Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Mục lục
Lời mở đầu
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý trong doanh nghiệp Nhà nước
1.1-Khái niệm, vai trò và yêu cầu về cán bộ quản lý
1.1.1- Khái niêm cán bộ quản lý
1.1.2- Vai trò của cán bộ quản lý
1.1.3- Yêu cầu đối với cán bộ quản lý
1.1.3.1- Yêu cầu về kỹ năng đối với cán bộ quản lý
1.1.3.2- Yêu cầu về phẩm chất cá nhân
1.2- Công tác của cán bộ quản lý
1.2.1- Nội dung công tác của cán bộ quản lý
1.2.2- Phong cách làm việc của cán bộ quản lý
1.3- Tính cấp thiết của việc xây dựng đôi ngũ cán bộ trong
doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng đội ngũ cán bộ ở Trung tâm khai
thác vận chuyển Bưu điện Hà Nội
2.1- Đặc điểm tình hình hoạt động của Trung tâm khai thác
vận chuyển Bưu điện Hà Nội
2.1.1- Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm
2.1.2- Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
2.1.3- Cơ cấu tổ chức của Trung tâm
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức
2.1.4- Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại Trung tâm
a- Tổ chức mạng vận chuyển
b- Tổ chức mạng khai thác
2.2- Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý của Trung tâm
2.2.1- Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý của Trung tâm
23
25
25
26
27
27
30
31
31
32
33
34
34
34
35
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
3.1.3- Phương hướng và mục tiêu phát triển của trung tâm khai
thác vận chuyển
3.2- Những giải pháp để hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn cán
bộ của Trung tâm
3.2.1- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng
3.2.2- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
3.2.3- Đổi mới công tác kế hoạch hóa cán bộ
3.2.4- Đổi mới công tác nhận xét đánh giá cán bộ
3.2.5- Tăng cường công tác kiểm tra
3.2.6- Đổi mới bộ máy làm công tác cán bộ
3.2.7- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.2.8- Xây dựng tiêu chuẩn cho cán bộ quản lý tại Trung tâm
xã hội được nâng cao. Tuy nhiên quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế là
xu hướng khách quan, dẫn đến quá trình vừa phải hợp tác để phát triển, vừa
phải cạnh tranh rất phức tạp, đặc biệt là giữa các nước đang phát triển. Đối với
nước ta, trong tình hình và bối cảnh quốc tế như vậy, tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế trong thời gian tới phải được nâng lên một bước mới, gắn với việc cam
kết quốc tế. Do vậy phải ra sức nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng
độc lập tự chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động
quốc tế.
Trước những vận hội lớn của Đất nước, các doanh nghiệp Nhà nước một
thành phần quan trọng và cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa cũng phải có những bước đi thích hợp để tồn tại và phát triển, đồng
thời nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Trong mỗi doanh nghiệp
đội ngũ cán bộ quản lý có một vai trò vô cùng quan trọng nó quyết định đến
việc hoạt động sản xuất kinh doanh thắng lợi hay thất bại của mỗi doanh
nghiệp.
Để có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, có đầy đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng
được những đòi hỏi trong giai đoạn mới thì việc nâng cao năng lực lãnh đạo
của cán bộ quản lý trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết và cấp bách.
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
Trung tâm khai thác vận chuyển Bưu điện Hà Nội là Trung tâm chuyên
ngành Bưu chính, đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty
Bưu chính viễn thông Việt nam (nay là Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông).
Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước, trong những năm qua đặc
biệt sau 2 giai đoạn tăng tốc, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã
đạt những thành tựu to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ trên
cả hai lĩnh vực Bưu chính và Viễn thông. Tuy nhiên trong quá trình phát triển,
bên cạnh những thành quả không khỏi còn nhiều hạn chế bất cập. Phương án
đổi mới quản lý khai thác kinh doanh Bưu chính - Viễn thông trên địa bàn tỉnh,
3/ PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu đội ngũ cán bộ quản lý phân loại theo chức năng
chuyên môn trong bộ máy quản lý ở Trung tâm khai thác vận chuyển Bưu điện
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu viết đề tài này, tôi chọn phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác - LêNin, cụ thể là:
- Kết hợp với những phương pháp điều tra khảo sát.
