Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã tăng đáng kể: Việt Nam
đang hội tụ các điều kiện để đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại, vai trò và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực và
trên trường quốc tế. Thành tựu đó chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng trên đất nước
Việt Nam, và do đó tiếp tục khẳng định thực tế là: trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam và bằng những thành tựu cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn
luôn nỗ lực hết mình thực hiện nghĩa vụ trước dân tộc và giai cấp, ở trong nước và
trên thế giới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận
khăng khít của cách mạng thế giới. Lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng đã minh
chứng hùng hồn một thực tế: với tư cách là một chính đảng tiền phong, Đảng Cộng
sản Việt Nam luôn luôn làm tròn nghĩa vụ trước dân tộc, đối với đất nước và với
phong trào cách mạng thế giới, thực hiện trách nhiệm cao cả trước dân tộc và cộng
đồng quốc tế.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu vấn đề này qua bài tiểu luận : “tìm hiểu chính
sách đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay”.
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
NỘI DUNG
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng đã và đang lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước, xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”, chủ động hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế của đất nước.
Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta đã tăng đáng kể: Việt Nam
đang hội tụ các điều kiện để đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại, vai trò và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực và
trên trường quốc tế. Thành tựu của hơn 20 năm đổi mới càng chứng tỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng trên đất nước Việt Nam, và do đó tiếp tục khẳng định thực tế là:
trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và bằng những thành tựu cụ thể,
hoảng, giữ vững và tăng cường ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, làm
cho dân giàu, nước mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập và tự do của Tổ quốc, phục vụ
lợi ích cao nhất của dân tộc ta”. Trên tinh thần đó, Hội nghị Trung ương Ba đã chỉ
đạo: công tác đối ngoại phải phục vụ lợi ích đó của dân tộc; đấy cũng là cách tốt
nhất để ta thực hiện chủ nghĩa quốc tế theo khả năng thực tế của ta và phù hợp
với sự chuyển biến của tình hình thế giới, và coi lợi ích dân tộc là “cao nhất và
thiêng liêng nhất”. Nghị quyết của Hội nghị nêu rõ: “tư tưởng chỉ đạo chính sách
đối ngoại là giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội; đồng
thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù
hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ”. Đặc biệt, Hội nghị đã nêu rõ bốn
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
phương châm xử lý các mối quan hệ đối ngoại, với phương châm đầu tiên là: “Bảo
đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng”.
Đại hội IX (2001) xác định: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Hội nghị Trung ương Tám (khoá IX, năm
2003) cũng khẳng định: “Chúng ta kiên định lấy việc giữ vững môi trường hoà
bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
theo hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước”. Văn kiện đại hội X
cũng nêu rõ, Đảng ta “lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất”. Trong
các dự thảo văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI, lợi ích quốc gia vẫn được nhấn
mạnh.
Tóm lại, bảo vệ lợi ích quốc gia đã và vẫn sẽ là trọng tâm của chính sách đối
ngoại Việt Nam. Và điều đó càng khẳng định tính trách nhiệm của Đảng trước
quyền lợi dân tộc. Việc thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
những thành tựu này, Đảng ta tiếp tục giữ vai trò là người đại diện trung thành cho
lợi ích của toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới, tiếp tục thực hiện trách nhiệm lịch sử
của mình như Đảng đã từng làm trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Không
một lực lượng chính trị nào khác ở Việt Nam có thể hoàn thành sứ mệnh vẻ vang
nhưng rất khó khăn này; và các thế lực thù địch với lý tưởng và chế độ XHCN ở
Việt Nam cũng phải tìm cách chung sống và hợp tác với nhà nước CHXNCN Việt
Nam.
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
2. Tính trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế
Phấn đấu vì lợi ích quốc gia dân tộc nhưng Đảng ta không theo đuổi những
mục tiêu dân tộc vị kỷ. Nghị quyết Trung ương 3 (6/1992) đã nêu rõ phương châm
đối ngoại “bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa
yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân”. Các đại hội Đảng cũng
nhấn mạnh: chính sách đối ngoại của Việt Nam là để phục vụ lợi ích quốc gia dân
tộc, nhưng Việt Nam vẫn “đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung
của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Như
vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
hòa bình, hợp tác và phát triển còn là sự thể hiện trách nhiệm quốc gia của Việt
Nam trước cộng đồng quốc tế.
