ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN (IER)
TIỂU LUẬN: QUẢN LÝ BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
KHAI THÁC NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở VIỆT NAM
GVGD: GS.TS LÊ CHÍ HIỆP
HVTH : LÊ THỊ MINH CHÂU
LỚP : QLMT K2010
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Nội dung 1
1. Giới thiệu về vị trí địa lý của Việt Nam 3
2. Khái quát trữ lượng và tình hình khai thác các nguồn năng lượng tái tạo ở
Việt Nam 4
3. Chính sách nhà nước hỗ trợ cho việc phát triển năng lượng tái tạo 7
100% điện từ năng lượng tái tạo [5]. Theo nhận định này, nếu chúng ta khai thác tốt
nguồn tài nguyên này thì trong tương lại không những chúng ta giải quyết được vấn đề
thiếu hụt nguồn năng lượng mà còn góp phần giúp cho môi trường sống tươi đẹp hơn.
Tuy nhiên, nói lúc nào cũng dễ hơn làm, để đạt được kết quả như trên đòi hỏi nước ta
phải có những chiến lược thăm dò, khai thác cụ thể rõ ràng. Hiện nay chính phủ ta cũng
đã có những bước đi để khai thác nguồn năng lượng này, nhưng mức độ đến đâu và hiệu
quả đạt được như thế nào?. Qua bài viết này em xin cung cấp một cách khái quát tình
hình khai thác năng lượng tái tạo ở Việt Nam trong những năm qua để chúng ta có cái
nhìn bao quát nhất. Bên cạnh đó em cũng xin nêu một số ý kiến cá nhân của riêng mình
về vấn đề này.
Nội dung
1. Giới thiệu về vị trí đại lý của Việt Nam
Việt Nam có tọa độ địa lý là: Kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ -
23°23′ Bắc, nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương. Với diện tích phần đất liền
khoảng 331.698 km² và vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích khoảng 1.000.000 km².
Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ và
Biển Đông, phía Bắc giáp Trung Quốc, và Lào,Campuchia ở phía Tây. Đất nước Việt
Nam có hình chữ S và khoảng cách từ bắc tới nam là khoảng 1.650 km, vị trí hẹp nhất
theo chiều đông sang tây là 50 km. Với đường bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo.
Việt Nam tuyên bố 12 hải lý ranh giới lãnh hải, thêm 12 hải lý tiếp giáp nữa theo thông lệ
và vùng an ninh, và 200 hải lý làm vùng đặc quyền kinh tế.
Với vị trí địa lý như vậy nên địa hình của Việt Nam có đặc trưng là nhiều đồi núi
và sông ngòi. Ngoài ra, do nằm ở tọa độ địa lý như trên nên Việt Nam có khí hậu nhiệt
đới gió mùa đặc trưng, với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ khoảng
tháng 11 năm nay đến tháng 4 năm sau; còn mùa mưa xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm
sau [2].
Chính vì có vị trí như vậy mà hằng năm Việt Nam nhận được lượng nước mưa và
lượng bức xạ mặt trời khá lớn. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi giúp Việt Nam
C đến 105
o
C [5]. Nguồn năng lượng này chủ yếu tập trung tại đồng bằng sông
Hồng, vùng Đông Nam-Tây Bắc với nhiệt độ đạt tới 160
o
C tại độ sâu 4km. Dự đoán chỉ
riêng năng lượng địa nhiệt của vùng này có thể sinh khoảng 1,16% tổng sản lượng điện
của Việt Nam sản xuất năm 2006. Hay tại đới địa nhiệt đứt gãy Sông Lô-Vĩnh Ninh có
nhiệt độ trung bình khoảng 114
o
C, ngoài ra các nguồn nước nóng ở các điểm Hưng Hà,
Phù Cừ, Hải Dương, Ba Vì (Hà Nội)… có nhiệt độ khoảng 40-50
o
C [6]. Qua những số
liệu thu thập được các nhà khoa học dự đoán tổng công suất nhà máy địa nhiệt nếu được
xây dựng tại Việt Nam có thể tới khoảng trên 400 MW [5].
