Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đã biết nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế đó đang ngày càng phát triển và
hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Sự cạnh tranh sinh ra sự phát triển. Theo
quy luật đó, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế cũng
đang tăng cao. Các doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên mẫu mã sản phẩm, trên
giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm … Không chỉ vậy, việc nắm bắt thông
tin tài chính của nhau cũng là một sự cạnh tranh để phát triển công ty.
Bên cạnh việc nắm bắt rõ tình hình tài chính của đối thủ cạnh tranh, các
nhà quản lý cũng phải hiểu rõ tình hình tài chính của chính công ty mình để có
thể đề ra những chiến lược phát triển đúng đắn và kịp thời nhằm nâng cao
doanh thu và lợi nhuận, từ đó tăng sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Vì thế hiện nay kiểm toán ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
nói chung và từng thực thể kinh tế nói riêng. Kiểm toán giúp xác minh các
thông tin tài chính có được phản ánh trung thực và hợp lý hay không, bày tỏ ý
kiến hoặc đưa ra những kiến nghị giúp các nhà quản lý doanh nghiệp có thể
đưa ra những quyết định và chiếc lược phát triển doanh nghiệp một cách sáng
suốt nhất.
Nhu cầu kiểm toán ngày càng cao trong đó đáng nói đến là kiểm toán
báo cáo tài chính. Và trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán các khoản
đầu tư dài hạn ngày càng thu hút được sự chú ý của những người quan tâm
đến Báo cáo kiểm toán. Nền kinh tế phát triển là một yếu tố kích thích sự hợp
tác giữa các doanh nghiệp, nhằm tạo ra sự phong phú trong ngành nghề kinh
doanh của một doanh nghiệp, tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
cũng như gây dựng uy tín và mở rộng thương hiệu cho doanh nghiệp. Do ngày
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nay sự liên doanh hợp tác giữa các doanh nghiệp các tập đoàn ngày càng phát
triển và lan rộng trong nền kinh tế nên khoản mục đầu tư tài chính đặc biêt là
• Góp vốn liên doanh (TK 222)
• Đầu tư dài hạn khác (TK 228)
• Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn (TK 229)
1.1.1.1. Đầu tư vào công ty con:
Công ty con là một doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một doanh
nghiệp khác (gọi là công ty mẹ). Đầu tư vào công ty con bao gồm các khoản
đầu tư cổ phiếu và các khoản đầu tư vốn dưới hình thức góp vốn bằng tiền, tài
sản khác vào công ty con hoạt động theo loại hình Công ty Nhà nước, Công
ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần Nhà nước và các loại hình doanh
nghiệp khác. Nghiệp vụ đầu tư vào công ty con được ghi nhận khi nhà đầu tư
giữ trên 50% quyền biểu quyết và có quyền chi phối các chính sách tài chính
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích từ các hoạt
động của doanh nghiệp đó.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.1.2. Góp vốn liên doanh:
Vốn góp liên doanh phản ánh toàn bộ số vốn góp liên doanh dưới hình
thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát và tình hình thu hồi lại vốn
góp liên doanh khi kết thúc hợp đồng liên doanh. Vốn góp vào cơ sở liên
doanh đồng kiểm soát bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tư, tiền vốn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp kể cả tiền vay dài hạn dùng vào việc góp vốn.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh hoạt động kinh
doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh. Hoạt động kinh
doanh được đồng kiểm soát là hoạt động của một số liên doanh được thực
hiện bằng cách sử dụng tài sản và nguồn lực khác của các bên góp vốn liên
doanh mà không thành lập một cơ sở kinh doanh mới. Mỗi bên góp vốn liên
doanh tự quản lý và sử dụng tài sản của mình và chịu trách nhiệm về các
nghĩa vụ tài chính và các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động. Hoạt
động của liên doanh có thể được nhân viên của mỗi bên góp vốn liên doanh
quyền biểu quyết.
Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày:
a) Danh sách các công ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ
lệ(%) quyền biểu quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và
b) Các phương pháp được sử dụng để kế toán các khoản đầu tư vào công ty
liên kết.
Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn
chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một
khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của
nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một
khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.1.4. Đầu tư dài hạn khác:
Đầu tư dài hạn khác phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng
giảm các loại đầu tư dài hạn khác (ngoài các khoản đầu tư vào công ty con,
góp vốn vào cơ sở liên doanh đồng kiểm soát, đầu tư vào công ty liên kết),
như đầu tư trái phiếu, đầu tư cổ phiếu hoặc đầu tư vào các đơn vị khác mà
khoản đầu tư chỉ dưới 20% vốn chủ sở hữu (dưới 20% quyền biểu quyết) …
và thời hạn thu hồi hoặc thanh toán vốn đầu tư trên một năm.
