ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THÚY QUẢN LÝ NHỮNG THAY ĐỔI TRONG CHUYỂN ĐỔI
NGÀNH NGHỀ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH
HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Bích Đào Hà Nội – Năm 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ Quản lý những thay đổi trong chuyển đổi
ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” là
công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên
cứu trong luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào
khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Kinh
tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi kiến thức trong suốt thời
gian học tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Bích Đào đã tận tình hướng
2.2.1. Chuyển đổi ngành nghề theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 39
2.2.2. Chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở ngoại thành Hà Nội trong những năm
qua 49
2.3 Đánh giá thực trạng quá trình chuyển đổi ngành nghề 52
2.3.1. Những thành tích đạt được 52
2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại 53
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
CHUYỂN ĐỔI NGÀNH NGHỀ Ở NGOẠI THÀNH HÀ NỘI TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 55
3.1. Định hướng phát triển các dự án chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn
ngoại thành Hà nội trong thời gian tới 55
3.1.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển các dự án chuyển đổi ngành nghề ở
ngoại thành Hà Nội. 55
3.1.2. Chính sách hỗ trợ phát triển 60
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuyển đổi ngành nghề ở ngoại
thành Hà Nội 61
3.2.1. Thiết lập các mục tiêu, kế hoạch cụ thể, kiện toàn và phát triển các làng
nghề. 61
3.2.2. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội 62
3.2.3. Hình thành quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm 65
3.2.4. Ban hành các chính sách ưu đãi 66
3.2.5. Tăng cường sự điều tiết và quản lý của nhà nước 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
STT
IWRA
Hiệp Hội Nước quốc tế
11
KCN
Khu công nghiệp
12
KCX
Khu chế xuất
13
NDT
Nhân dân Tệ
14
QHKT
Quy hoạch kiến trúc
15
QLNN
Quản lý nhà nước
16
UBND TP
Uỷ ban nhân dân Thành phố
17
WTO
Tổ chức thương mại thế giới (World Trade
Organization)
ii DANH MỤC CÁC BẢNG
Cơ cấu sử dụng đất tính theo địa phương
42
8
Bảng 2.5
Số hợp tác xã phân theo địa phương
42
9
Bảng 2.6
Hiện trạng sử dụng đất phân theo địa phương
45
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Nội dung
Trang
Hình 1.1
Sơ đồ mô hình giao tiếp
20
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đối với sản xuất xã hội, dân cư và nguồn lao động có vai trò đặc biệt
bị sản xuất là chìa khoá cho sự thành công của từng doanh nghiệp thì vai trò
ảnh hưởng của mặt này ngày càng quan trọng đến việc tổ chức nền kinh tế- xã
hội trong từng vùng đất nước. Tuy nhiên trong việc sử dụng ngành nghề truyền
thống, cần chú ý đến các ngành nghề có triển vọng, nhưng đồng thời phải hạn
chế hoặc loại bỏ những ngành nghề không phù hợp gây hại đối với sự phát
triển kinh tế xã hội.
Chính vì lí do trên tôi chọn đề tài “Quản lý những thay đổi trong
chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều các tài liệu, giáo trình, luận văn và các công trình
nghiên cứu về vấn đề lao động và vịêc làm cũng như sự phân bổ lại cơ cấu
ngành nghề cho phù hợp với giai đoạn hiện nay.
Trong tác phẩm “Một số vấn đề phát triển nông thôn” Đặng Kim Sơn -
Hoàng Thu Hòa Nhà xuất bản thống kê đã nêu lên thực trạng của phát triển
nông thôn hiện nay: những thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại.
Lê Đình Thắng trong tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn –
Những vấn đề lí luận và thực tiễn” đã nêu rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp. Tác phẩm
cũng nêu rõ những vấn đề thực tiễn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ở nông thôn hiện nay….
Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ quy
mô tổng thể, nghiên cứu từng khu vực, từng vùng mà chưa có sự phân tích so
sánh với đặc trưng của từng cá thể kinh tế riêng lẻ. Với xu hướng nghiên cứu
3
từng đơn vị kinh tế cụ thể đặc trưng kinh tế riêng biệt sẽ giúp các chủ thể kinh
tế có thể sử dụng thông tin một cách chính xác, tiếp cận được với thực trạng
kinh tế đặc trưng của từng vùng từ đó có được những quyết định đầu tư đúng
đắn tiết kiệm chi phí và các nguồn lực.
- Phương pháp được sử dụng trong luận văn này là các phương pháp duy vật
biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, tư duy logic và các phương pháp
khác như: thống kê, so sánh, phân tích, phương pháp toán học Tác giả quan
sát, phân tích và dựa vào các số liệu thống kê cụ thể về tình hình việc làm và
chuyển dịch cơ cấu ngành nghề ở ngoại thành Hà nội trong thời kỳ hội nhập
với nền kinh tế thế giới, dựa vào các báo cáo, các nghiên cứu có trước để tìm
kiếm, khám phá và tìm ra những điểm khác nhau trong lý luận cũng như trong
thực tiễn.
- Trên cơ sở đó tác giả đã đặt ra các giả thuyết các câu hỏi để nghiên cứu,
tiến hành quan sát trả lời các câu hỏi đề đưa ra những quan điểm, luận chứng
và các nguyên tắc để hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Trước hết luận văn sẽ hệ thống hoá lại những lý luận chung về nhận thức
quản lý sự thay đổi trong xã hội hiện đại, nhận thức được sự thay đổi trong
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và những
điều kiện tiền đề cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Làm rõ và đánh giá được thực trạng trong chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở
nông thôn ngoại thành Hà nội trong giai đoạn hiện nay.
- So sánh và tìm ra điểm khác biệt trong quản lý chuyển đổi cơ cấu ngành
nghề từ đó đưa ra được các giải pháp để quá trình chuyển đổi ngành nghề ở
ngoại thành Hà nội đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển.
5
7. Bố cục của luận văn.
Gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về quản lý sự thay đổi trong nông
nghiệp nông thôn.
Chương 2: Thực trạng chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn ngoại thành
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chuyển đổi ngành
Mọi sự vật đều tồn tại, mâu thuẫn và không ngừng thay đổi và bất cứ sự vật
nào cũng đều tồn tại bằng cách phá bỏ một cái gì đó”. Sự thay đổi là một quá
trình diễn ra thường xuyên liên tục, vừa mang tính tích cực, song cũng không
thể tránh khỏi những thiệt hại thay đổi mang lại. Nhận thức được sự thay đổi
để từ đó biết làm chủ được sự thay đổi, nhằm hạn chế những rủi ro mà thay
đổi mang lại.
1.1.1.Khái niệm về quản lý sự thay đổi
Khi nói đến sự thay đổi cần phải hiểu đó là sự thay đổi của tất cả mọi
quá trình, cải tổ một cách chủ động nhằm mục đích tạo ra sức cạnh tranh lớn
hơn cho doanh nghiệp, cho tổ chức, ngành, vùng. Từ việc áp dụng khoa học
công nghệ mới những bước chuyển dịch có tính chất chiến lược, tổ chức lại
dây chuyền sản xuất liên kết hoặc hợp nhất với các doanh nghiệp khác, tái cơ
cấu các bộ phận kinh doanh đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa tập
đoàn [9, tr.20-21]. Sẽ thật sai lầm nếu duy trì những tư tưởng bảo thủ chống
lại sự thay đổi, bởi điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang từng bước dấn
sâu vào con đường dẫn đến sự sụp đổ. Trọng tâm của mỗi cuộc cải tổ chính là
7
sự thay đổi trong nguyên tắc, đời sống và trong công việc hàng ngày và đem
lại những bước phát triển mới. Tuy nhiên để những thay đổi tích cực ấy thực
hiện được thì đó lại là cả một quá trình gian nan đặt lên vai của những nhà
quản lý. Sứ mệnh của họ là phải nắm bắt được sự thay đổi và điều chỉnh nó
theo hướng có lợi cho tổ chức. Chỉ khi đó họ mới có thể đưa tổ chức của mình
đạt tới đỉnh cao của sự phát triển.