Một số liệu thu thập riêng tại Hà Nội, sản lượng điện thương phẩm hiện ước tính 5
tỷ kWh mỗi năm, phân nửa trong số này dùng cho điều hoà. Nếu dùng công nghệ bơm
nhiệt đất (giá tương đương lắp điều hoà nhiệt độ) sẽ tiết kiệm được 0,8 tỷ kWh. Công
nghệ này không chỉ giúp tiết kiệm 800 tỷ đồng một năm mà còn giảm phát thải hơn
250.000 tấn CO
2
.
Ngoài ra nguồn năng lượng này có rất nhiều ứng dụng như: địa nhiệt ở vùng có
nhiệt độ khoảng 200
o
C làm quay tuabin máy phát điện. Đối với các nguồn địa nhiệt từ
80
o
C đến dưới 200
phát triển kinh tế xã hội nhưng vẫn chúng ta không thể phủ nhận lợi ích của nó về mặt
môi trường.
Nói đến năng lượng tái tạo ở Việt Nam không thể không nhắc đến 2 nguồn năng
lượng quan trọng là: năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Việt Nam được đánh giá là
quốc gia sở hữu nguồn năng lượng gió và số giờ năng tốt nhất khu vực Đông Nam Á, tuy
nhiên việc khai thác 2 nguồn năng lượng này vẫn còn nhiều hạn chế [10].
Nguồn năng lượng gió
Việc khai thác và sử dụng nguồn điện bằng sức gió giúp chúng ta không lo hết
nhiên liệu hay cạn kiệt nguồn nước như thủy điện và nhiệt điện, và đặc biệt là không gây
những tác động đáng kể đến môi trường.
Năng lượng gió tại Việt Nam lên đến 500-1.400 kWh/ m
2
mỗi năm, nếu thực hiện
một phép tính toán học thì ta thấy trên toàn lãnh thổ Việt Nam nguồn năng lượng này vô
cùng lớn. Sở dĩ chúng ta có nguồn gió dồi dào như vậy là nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi:
Việt Nam nằm trong khoảng 80-230 độ vĩ Bắc - thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa,
mỗi năm có 2 mùa gió chính. Ngoài ra, chúng ta còn có đường bờ biển kéo dài và nhiều
đảo lớn nhỏ - chính những nơi này sở hữu chế độ gió tốt nhất cả nước (V
tb
lớn hơn 4m/s
(ở độ cao 12 m trên mặt đất)). Đây là điều kiện thuận lợi để ta lắp các loại động cơ gió
phát điện [5]. Dự tính công suất phát điện của nguồn năng lượng này khoảng 800-1.400
kwh/m
2
/năm trên đất liền, từ 500-1.000 kwh/m
2
/năm tại các khu vực bờ biển, Tây
Nguyên và phía Nam và dưới 500 kwh/m
2
/năm ở các khu vực khác [6]. Đáng tiếc là hiện
3. Chính sách nhà nước hỗ trợ cho việc phát triển năng lượng tái tạo
Những lợi ích do nguồn năng lượng tái tạo đem lại là không thể bàn cãi, nhưng để
có thể khai thác và sử dụng được nó trong thực tế cần có sự hỗ trợ tích cực của các cơ
quan ban ngành. Nhận thức rõ điều này nhà nước ta trong thời gian qua đã cụ thể hóa
việc khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo bằng những luật, nghị định, chính sách
với mục đích phát huy hết tiềm năng về năng lượng tái tạo mà chúng ta có. Một số khung
chính sách về phát triển năng lượng tái tạo mà nước ta đã triển khai trong thời gian qua.
* Luật Bảo vệ môi trường
Tại Điều 33 của Luật bảo vệ môi trường 2005, tại điều này nhà nước khuyến khích
phát triển năng lượng tái tạo nhằm nâng cao tỉ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng
lượng quốc gia.
* Luật Điện lực 2004
Luật Điện lực, được thực thi từ tháng 1/7/2005, đã có những quy định về chính
sách phát triển điện lực thông qua ứng dụng khai thác NLTT như đẩy mạnh việc khai
thác và sử dụng các nguồn NLTT để phát điện; các dự án đầu tư phát triển nhà máy phát
điện sử dụng các nguồn NLTT được hưởng ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế. Luật đồng
thời cũng quy định tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác nhau đầu tư vào việc
phát triển, sử dụng các NLTT không gây ô nhiễm môi trường trong các hoạt động sản
xuất điện, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo và khuyến khích các tổ chức
và cá nhân đầu tư xây dựng mạng lưới điện hoặc các trạm phát điện sử dụng NLTT.