- Phương pháp thống kê, phân tích.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích dự báo.
- Phương pháp trừu tượng hoá, khái quát hoá để rút ra những vấn đề cốt
lõi và bản chất nhằm góp phần nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trong
doanh nghiệp.
5/ KẾT CẤU CHÍNH CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, chuyên đề có kết cấu chính gồm 3
chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý trong
doanh nghiệp Nhà nước
Chương II: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trong Trung tâm khai thác vận
chuyển
Chương III: Những giải pháp cơ bản xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý của
Trung tâm khai thác vận chuyển
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1- Khái niệm, vai trò và yêu cầu về cán bộ quản lý
1.1.1- Khái niệm cán bộ quản lý:
hành), phân bổ nguồn lực cho những mục đích khác nhau (vai trò người đảm
bảo nguồn lực), và tiến hành đàm phán với những đối tác (vai trò người đàm
phán).
Những vai trò trên của các nhà quản lý là tất yếu, giúp họ thực hiện có
kết quả và hiệu lực chức năng, nhiệm vụ của mình.
1.1.3 -Yêu cầu đối với cán bộ quản lý:
Cán bộ nói chung là những người làm công tác có nghiệp vụ, có chuyên
môn trong các cơ quan Nhà nước, trong cả hệ thống chính trị, có trình độ từ đại
học, cao đẳng trở lên, được hình hành trong quá trình đào tạo ở nhà trường. Số
người có trình độ thấp hơn như trung cấp, sơ cấp được gọi là nhân viên. Cán bộ
lãnh đạo là những người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ
chức cả trong hệ thống chính trị thông qua con đường bầu cử, đề bạt, bổ nhiệm;
Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là người đứng đầu quan trọng nhất, có tác dụng chi
phối toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định.
Nội dung quá trình quản lý biểu hiện ở hệ thống cơ cấu các chức năng;
để thực hiện hiệu quả các chức năng này trong quá trình quản lý phải được hình
thành hệ thống những cán bộ chức năng có cấu trúc chuyên môn hoá chặt chẽ,
đó là bộ máy quản lý. Cán bộ quản lý trong doanh nghiệp là người lao động
thực hiện những chức năng và nhiệm vụ nhất định trong các quá trình quản lý,
là những người làm việc trong bộ máy quản lý. Cán bộ lãnh đạo quản lý là
người đứng đầu một tổ chức, điều hành hoạt động của tổ chức, sử dụng công
cụ, phương tiện để điều khiển một hoạt động nào đó của tổ chức. Cán bộ quản
lý là người có trách nhiệm, nghĩa vụ quyền hạn và lợi ích nhất định tuỳ theo vị
thế vai trò đảm nhiệm chức năng quản lý.
Quản lý ngày nay có vị trí cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội. Trong đó đội ngũ cán bộ quản lý đang là những nhân tố có tính
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
quyết định đến hiệu quả hoạt động và sự thành công hay thất bại của mỗi hệ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
hoạt, đồng bộ và có hiệu quả; là người biết cách tổ chức lao động, biết sử dụng
đúng tài năng của từng cộng sự, đánh giá đúng con người và biết xử lý tốt các
mối quan hệ trong và ngoài hệ thống.