Tính trách nhiệm đó đã được thể hiện qua các mặt sau đây:
Thứ nhất, Đảng ta luôn cố gắng đóng góp vào việc củng cố những xu hướng
tích cực trong trào lưu phát triển của quan hệ quốc tế đương đại. Từ Đại hội VIII
năm 1996, Đảng đã nhận định hòa bình, hợp tác để phát triển là xu thế chủ đạo
trong quan hệ quốc tế. Nhận thức được xu thế này đã giúp Đảng ta xây dựng một
chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường hợp tác quốc tế và hạn chế xung đột
giữa các nước. Hợp tác quốc tế là một trào lưu được hình thành bởi các điều kiện
khách quan. Tuy nhiên, trào lưu này cũng cần phải được củng cố bằng những chính
sách mang dấu hiệu chủ quan của chủ thể tham gia quan hệ quốc tế. Chính sách đối
vai trò lớn hơn, các nước lớn ngày càng phải giảm mức độ đơn phương, tăng cách
tiếp cận đa phương và tăng cường thỏa hiệp với các nước nhỏ, giảm bớt tính cường
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
quyền trong quan hệ quốc tế đương đại. Nói cách khác, Việt Nam đang đóng góp
vào việc xây dựng một trật tự quốc tế dân chủ hơn.
Thứ hai, Việt Nam đang có đóng góp tích cực, thể hiện trách nhiệm trong
cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội. Kinh nghiệm của Việt Nam phát triển kinh tế đồng
thời đảm bảo ổn định xã hội và giữ vững định hướng XHCN đang ngày càng được
nhiều nước quan tâm, tìm hiểu và tán đồng. Trong bối cảnh các nền kinh tế đầu tàu
chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tư bản tự do đều bị khủng hoảng nặng nề, những thế
mạnh của nền kinh tế có quản lý chặt của nhà nước đang được tham khảo kỹ. Đặc
biệt, những chủ trương chính sách về xóa đói giảm nghèo, giảm chênh lệch phát
triển vùng miền, chính sách y tế, giáo dục thể hiện bản chất của chế độ XHCN ở
Việt Nam vẫn được nhiều nước học tập. Nói cách khác, việc xây dựng CNXH ở
Việt Nam (tuy còn nhiều khó khăn và trở ngại) tự nó đã có đóng góp cho cuộc đấu
tranh vì tiến bộ trên thế giới. Thành công của Việt Nam trong việc thực hiện các
Mục tiêu thiên niên kỷ là một bằng chứng rõ ràng.
Việt Nam chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn
sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề
nhân quyền, đồng thời kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và
lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, hòng can thiệp
vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và
ổn định chính trị của Việt Nam cũng góp phần trong cuộc đấu tranh chung về tiến
bộ xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam, trước sau như một, vẫn ủng hộ các đảng cộng sản
và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu
chung của thời đại. Như vậy, với chính sách đối ngoại ngày càng chủ động và tích
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ
quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tại và
diễn biến phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.
Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷ tiến hành
công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam
tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm
“Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng
đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."
*
Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ
hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, trong
đó ưu tiên cho việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, với các
nước và trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực
trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên
Hợp Quốc. Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với
nhiều nước trong và ngoài khu vực những khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác
toàn diện cho thế kỷ 21. Nhiều Hiệp định, thoả thuận quan trọng đã được ký kết
như Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về biên
giới trên bộ, Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung
Quốc, Hiệp định về phân định thềm lục địa với In-đô-nê-xia Các mối quan hệ
song phương và đa phương đó đã góp phần không nhỏ vào việc không ngừng củng
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
cố môi trường hoà bình, ổn định và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung
Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật về đối
ngoại, đưa đất nước ra khỏi tình trạng bị bao vây cô lập, mở rộng hơn bao giờ hết
quan hệ quốc tế cả về chính trị lẫn kinh tế, không ngừng nâng cao vị thế ở khu vực
và trên thế giới, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Ðã hơn 20 năm kể từ khi Ðảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới, đem lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trong những thành tựu ấy
không thể không kể đến những thành tựu nổi bật về đối ngoại, đưa nước ta ra khỏi
tình trạng bị bao vây cô lập, mở rộng hơn bao giờ hết quan hệ quốc tế cả về chính
trị lẫn kinh tế, không ngừng nâng cao vị thế ở khu vực và trên thế giới, tạo ra môi
trường thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có được những thành
tựu ấy một phần quan trọng là nhờ ở sự đổi mới tư duy rất sâu sắc về cục diện thế
giới cũng như trong đường lối, chính sách và phương châm hành động trên mặt trận
đối ngoại.
Nước ta tiến hành công cuộc đổi mới trong bối cảnh quốc tế có những biến
động hết sức phức tạp, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở các nước
Ðông Âu, Liên Xô tan rã, làm cho phong trào cách mạng thế giới tạm thời thoái
trào. Trong hoàn cảnh ấy, không dễ gì nhận diện được chuẩn xác những chiều
hướng phát triển của thế giới, song Ðảng ta đã bình tĩnh phân tích cục diện thế giới,
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
vận dụng phương pháp luận khoa học để lần tìm những dòng chảy cơ bản của thời
cuộc, hoạch định đường lối, chính sách và những phương châm đối ngoại sáng tạo,
được thực tế chứng minh là đúng đắn.