* Luật tiết kiệm năng lượng
Đây là luật mới nhất liên quan đến vấn đề năng lượng, luật được thông qua vào
ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ tháng 1/2011.
* Nghị định 102/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/9/2003 về sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả
Phát triển sử dụng các nguồn NLTT để tiết kiệm các nguồn năng lượng không tái
tạo được như than đá, sản phẩm dầu, khí đốt là một trong những biện pháp công nghệ mà
các cơ sở sản xuất phải áp dụng để thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã
được quy định rõ trong Nghị định này.
* Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường đến 2010 và tầm nhìn đến 2020 (Quyết
về thuế thu nhập doanh nghiệp, dự án CDM được áp dụng như dự án đặc biệt ưu đãi
đầu tư, được miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất như dự án đặc biệt khuyến
khích đầu tư; sản phẩm CDM được trợ giá từ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.
4. Nhận xét về chính sách khai thác nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam
Phần trình bày ở mục 2 đã cho chúng ta thấy phần nào hiện thực của việc khai thác
nguồn năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay. Rõ ràng tiềm năng về năng lượng tái tạo
nói chung ở nước ta là không hề nhỏ, nếu không muốn nói là đứng nhất nhì trong khu
vực Đông Nam Á, nhưng tại sao tỉ lệ khai thác của chúng ta, thậm chí thời gian tiếp cận
với các nguồn năng lượng này lại thua xa một số nước trong khu vực. Muốn khai thác tốt
nguồn năng lượng này rất cần sự hỗ tích cực của chính phủ, không chỉ bằng lời nói mà
cần thể hiện bằng hành động thực tế. Việc khai thác không tốt nguồn tài nguyên tái tạo có
phải vì nhà nước không nhìn thấy những lợi ích mà nguồn năng lượng này mang lại hay
không?. Câu trả lời là không, Nhà nước ta thấy rõ và đã có những chính sách khuyến
khích, những đầu tư khai thác thăm dò nhưng bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ, chúng ta cần
nhiều hơn thế. Để có thể tìm ra nguyên nhân vì sao như vậy chúng ta cùng tìm hiểu cách
làm của một số nước có trình độ phát triển như nước ta trong việc khai thác năng lượng
tái tạo qua một ví dụ dưới đây.
Như đã trình bày ở trên, năng lượng địa nhiệt có tiềm năng khai thác rất lớn không
chỉ trên Thế giới mà còn ở Việt Nam chúng ta, nó được xem là nguồn năng lượng của thế
kỉ 21. Nguồn năng lượng này có tính ưu việt là là không thải ra bất kỳ chất khí, nước,
chất rắn độc hại nào trong môi trường, không tạo ra khí nhà kính, bởi vậy cũng không
đóng góp vào việc tạo ra các trận mưa axít. Vốn đầu tư ban đầu của địa nhiệt là khoảng
1,5 triệu USD cho 1 MW, tức là gấp 1,5 lần so với thủy điện nhưng bù lại việc xây dựng
một nhà máy địa nhiệt với công nghệ tiên tiến nhất hiện nay chỉ kéo dài khoảng 2-3 năm,
diện tích xây dựng nhỏ hơn rất nhiều so với thủy điện. Đặc biệt, giá thành của dạng điện
năng mới này có khả năng cạnh tranh cao với các dạng điện năng truyền thống [7]. Đây
chính là một điểm rất đáng chú ý trong việc đầu tư khai thác nguồn năng lượng này.
Trong khu vực Đông Nam Á, ngoài Việt Nam còn có Philippines, Thái Lan và
Indonexia sở hữu nhiều năng lượng địa nhiệt, tuy nhiên chỉ có 3 nước trên biết cách khai
thác và sử dụng tốt nguồn tài nguyên đó. Không những vậy Philippin và Indonexia còn là
lượng tái tạo, chỉ mới có một luật là “Luật tiết kiệm năng lượng” nhưng cũng chỉ mới có
hiệu lực trong đầu năm nay, để có thể đi vào cuộc sống của người dân có lẽ cần một thời
gian khá dài nữa.
Những Luật còn lại gần như chỉ nêu những chiến lược, chính sách chung chung,
không cụ thể cho việc phát triển năng lượng tái tạo. Không nêu ra những khuyến khích cụ
thể khi đầu tư xây dựng cơ sở để khai thác những nguồn năng lượng này. Hay nói cách
khác chính sách của chúng ta chưa cho nhà đầu tư thấy được họ sẽ được gì nếu đầu tư
vào nó.
