
họ tốt nghiệp. Để Công ty có khả năng cạnh tranh và người lao động có thể
tiếp tục làm việc thì mỗi người đều phái học tập thường xuyên. Các hãng
phải thúc đẩy việc phát triển lực lượng lao động của mình với chi phí tối
thiểu bằng một chiến lược gọi là "vừa đúng lúc". Điều đó có nghĩa là phải
đạt được các kỹ năng hoặc tri thức đúng lúc, đúng địa điểm, thay vì học
trước lúc cần thiết và ở địa điểm khác. Học ngay trong quá trình sản xuất.
Ranh giới giữa dạy nghề và đào tạo hàn lâm đang có xu hướng xích lại
thông qua cuộc cải cách giáo dục: tăng cường lý thuyết cho các lớp học
nghề, tạo điều kiện cho những người đã tốt nghiệp các lớp học nghề theo
học đại học, và tăng thời gian thực tập cho các học sinh, tăng giáo dục
thông qua việc làm. Hoặc kết hợp giáo dục với sản xuất bằng cách đặt
doanh nghiệp ở các trường học, như ở Hoa Kỳ, Anh, Đan Mạch, Singapore.

bộ gắn với quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH. CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là nhân tố bảo
đảm thành công của CNH-HĐH đất nước.
Trang 4 trên 11
4
Vấn đề đặt ra là phải giải quyết đồng bộ và có hiệu quả cao, khắc phục
yếu kém, khó khăn, nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách, đưa nông nghiệp,
nông dân, nông thôn phát triển nhanh. Trong thời gian tới, chúng ta phải
tập trung xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng
thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phù hợp với đặc
điểm của từng vùng; coi trọng công tác quy hoạch sử dụng đất đai, bảo vệ
lâu dài diện tích đất lúa, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia;
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn hiện đại gắn với phát triển các
đô thị; giải quyết việc làm cho nông dân, thực hiện đồng bộ chiến lược xóa
đói, giảm nghèo, nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần của dân cư
nông thôn, nhất là những vùng khó khăn
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề lớn, nhiều khó khăn,
phức tạp. Chỉ khi vấn đề này được giải quyết một cách thỏa đáng thì sự
nghiệp ổn định và phát triển của đất nước ta mới thực sự lâu dài, bền vững.
c. Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh trong tình
hình mới.
Từ khi C.Mác qua đời, thế giới có nhiều biến đổi. Giai cấp công nhân
thế giới trải qua những bước thăng trầm. Nhiệm vụ của giai cấp công nhân
là vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết C.Mác. Điều cơ bản là phải
biết gắn lý luận với thực tiễn.
Giai cấp công nhân Việt Nam hiện có khoảng gần 5 triệu người, chiếm
khoảng 6% dân số. Điểm thuận lợi lớn nhất hiện nay của giai cấp công
nhân Việt Nam là có Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công
nhân và nhân dân Việt Nam lãnh đạo. Đảng cầm quyền là điều kiện thuận
lợi nhất cho giai cấp công nhân Việt Nam phát triển.

các doanh nghiệp để trực tiếp bảo vệ lợi ích cho công nhân. Định kỳ, lãnh
đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương tiếp xúc với công nhân giải
quyết những vấn đề bức xúc của công nhân.
Các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa về giai cấp
công nhân Việt Nam, tư vấn, tham mưu cho Đảng và Nhà nước để có
Trang 6 trên 11
6
những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển cả về số lượng, chất lượng giai
cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh đáp ứng yêu cầu CNH,
HĐH đất nước là trách nhiệm của các cấp ủy đảng và chính quyền, góp
phần quan trọng xây dựng Đảng vững mạnh.
2. Thực chất của CNH - HĐH ở nước ta.
Quá trình thực hiện nhiệm vụ này kể từ năm 1986 đến nay gắn liền và
là kết quả đổi mới tư duy của Đảng, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.
Nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới vừa qua, có thể khái quát những
bước chuyên lớn, mang tính đột phá trong phát triển tư duy lý luận và thực
tiễn của Đảng ta về công nghiệp hóa như sau:
1. Đã chuyển từ quan niệm CNH trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, bao cấp sang quan niệm CNH trên những nguyên tắc của
thị trường và kinh tế thị trường.
Nội dung cốt lõi của sự đổi mới tư duy này xét thực chất là thay đổi
cơ chế phân bổ, điều tiết các nguồn lực cho CNH, thừa nhận vai trò phân
bổ, điều tiết của thị trường và cho phép thị trường tham gia phân bổ các
nguồn lực, kết hợp tốt vai trò của thị trường và của Nhà nước trong việc
phân bổ, điều tiết các nguồn lực cho CNH, thông qua đó tạo điều kiện giải
phóng tối đa sức sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất
nước để đẩy mạnh CNH.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta xác định tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH và từ Đại hội Đảng lần thứ

của một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh
tế tiên tiến, quan hệ sản xuất phù hợp sự phát triển đất nước theo định
hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
trong từng bước và chính sách phát triển vì mục tiêu phát triển con người
Việt Nam. Đó cũng là quá trình tăng cường nguồn lực con người, năng lực
Trang 8 trên 11
8
nội sinh về khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại,
thân thiện và bảo vệ môi trường theo quan đếm phát triển bền vững.
3. Thực hiện chiến lược CNH, hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng
thời thay thế nhập khẩu ở những sản phẩm trong sản xuất có hiệu quả,
phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của cả nước, từng vùng,
từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm
Trong 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã từ bỏ mô hình công
nghiệp hóa khép kín, thay thế nhập khẩu, từng bước xây dựng nền kinh tế
mở, hội nhập thế giới và khu vực, thực hiện chiến lược CNH trên cơ sở
phát huy lợi thế, hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu
bằng những sản phẩm sản xuất trong nước có hiệu quả. Đây là bước đột
phá rất quan trọng trong đổi mới tư duy của Đảng về CNH. Nó đã mở ra
một không gian phát triển mới, không giới hạn cho việc đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước.
4. Định hình ngày càng rõ hơn quan điểm rút ngắn thời gian thực
hiện CNH, HĐH; đẩy mạnh CNH, HĐH, gắn với phát triển kinh tế trí
thức và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Tiếp tục phát triển tư duy lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH, đến Đại
hội Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên trong văn kiện của mình, Đảng ta chính
thức khẳng định quan điểm rút ngắn thời gian thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn
thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” (Văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ IX).

dựng nước ta thành một nước Công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng văn minh". Mục tiêu đó là cụ thể hoá học thuyết Mác - Lênin về hình
Trang 10 trên 11
10
thái kinh tế xã hội vào hoàn cảnh cụ thể của xã hội Việt Nam. Nó là cơ sở
lý luận của sự nghiệp CNH - HĐH ở nước ta.
Hình thái kinh tế xã hội có tính lịch sử, có sự ra đời phát triển và diệt
vong, chế độ lạc hậu sẽ mất đi, chế độ xã hội mới cao hơn sẽ thay thế. Đó
là khi phương thức cũ đã trở nên lỗi thời hoặc khủng hoảng do mâu thuẩn
của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất.
Giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện
chứng với nhau thể hiện ở chỗ:
Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển.
Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực
lượng sản xuất mà trước hết là công cụ.
Quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất
(phù hợp) nhưng do mâu thuẫn của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
thì quan hệ sản xuất lại trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất (không phù hợp).
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi
của quan hệ sản xuất. Khi không thích ứng với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm thậm chí phá hoại sự phát
triển của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn của chúng tất yếu sẽ nảy sinh.
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy định hướng và tạo điều
kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
Quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sản xuất và kết hợp với tối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status