Thay đổi có thể bắt đầu rất nhanh nhưng cũng có thể nhanh chóng biến
mất. Vấn đề không hẳn nằm ở tiền hay nguồn lực đầu tư cho sự thay đổi đó
mà nằm ngay trong đầu những người thực hiện sự thay đổi. Nói cách khác,
nằm ở kỹ năng của nhà quản lý trong việc thực hiện thay đổi.Vậy tại sao lại
phải thay đổi? Bởi vì thay đổi trước hết để giữ được thế cân bằng đồng thời
tạo ra cơ hội đề làm phong phú cho sự phát triển một cách lâu dài và bền
+ Tác động đến sự thay đổi.
Để quản lý sự thay đổi cần phải thực hiện qua nhiều bước.
1.1.2. Nội dung quản lý sự thay đổi
Quản lý sự thay đổi phải tuân theo 6 bước dưới đây, nó sẽ hạn chế được
những biến động xấu nói chung trong thời gian diễn ra một thay đổi nào đó,
đồng thời đảm bảo việc thay đổi đạt được kết quả tốt nhất:
Bước 1: Thiết lập các mục tiêu cụ thể:
Quy trình thay đổi nên được bắt đầu với những tuyên bố rõ ràng và chi
tiết về các mục tiêu muốn vươn tới. Các mục tiêu này nên được trình bày
trong bối cảnh tình hình thực tế và liên quan với mục đích chung .
Bước 2: Tổ chức và Lên kế hoạch:
Để quá trình thay đổi tiến hành thuận lợi, cần phải có khả năng và
những nguồn lực (tài lực và nhân lực) nhằm phát triển cũng như truyền tải
một cách hiệu quả các kế hoạch thiết kế/tái thiết kế và lịch trình diễn ra trên
9
thực tế, trong khi vẫn duy trì sự cân bằng giữa một tầm nhìn bao quát và các
hoạt động thường nhật. Việc sắp xếp lại cấu trúc tổ chức thường chỉ diễn ra
trong giai đoạn quá độ, nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng trong cả quá
trình và thường được xem như một thách thức trong bầu không khí của sự
thay đổi.
Bước 3: Giao tiếp:
Những giao tiếp hiệu quả, cung cấp được lượng thông tin đầy đủ và kịp
thời về các nội dung khác nhau luôn rất cần thiết trong giai đoạn thay đổi. Các
kênh thông tin càng đa dạng, thì nguồn thông tin càng được tiếp cận nhanh
hơn, thông tin càng có độ tin cậy cao hơn và mau chóng dẫn đến hành động
hơn. Bằng các phương tiện giao tiếp rõ ràng, một quy trình hành động trong
thời gian diễn ra sự thay đổi sẽ được xác định, những thông tin thích hợp sẽ
được cung cấp và các mục tiêu sẽ được đáp ứng.
Bước 4: Động viên:
1.2. Nhận thức về hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
1.2.1. CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn
- Công nghiệp hóa:
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về công nghiệp hóa. Theo Từ điển
Tiếng Việt phổ thông, "công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền sản xuất
cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong
công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động
và nâng cao năng suất lao động". Từ khái niệm chung về công nghiệp hóa
đó, có thể hiểu "công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình
xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong toàn ngành nông nghiệp, dẫn tới sự
tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất
lao động" [2, tr.13-14].
11
“Công nghiệp hóa là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong
toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ
trọng về lao động, về giá trị gia tăng, v.v ”.
Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ
nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang
nền kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại
hóa. Sự chuyển biến kinh tế-xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt
là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn.