Yêu cầu về phẩm chất đạo đức tác phong: Đạo đức là chuẩn mực về
phẩm chất của con người, được xã hội chấp nhận. Tiêu chuẩn đạo đức đòi hỏi
cán bộ quản lý phải tuân theo các chuẩn mực nhất định biểu lộ qua ý thức đối
với xã hội; qua thái độ công tác; qua hành vi đối với lợi ích cá nhân và lợi ích
tập thể, được mọi người đồng tình ủng hộ và thừa nhận. Tác phong thể hiện
thông qua các phương pháp và nghệ thuật ứng xử để thực hiện nhiệm vụ. Tuỳ
thuộc vào phẩm chất đạo đức, tài năng cá nhân và môi trường cụ thể, mỗi
người cán bộ quản lý có tác phong riêng. Nhưng muốn quản lý và động viên
được người khác thì tác phong thích hợp nhất là tác phong quần chúng, có
nghĩa là xuất phát từ quần chúng, vì quyền lợi của quần chúng, tranh thủ được
sự ủng hộ của quần chúng. Muốn vậy người cán bộ quản lý phải biết lắng nghe
quần chúng, thuyết phục quần chúng, tin yêu quần chúng.
Ngoài ra các cán bộ quản lý phải đạt được ở mức nhất định những yêu
cầu về kỹ năng quản lý và phẩm chất đạo đức cá nhân.
1.1.3.1- Những yêu cầu về kỹ năng đối với cán bộ quản lý
Kỹ năng là khả năng của con người có thể đưa kiến thức vào thực tế
nhằm đạt được những kết quả mong muốn với hiệu quả cao. Daniel Katz đã
phân các kỹ năng cần thiết đối với các nhà quản lý thành ba nhóm: kỹ năng kỹ
thuật, kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người, kỹ năng nhận thức.
*Kỹ năng kỹ thuật
Kỹ năng kỹ thuật là khả năng của nhà quản lý thể hiện được kiến thức và
tài năng trong quá trình quản lý các hoạt động thuộc lĩnh vực chuyên môn của
mình. Nó bao gồm kỹ năng thực hiện các hoạt động chuyên môn và kỹ năng
thực hiện các quy trình quản lý. Muốn quản lý tốt những hoạt động nhất định,
nhà quản lý phải hiểu và thực hiện được những hoạt động đó.
Cụ thể như là các thợ cơ khí làm việc với các dụng cụ, và người đốc
Kỹ năng kỹ thuật có vai trò quan trọng lớn nhất ở cấp quản lý cơ sở,
giảm dần với cấp quản lý bậc trung và có ý nghĩa khá nhỏ đối với cấp cao. Kỹ
năng thực hiện các mối quan hệ con người có ý nghĩa quan trọng đối với mọi
cấp quản lý.
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
Kỹ năng nhận thức có vai trò nhỏ đối với cán bộ quản lý cấp cơ sở, trở
nên quan trọng hơn đối với cấp trung và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
cấp cao
*Kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người
Kỹ năng thực hiện các mối quan hệ con người là khả năng của một người
có thể làm việc được với những người khác, bao hàm những kỹ năng cụ thể
sau:
+ Đánh giá đúng con người, có khả năng thấu hiểu và thông cảm với
những tâm tư, tình cảm nguyện vọng của con người
+ Mềm dẻo trong hành vi, có kỹ năng giao tiếp và đàm phán
+ Có khả năng tạo quyền lực và tạo ảnh hưởng
+ Sử dụng một cách có nghệ thuật các phương pháp lãnh đạo con người
+ Có khả năng xây dựng và làm việc theo nhóm
+ Có khả năng chủ trì các cuộc họp
+ Giải quyết tốt các mâu thuẫn trong tập thể
+ Quản lý có hiệu quả thời gian và sự căng thẳng của bản thân mình,
không để các vấn đề cá nhân làm ảnh hưởng đến công việc chung …
Nhà quản lý có kỹ năng làm việc với con người sẽ tham gia tích cực vào
công việc của tập thể, tạo ra được một môi trường trong đó mọi người cảm thấy
an toàn, dễ bộc bạch ý kiến và phát huy triệt để tính sáng tạo của mình
1.1.3.2- Yêu cầu về phẩm chất cá nhân
Để làm việc có hiệu quả, bên cạnh kỹ năng nhà quản lý còn cần mang
những đặc tính cá nhân nhất định. Có thể tổng kết những đòi hỏi về đặc điểm
Công tác cán bộ, ảnh hưởng đến chức năng lãnh đạo và kiểm tra. Những
người quản lý được đào tạo tốt sẽ có khả năng tạo dựng môi trường làm việc
thuận lợi để mọi người, khi làm việc theo nhóm, có thể đạt được các mục tiêu
của tổ chức và mục đích cá nhân của mình. Nói cách khác, công tác cán bộ hợp
lý sẽ làm cho lãnh đạo hiệu quả hơn. Tương tự, việc lựa chọn được những
người quản lý có chất lượng cũng ảnh hưởng tốt đến công tác kiểm tra, ví dụ
như qua việc họ có thể loại trừ được nhiều sai lệch so với các kế hoạch, không
để chúng trở thành những vấn đề lớn .