Bên cạnh việc đánh giá thời đại và những mâu thuẫn của thời đại, việc đánh
giá khả năng chiến tranh và hòa bình luôn luôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với
vận mệnh của các dân tộc cũng như đối với việc hoạch định chính sách. Nếu như
Nghị quyết Trung ương 9 (khóa III) còn nêu: "Nhân dân các nước đứng trước nguy
cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới", thậm chí Ðại hội VI vẫn đánh giá rằng,
5. Định hướng đối ngoại trong thời gian tới
Theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội X của Đảng, công tác đối ngoại trong
thời gian tới bám sát những định hướng lớn như sau:
- Tiếp tục mở rộng và phát triển các mối quan hệ đối ngoại của ta đi vào
chiều sâu, ngày càng ổn định và bền vững. Đặc biệt coi trọng và phát triển quan
hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các nước láng giềng có chung biên giới, các
nước Đông - Nam Á và Hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN). Thúc đẩy
quan hệ hợp tác ổn định lâu dài với các nước lớn, các trung tâm kinh tế, chính trị
của thế giới. Mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước bạn
bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển ở châu Á,
châu Phi, Trung Đông và Mỹ La-tinh, các nước trong phong trào Không liên kết
Tích cực hoạt động tại các tổ chức quốc tế và khu vực. Không ngừng phát triển
quan hệ với các đảng cộng sản và các đảng cầm quyền ở các nước xã hội chủ
nghĩa và các nước láng giềng có chung biên giới. Tăng cường quan hệ với các
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
đảng cộng sản, đảng cánh tả, phong trào cách mạng và tiến bộ có nhiều ảnh hưởng
ở các khu vực trên thế giới. Mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền, đảng tham
chính ở các nước trong khu vực và các nước có quan hệ đối tác quan trọng với
nước ta. Tăng cường quan hệ với các chính đảng khác có quan hệ với Đảng ta và
hữu nghị với Việt Nam. Phát triển quan hệ với các đoàn thể, các tổ chức nhân dân
ở các nước láng giềng có chung biên giới, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước
trong khu vực và các nước lớn. Tích cực hoạt động tại các tổ chức quốc tế và khu
vực quan trọng mà các đoàn thể và tổ chức nhân dân ta là thành viên. Chủ động
tham gia tích cực các phong trào, diễn đàn quốc tế của nhân dân thế giới chống
chiến tranh và chạy đua vũ trang, chống các mặt trái của toàn cầu hóa, chống chủ
nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, vì hòa bình, công lý, độc lập dân tộc,
dân chủ, phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội. Mở rộng quan hệ với
các tổ chức nhân dân các nước, các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế
- Đẩy mạnh công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài, thực hiện có
kết quả Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX. Chăm lo bảo vệ quyền
lợi chính đáng của bà con, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; khuyến
khích đồng bào hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo
xây dựng cuộc sống thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ
gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm
bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau; vận động bà con hướng về quê hương, đóng
góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực phát huy vai trò là
"cầu nối" hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và quan hệ hợp tác giữa
nước sở tại mà họ sinh sống với Việt Nam.
- Thực hiện nghiêm Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại (do
Bộ Chính trị ban hành theo Quyết định số 101-QĐ/TW), bảo đảm sự lãnh đạo
thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động
đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, hoạt động ngoại
giao của Nhà nước và hoạt động đối ngoại nhân dân, giữa chính trị đối ngoại và
kinh tế đối ngoại, hoạt động đối ngoại và hoạt động quốc phòng, an ninh, giữa
thông tin trong nước và thông tin đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên lĩnh
vực công tác đối ngoại. Phân công, phân nhiệm rõ ràng, đề cao trách nhiệm và vai
trò chủ động của các ngành, các cấp trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
được giao liên quan đến đối ngoại; bảo đảm sự giám sát, kiểm tra chặt chẽ.
- Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu về đối ngoại; có cơ
chế quy tụ, phát huy trí tuệ tập thể và phối hợp tổ chức nghiên cứu các vấn đề cơ
bản phục vụ công tác đối ngoại.
- Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối
ngoại vững vàng về chính trị, có năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất
tốt.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam
2. Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
3. Tạp chí cộng sản
4. tài liệu tuuyeen truyền ban tuyên giáo Trung ương
5. Cổng thông tin điên tử chinhphu.vn
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường
Trường ĐH Công Nghiêp TP HCM
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1. Tính trách nhiệm của Đảng trước dân tộc 2
2. Tính trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế 6
3. Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 9
4. Những thành tựu cơ bản trong đối ngoại 12
5. Định hướng đối ngoại trong thời gian tới 14
KẾT LUẬN 18
GVHD: Trần Thị Hương Lớp: CDQT13TH
SVTH: Lưu Xuân Trường