Công nghiệp hóa nông nghiệp là một bộ phận của CNH nông thôn. Nội
dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và phương pháp sản xuất công
nghiệp cùng các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp vào lĩnh vực sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản
xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để lợi thế của
mỗi ngành, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu dùng và xuất
khẩu. Nội dung này được cụ thể hóa trên các mặt cơ giới hóa, hóa học hóa,
thủy lợi hóa, sinh học hóa và điện khí hóa các ngành sản xuất nông nghiệp,
cơ cấu kinh tế nông thôn theo chiều hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Vấn đề
quan trọng mà CNH, HĐH không thể thiếu là phát triển ngành nghề dịch vụ
phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn từng bước đô thị hóa nông thôn, áp
dụng phương pháp công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn, tạo thêm công
ăn việc làm để tăng thu nhập cho nông dân.
1.2.1.2. Mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nông thôn
Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của
các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh
tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực
13
thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản
phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được
sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng
cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.
Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng
lao động và tư liệu lao động. Trong đó lao động là điều kiện chủ yếu cho sự
tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa và
xã hội. Nó là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào.
Lao động chính là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến
đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của
mình. Trong quá trình sản xuất con người sử dụng công cụ lao động tác
động lên đối tượng lao động, bắt lực lượng tự nhiên phục tùng theo yêu cầu
của con người. Như vậy con người với động lực sáng tạo của họ đang là
vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Do vậy giải
phóng sức sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng của thiên nhiên, trước
hết là giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng
sáng tạo của con người.
Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia
súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng
chính và chăn nuôi đàn gia súc (nuôi trong nhà). Công việc nông nghiệp cũng
được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học,
những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ
thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi.
Nông nghiệp là tập hợp các phân ngành như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến
nông sản và công nghệ sau thu hoạch. Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính,
việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
15
- Nông nhiệp thuần nông hay nông nhiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia
đình của mỗi người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp
sinh nhai.
- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên
môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng
máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm
nông nghiệp. Nông nghiệp hiện đại vượt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền
thống, loại sản xuất nôn nghiệp chủ yếu tạo ra lương thực cho con người hay
làm thức ăn cho các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay
ngoài lương thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con người còn các loại
khác như: sợi dệt (sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mê tan, dầu sinh
học, ethanol ), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đường,
mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và
không hợp pháp như (thuốc lá, cocaine ).
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà
con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng vật nuôi để tạo ra
sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn
bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp [7, tr.30-31].
1.3. Điều kiện tiền đề của CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.3.1. Chuyển đổi ngành nghề ở nông thôn
- Ngành:
Khi các hoạt động kinh tế phát triển, các lĩnh vực mới xuất hiện ngày càng
nhiều đặt ra yêu cầu phải thực hiện sự phân ngành.
17
Việc xây dựng hệ thống phân ngành là cần thiết đối với các tổ chức
liên quan tới lĩnh vực kinh tế mang tính chất thống kê như ngành nông
nghiệp. Điều đó không chỉ giúp chúng ta quản lý dữ liệu một cách hiệu quả
khoa học mà còn nâng cao giá trị sử dụng của dữ liệu lên mức độ cao hiệu quả.
Tại Việt Nam Theo Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993 đã phân chia ngành
nông nghiệp như sau:
Bảng 1.1. Phân ngành nông nghiệp tại Việt Nam
A.
NÔNG NGHIỆP VÀ LÂM NGHIỆP
01
Nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ có liên quan
011
Trồng trọt
Trồng lúa
Trồng cây lương thực khác
Trồng cây công nghiệp
Trồng cây dược liệu
Trồng cây ăn quả ( trừ cây đã tính vào cây công nghiệp)
Đánh bắt thuỷ sản, ươm, nuôi, trồng thuỷ sản và các hoạt động dịch vụ có
liên quan
(Nguồn: Niên giám tổng cục thống kê năm 2008 )