Công tác cán bộ đòi hỏi phải áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống mở.
Tuy được thực hiện trong tổ chức, công tác này có mối quan hệ chặt chẽ với
môi trường bên ngoài. Vì vậy, các yếu tố nội bộ tổ chức, chẳn hạn như các
chính sách quản lý nguồn nhân lực hay bầu không khí trong tổ chức phải được
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
tính đến, đồng thời không bỏ qua các yếu tố của môi trường bên ngoài. Ví dụ,
xu thế sử dụng công nghệ cao đòi hỏi phải có nhà quản lý được đào tạo cẩn
thận, bồi dưỡng chu đáo và rất lành nghề. Việc không thể đáp ứng những nhu
cầu về những người quản lý như vậy có thể sẽ gây trở ngại cho tổ chức trong
việc phát triển với tốc độ mong muốn.
1.2.2- Phong cách làm việc của cán bộ quản lý
Phong cách làm việc của cán bộ quản lý là tổng thể các biện pháp, các
thói quen, các cách cư xử đặc trưng mà người đó sử dụng trong quá trình giải
quyết công việc hàng ngày để hoàn thành nhiệm vụ.
* Các phong cách làm việc cơ bản:
- Phong cách cưỡng bức
Là phong cách làm việc trong đó nhà quản lý chỉ dựa vào kiến thức, kinh
nghiệm, quyền hạn của mình để tự đề ra các quyết định rồi bắt buộc cấp dưới
phải thực hiện nghiêm chỉnh, không được thảo luận hoặc bàn bạc gì thêm.
Phong cách cưỡng bức có ưu điểm là giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh
Cán bộ quản lý là những người giữ chức vụ và trách nhiệm cao trong
mỗi tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của bộ máy, có vai trò tham gia
định hướng điều khiển hoạt động của bộ máy đó. Cán bộ quản lý là người xây
dựng kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, điều hành, giám sát các hoạt động của
doanh nghiệp, để duy trì hoạt động thường xuyên một cách tối ưu để thực hiện
các chương trình kế hoach mục tiêu của doanh nghiệp đó
1.3- Tính cấp thiết của việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong doanh nghiệp
Yêu cầu, nhiệm vụ của việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong giai đoạn
hiện nay là phải phát huy được những lợi thế, tận dụng được mọi khả năng để
đạt trình độ công nghiệp tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ
sinh học. Tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn những
thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối chính sách, đồng thời có
tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh, kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại
và có một số ngành công nghiệp nặng then chốt, có năng lực nội sinh về khoa
học và công nghệ, giữ vững ổn định kinh tế, tài chính vĩ mô, đảm bảo an ninh
lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường. Xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp nội lực với
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước. Như vậy sản xuất xã
hội ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường có sự đua tranh quyết liệt sẽ làm tăng nhanh các phương án,
dẫn đến việc quyết định lựa chọn phương án tối ưu trở nên ngày càng phức tạp.
Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, sự xuất
hiện của hệ thống thông tin mới, gồm cả thông tin quản lý đã mở rộng đòi hỏi
khả năng xử lý, chọn lọc để có quyết định quản lý đúng đắn và hiệu quả ngày
phần lớn đội ngũ cán bộ của Doanh nghiệp tại quốc gia đó mà trước hết đó là
các doanh nghiệp bản địa. Các quốc gia vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của
chính mình, đều buộc phải định hướng cho mình chiến lược phát triển bền
vững, nghĩa là sự phát triển lành mạnh, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại, vừa
không xâm phạm đến lợi ích của các thế hệ tương lai.
Những vấn đề nêu trên, cộng với xu thế phát triển Kinh tế - Xã hội của
các nước trong khu vực và trên thế giới, sự diễn ra nhanh chóng của quá trình
toàn cầu hóa vá tin học hóa, đã đặt ra một sứ mệnh vô cùng to lớn cho các
doanh nghiệp. Đó là làm thế nào để hoạt động của doanh nghiệp vừa hết sức
hợp lý, lại vừa hết sức nhân văn để có thể thích ứng những yêu cầu của cộng
đồng và Quốc tế.
Thực tế muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, ngoài các biện pháp về kinh tế, pháp luât,
xã hội…thì biện pháp nâng cao chất lượng của người cán bộ quản lý là một nội
dung không thể thiếu được, vì trong nguyên nhân thành công hay thất bại của
Doanh nghiệp thì cá nhân người lãnh đạo Doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt
quan trọng.
Quá trình đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa
hội nhập kinh tế quốc tế là cả môt chặng đường phấn đấu thực hiện những
nhiệm vụ cao cả nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi đội ngũ cán bộ
quản lý phải có đủ năng lực phẩm chất không ngừng sáng tạo, phải vươn lên
mạnh mẽ hơn nữa mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Vì vậy để thấy được tính cấp thiết của đội ngũ cán bộ quản lý, người cán
bộ quản lý trước hết phải hoàn thành tốt vai trò, chức năng nhiệm vụ đặt ra của
doanh nghiệp.
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
Tháng 5/1998, toàn bộ Trung tâm chuyển về 142 Đường Lê Duẩn- Quận
Đống Đa – Hà Nội. Đến năm 2000 nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Trung
tâm đã đưa thêm dịch vụ mới Datapost vào hoạt động làm tăng doanh thu lên
đáng kể. Bước vào Thế kỷ mới, năm 2001 là năm thực hiện kế hoạch 5 năm
đầu tiên của Thế kỷ XXI, Trung tâm khai thác vận chuyển liên tục thu được
những thành công rất đáng tự hào, và cũng là năm đơn vị được chính thức
chuyển về địa điểm mới của mình tại Đường Phạm Hùng – Mỹ Đình – Từ
Liêm – Hà Nội. Đây là cụm công trình kiến trúc liên hoàn từ 4 tầng đến 10 tầng
với tổng diện tích mặt bằng sàn trên 2000m
2
được xây dựng trên diện tích xấp
xỉ 10000 m
2
, có mặt bằng sản xuất và làm việc rộng lớn, là lợi thế cho khai thác
và tập trung từng bước hiện đại hóa Bưu chính.
Tháng 10 năm 2002, hệ thống máy chia chọn Bưu phẩm, Bưu kiện tự
động lần đầu tiên được lắp đặt tại Việt Nam đã làm tăng năng suất lao động lên
hàng chục lần và làm giảm thiểu cường độ lao động cho công nhân khai thác
Bưu chính của Trung tâm. Đến tháng 12 năm 2002, thực hiện phương án đổi
mới tổ chức sản xuất của Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt nam
Trung tâm khai thác vận chuyển được Tổng Công ty bưu chính giao thêm
nhiệm vụ khai thác, vận chuyển Bưu chính mạng cấp II từ Bưu điện Thành phố
Hà Nội chuyển giao sang. Mô hình tổ chức cũng được đổi mới theo hướng
chuyên môn hóa cao nhằm tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm,
giảm thiểu khai thác trung gian, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
trong cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.