Ngoài ra, nguồn đầu tư cho việc thăm dò, khai thác năng lượng tái tạo còn chưa
tương ứng, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Điều quan trọng nhất của việc sản xuất ra sản phẩm có thị trường tiêu thụ. Đối với
những sản phẩm mới thì việc này lại cần hơn. Để yên tâm đầu tư sản xuất những nhà đầu
tư phải thấy được nguồn khách hàng của mình, đảm bảo được khi sản phẩm ra đời phải
có được thị trường cho nó. Nhưng chúng ta lại chưa có một thể chế nào đảm bảo nguồn
khách hàng cho năng lượng tái tạo, trong khi các chính sách của ta lại tập trung vào
nguồn năng lượng hóa thạch. Chưa nói đến việc nước ta còn độc quyền nguồn cung cấp
điện, chính việc này cũng tạo ra một số vấn đề tiêu cực trong xã hội.
Chúng ta chỉ mới khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo bằng cách là có
những chính sách giảm thuế, ưu đãi về thuế, … Để phát triển được tiềm năng năng lượng
tái tạo xứng tầm, chúng ta cần nhiều hơn thế.
Để phát huy tốt nhất những gì chúng ta đang hướng đến cần thiết phải học hỏi
những kinh nghiệm mà nước ngoài đã làm.
5. Đề xuất một số biện pháp nhằm khai thác tốt hơn nguồn năng lượng tái tạo
Để kết thúc bài tiểu luận này, tôi xin phép được đưa ra một số biện pháp nhằm
tăng hiệu quả khai thác năng lượng tái tạo ở Việt Nam.
Muốn khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên tái tạo, nước ta cần lập kế hoạch
thực hiện lâu dài. Trong kế hoạch đó phải đặt rõ mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn
rõ ràng, cung cấp những phương tiện để thực hiện mục tiêu đó.
Hiện nay nguồn tài nguyên của chúng ta vẫn ở dạng tiềm tàng, chưa có những số
liệu về trữ lượng cụ thể. Muốn khai thác có hiệu quả thì chúng ta cần có những con số cụ
liên quan về khai thác và sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Do những hạn chế về
kiến thức nên có thể những ý kiến trên mang tính phiến diện, chủ quan nhưng đó là
những suy nghĩ rất thật của em về vấn đề trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AFP, Ðông Nam Á nhiều năng lượng sạch nhưng chưa được khai thác, Báo Người
Việt online, 2011.
/>nhung.html
2. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Địa lý Việt Nam.
/>am
3. H Lâm, Nhà máy địa nhiệt đầu tiên của Việt Nam được SVA Financial group xây
dựng tại Đakrông Quảng Trị, SVA Financial Group, 2010.
/>may-ien-ia-nhiet-au-tien-cua-viet-nam-c-sva-financial-group-xay-dng-tai-akrong-quang-
tri&catid=30%3Abn-tin-sva&Itemid=83&lang=vi
4. Lan Hương, Phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam - tiềm năng còn bỏ ngỏ, Báo
Năng lượng Việt Nam, 2009.
/>con-b-ng.vietnamep
5. Năng lượng tái tạo ở Việt Nam
/>%A3ng_t%C3%A1i_t%E1%BA%A1o_%E1%BB%9F_Vi%E1%BB%87t_Nam
6. Năng lượng tái tạo ở Việt Nam: Tiềm năng nhiều, ứng dụng ít, Viện thủy điện và năng
lượng tái tạo, 2010.
/>it.html
7. Phạm Ngọc, Điện từ lòng đất, Tin khoa học kỹ thuật, 2005.
8. Phương Lan, Phát triển năng lượng địa nhiệt: Tiềm năng còn bỏ ngỏ, 2008.
/>o_ngo.html
9. T_NONE_SOURCE, Năng lượng tái tạo, tiềm năng chưa được đánh thức, Báo
HVAC Việt Nam, 2010.
/>luong-mat-troi-tiem-nang-chua-duoc-danh-thuc.aspx
10. Tiến Dũng, Việt Nam 'bỏ quên' nguồn năng lượng tái tạo, Báo Vnexpress, 2009.