Trung tâm khai thác vận chuyển là đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân,
hạch toán kinh tế phụ thuộc và có tài khoản tại Ngân hàng Công thương Việt
nam
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
tâm, có trách nhiệm quản lý chung toàn bộ công tác tổ chức tài chính, hoạt
động và kết quả sản xuất kinh doanh của toàn Trung tâm, đồng thời là đại diện
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
pháp nhân của đơn vị, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Bưu điện thành phố Hà
Nội, Tổng công ty và trước Pháp luật về điều hành hoạt động của đơn vị trong
phạm vi quyền hạn và nghĩa vụ được giao. Bên cạnh đó Giám đốc còn nắm bắt
các chủ trương chính sách của Đảng Nhà nước, của Tổng công ty, cũng như các
mối quan hệ với các cơ quan hữu quan, để ra quyết định chung cho toàn Trung
tâm.
- Phó Giám đốc là người giúp Giám đốc quản lý, điều hành một hoặc
một số lĩnh vực hoạt động của đơn vị theo phân công của Giám đốc, chịu trách
nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được phân công.
Các phòng chức năng:
- Phòng tổ chức - hành chính: là đơn vị quản lý, giúp Giám đốc Trung
tâm thực hiện chức năng quản lý công tác tổ chức nhân sự, đào tạo, thi đua,
tổng hợp, thanh tra, lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động,
phòng chống cháy nổ và hành chính quản trị.
- Phòng kế toán: Là đơn vị quản lý, giúp Giám đốc Trung tâm thực hiện
chức năng quản lý công tác hạch toán kế toán thống kê, công tác tài chính và
thông tin kinh tế.
- Phòng kế hoạch: Là đơn vị quản lý, giúp Giám đốc Trung tâm thực
hiện chức năng quản lý về kế hoạch sản xuất kinh doanh, quản lý tài sản, cung
ứng vật tư và nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật.
- Phòng quản lý nghiệp vụ: Là đơn vị quản lý, tham mưu giúp Giám đốc
Trung tâm thực hiện chức năng quản lý nghiệp vụ, triển khai hướng dẫn thực
hiện các qui định thể lệ nghiệp vụ trong nước và Quốc tế, quản lý chất lượng
dịch vụ, mạng lưới khai thác, vận chuyển, kinh doanh các dịch vụ Bưu chính
Viễn thông và báo cáo thống kê nghiệp vụ.
cổ phần chuyển phát nhanh Hà Nội ).
- Các đội vận chuyển I, II, III: Là đơn vị có chức năng thực hiện kế hoạch
sản xuất kinh doanh của Trung tâm trong lĩnh vực vận chuyển Bưu chính, Phát
hành báo chí trên các tuyến đường thư do đơn vị được giao phụ trách.
Khối phụ trợ
- Đội kỹ thuật tin học: Là đơn vị phụ trợ, thực hiện chức năng tổ chức theo
dõi, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống thiết bị dây chuyền khai thác, tin
học, điện nước, điều hòa nhiệt độ…. đảm bảo an toàn kỹ thuật, phát huy hiệu
quả nguồn vốn đầu tư được Công ty giao.
- Đội điều độ trung chuyển: Là đơn vị phụ trợ, thực hiện chức năng điều
hành sản xuất trong lĩnh vực trung chuyển túi gói bưu chính tại đầu mối khu
vực Hà Nội.
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
- Ban bảo vệ: Là đơn vị phụ trợ, giúp Giám đốc Trung tâm thực hiện
chức năng quản lý công tác an ninh nội bộ, bảo đảm mục tiêu quân sự, tự vệ,
phòng chống cháy nổ tại các khu vực thuộc Trung tâm quản lý.
Sau đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khai thác vận chuyển
Bưu điện Hà Nội:
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khai thác vận chuyển Bưu điện Hà Nội:
Lớp Quản lý kinh tế Khoa KHQL K36
GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM
Khối
khai thác
CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC
CÁC PHÒNG CHỨC NĂNG
ĐỘI VẬN CHUYỂN 2
ĐỘI VẬN CHUYỂN 3
BAN BẢO VỆ
ĐỘI KỸ THUẬT TIN HỌC
ĐỘI ĐIỀU ĐỘ TRUNG CHUYỂN
BƯU CỤC GIAO DỊCH
CHI NHÁNH BCUT
CHI NHÁNH DATAPOST
BƯU CỤC KHAI THÁC B. PHẨM
BƯU CỤC KHAI THÁC B. KIỆN
BƯU CỤC KHAI THÁC EMS
BƯU CỤC NGOẠI DỊCH
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vi Thị Châu Mai
- * Cơ cấu lao động của Trung tâm;
Tính đến quý II năm 2006 cơ cấu lao động tại Trung tâm được thống kê
như sau:
Bảng thống kê lao động
Trình độ
Ngành
Đại học
( Người )
Cao đẳng
( Người )
Trung cấp
( Người )
Sơ cấp
( Người )
1. Viễn thông 10 5 2
2. Kinh tế 32 10 5
Trung tâm khai thác vận chuyển là đơn vị đầu mối tổ chức, quản lý khai
thác vận chuyển và giao nhận túi gói Bưu chính trên mạng cấp 1 (Liên tỉnh)
trực tiếp với các Bưu điện tỉnh trong khu vực. Từ Quảng Bình trở ra hết các
tỉnh phía Bắc.
Trao đổi trên mạng Quốc tế qua các cửa khẩu Nội Bài, bằng đường hàng
không. Qua cửa khẩu Hữu Nghị Quan, bằng đường bộ. Qua Singapore bằng
đường thủy. Đường thư ôtô chuyên ngành trong nước.
Tính đến nay, Trung tâm khai thác vận chuyển có khoảng 16 tuyến đường
thư chuyên ngành cấp I, trong đó có 7 tuyến đường thư tần xuất 2 chuyến/ngày
và có 9 tuyến đường thư 01 chuyến/ngày với khoảng 16.000 km xe lăn
bánh/ngày. Thực hiện giao nhận với 147 Bưu cục cấp 1,2,3 trên tuyến. Đảm
nhận toàn bộ mạng vận chuyển cấp 2 của Tp Hà nội.
- Đường thư bộ đi Quốc tế hiện đang duy trì tuyến đường thư bộ Quốc tế
là Hà nội – Bắc Kinh giao nhận qua cửa khẩu Hữu nghị quan 2 chuyến/tuần.
Đường thư máy bay hợp đồng với 8 tuyến đường bay của hãng Hàng không
Việt nam và 3 hãng Hàng không Quốc tế khác để vận chuyển đi Tp Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng và đến các nước trên Thế giới. Sử dụng vận chuyển bằng máy
bay tuyến Hà nội - Hồ Chí Minh 2 chuyến/ngày.Tuyến Hà nội - Đà Nẵng 2
chuyến/ngày.
- Đường tàu hoả: Sử dụng tàu Thống nhất T3 và T4 của Tổng công ty
Đường sắt Việt Nam để vận chuyển bưu gửi cho các tỉnh dọc tuyến đường sắt
Bắc - Nam và ngược lại với tần suất 1 chuyến/ngày. Ngoài ra còn thuê thêm toa
Hành lý và toa dịch vụ (HBN) để lưu thoát bưu gửi trao đổi thẳng giữa Hà nội
và Tp Hồ Chí Minh bình quân 25 - 30 tấn/ngày.
Ngoài ra Trung tâm còn giao nhận tiếp nối với các Trung tâm tại Quảng
Bình, Nha Trang, Buôn Ma Thuột bằng xe ôtô chuyên ngành, tạo nên sự phối
hợp khép kín trên toàn mạng lưới.
Do năng lực vận chuyển bằng tàu hoả, đường hàng không giữa hai đầu
Bắc - Nam còn hạn chế nên Trung tâm vẫn sử dụng thêm các xe ôtô tải ngoài
xã hội để vận chuyển hàng Bưu chính đi thẳng Hà nội - Hồ Chí Minh. Tùy theo