1.1.2. Đặc điểm kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn:
Mục tiêu kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn là đưa ra các ý kiến về
Bảng cân đối, các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được thể hiện
một cách thực tế tại thời điểm cuối niên độ kế toán không (thường là 31/12);
các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được kê khai và đánh giá chính
xác hay không và các khoản đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp có được phân
loại và miêu tả chính xác hay không. Ngoài ra, kiểm toán viên phải xác định
xem việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn đã chính xác và tuân
thủ chuẩn mực cũng như quy định kế toán hiện hành hay chưa.
động sản đối với các tài sản tương tự.
Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày: Danh sách các công
ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ lệ(%) quyền biểu
quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và các phương pháp được sử dụng
để kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết.
Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn
chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một
khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của
nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một
khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2. Quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn:
Quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn về cơ bản giống
quy trình kiểm toán của các khoản mục khác trên Bảng cân đối, đó là: Lập kế
hoạch kiểm toán - Thực hiện kiểm toán - Kết thúc kiểm toán. Trước khi tiến
hành xây dựng kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá được hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
soát để có thể xây dựng được một kế hoạch kiểm toán cho các khoản mục trên
BCTC nói chung và khoản mục đầu tư tài chính dài hạn nói riêng.
1.2.1. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng:
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu
hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc xác định phạm vi thực
hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ của đơn vị.
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo trình tự
nhất định và có thể khái quát theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi
tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc.
được rủi ro đối với các khoản mục trên BCĐ.
• Xem xét và kiểm tra hệ thống sổ sách kế toán đã hoàn tất của khách
hàng, đối với các khoản đầu tư dài hạn, KTV kiểm tra tổng quát các biên bản
họp của HĐQT hoặc của BGĐ để đánh giá khái quát về hệ thống quản lý cũng
như kiểm soát các khoản mục đầu tư tài chính dài hạn này.
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho
khoản mục đầu tư tài chính dài hạn:
Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống
KSNB.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng được vận hành hữu
hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại. Ví dụ như công ty
khách hàng đầu tư vào một công ty liên kết mà qua phỏng vấn khách hàng,
KTV nhận thấy khách hàng am hiểu các chuẩn mực về đầu tư vào công ty liên
kết và phân biệt được với các khoản đầu tư khác, đồng thời khoản đầu tư này
được ghi nhận đầy đủ trong các biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông hoặc
BGĐ thì hệ thống KSNB đối với khoản mục đầu tư vào công ty liên kết vận
hành khá hiệu quả. Từ đó, KTV có thể khoanh vùng rủi ro kiểm soát đối với
khoản đầu tư vào công ty liên kết thấp.
Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ):
Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu
của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên
số dư và các nghiệp vụ phát sinh.
Đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn, thử nghiệm kiểm soát được
thực hiện với phương pháp chủ yếu là kiểm tra tài liệu xem các dấu hiệu phê
duyệt đầu tư; hoặc rà soát sơ lược để theo dõi từng bước thực hiện nghiệp vụ
đó trên sổ sách hoặc trong thực tế để đánh giá về kiểm soát đối với nghiệp vụ
này.
toán. Hiểu biết rõ về ngành nghề kinh doanh của khách hàng giúp KTV hiểu
thêm và có những kiến thức cơ bản về nội dung cũng như mục đích đầu tư của
khách hàng nói chung và đầu tư dài hạn nói riêng. Từ đó có thể hiểu được các
sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động đầu tư tác động đến BCTC của khách
hàng. KTV cũng cần tìm hiểu phương pháp ghi nhận các khoản đầu tư vào
công ty con, công ty liên kết, góp vốn liên doanh theo phương pháp giá gốc
hay phương pháp vốn chủ sở hữu và có được áp dụng nhất quán đối với các
khoản đầu tư hay không.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phương pháp vốn chủ sở hữu: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu
tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những
thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu
tư. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh phần sở hữu của nhà
đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư.
Phương pháp giá gốc: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được
ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay
đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ phản ánh khoản thu nhập của nhà
đầu tư được phân chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh
sau ngày đầu tư.
Xem lại kết quả của cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán
chung của khách hàng. Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng rất
nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các
đặc điểm hoạt động khác và đặc biệt về những biên bản họp hoặc những quyết
định đầu tư của Ban lãnh đạo. Qua đó KTV sẽ tìm thấy những thông tin hữu
ích về công việc kinh doanh của khách hàng, về các khoản đầu tư tài chính của
khách hàng và bước đầu nắm bắt được những khoản đầu tư đó là đầu tư dài
hạn hay ngắn hạn, nội dung cụ thể của những khoản đầu tư đó. Xem lại hồ sơ
của công ty có tuân thủ những nội dung trong giấy đăng ký kinh doanh và điều
lệ của Công ty hay không.
• Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra, biên bản các
cuộc họp cổ
đông, HĐQT và BGĐ của năm hiện hành hay trong năm trước:
Dựa vào các báo cáo này, KTV có thể nhận thức được xu hướng phát triển của
khách hàng, xem trong năm hiện tại khách hàng có xu hướng tăng hoặc giảm
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các khoản đầu tư dài hạn, mục tiêu phát triển chiến lược của công ty là gì và
các khoản đầu tư có mang lại lợi nhuận cao cho công ty.
• Các hợp đồng và cam kết quan trọng:
Các hợp đồng và cam kết quan trọng như: Hợp đồng góp vốn liên doanh, hợp
đồng đầu tư vào công ty liên kết hoặc các hợp đồng và cam kết đầu tư khác là
mối quan tâm hàng đầu của cuộc kiểm toán.
1.2.2.3. Thực hiện thủ tục phân tích:
Theo CMKT hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn
của cuộc kiểm toán. Sau khi thu thập được thông tin cơ sở và thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, KTV tiến hành thực hiện các thủ tục phân
tích đối với các thông tin đã thu thập được để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch.
KTV thường thực hiện thủ tục phân tích ngang đối với khoản mục đầu
tư tài chính dài hạn, thường là so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc
giữa các kỳ với nhau. Nhờ đó KTV thấy được những biến động bất thường và
xác định được lĩnh vực cần chú ý.
1.2.2.4. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro:
Sau các bước trên KTV sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để
đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra chiến lược kế hoạch kiểm toán phù hợp. Thêm
vào đó KTV phải đánh giá được tính trọng yếu và rủi ro để xây dựng được kế
trong năm, thu nhập hoặc tổn thất từ liên doanh trong năm và số dư cuối kỳ.
Cộng các tổng số và đối chiếu chúng với Bảng Cân đối và kết quả công việc
thực hiện trong thời kỳ kiểm toán tạm thời để xác định sự tồn tại của các
khoản ĐTDH tại thời điểm cuối kỳ kế toán (31/12).
+ Kiểm tra giá của các khoản tăng ĐTDH có qui mô lớn như sau:
▪ Đối chiếu với các tài liệu hỗ trợ, ví dụ như giấy chứng nhận cổ phần
hoặc hợp đồng liên doanh.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
▪ Đối chiếu hồ sơ thanh toán (sổ quỹ tiền mặt, sổ phụ ngân hàng)
+ Kiểm tra việc cổ phần của Doanh nghiệp trong liên doanh được đưa vào
sổ một cách chính xác bằng cách thực hiện các công việc sau:
▪ Đối chiếu lợi nhuận được chia hoặc tổn thất trong liên doanh hoặc các
giấy chứng nhận khác của liên doanh.
▪ Đối chiếu lợi nhuận được chia hoặc tổn thất của liên doanh với báo
cáo lãi lỗ của doanh nghiệp.
+ Đánh giá sự cần thiết lập khoản dự phòng giảm giá ĐTDH bằng cách so
sánh giá trị mang sang của chúng với các mục sau:
▪ Đối với các chứng khoán được mua bán trên các thị trường chứng
khoán được công nhận thì đối chiếu với giá thị trường chứng khoán đó công
bố vào thời điểm cuối kỳ kế toán và tại thời điểm kiểm toán.
▪ Đối với các khoản đầu tư bằng hình thức liên doanh thì phải đối chiếu
với phần TSCĐ của liên doanh theo BCTC đã kiểm toán của liên doanh.
▪ Đối với các khoản ĐTDH khác, thì phải so sánh với sự đánh giá bất
động sản thực tế đối với các tài sản tương tự hoặc các bằng chứng thích hợp
khác.
+ Kiểm tra hạch toán việc thanh lý như:
▪ Đối chiếu giá bán với hợp đồng bán, với hồ sơ thanh toán tiền.
▪ Đối chiếu giá trị mang sang tại thời điểm thanh lý với tài liệu làm việc
toán thích hợp về việc đánh giá và trình bày các khoản đầu tư dài hạn.
Thủ tục kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn thường để xác định xem
đơn vị có khả năng và có ý định nắm giữ các khoản đầu tư này dài hạn không
và phải thu thập các bản giải trình về khoản đầu tư dài hạn.
Thủ tục kiểm toán thường bao gồm việc kiểm tra báo cáo tài chính và
các thông tin khác có liên quan, như xác định và so sánh giá chứng khoán trên
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thị trường với giá trị ghi sổ của các khoản đầu tư dài hạn đến ngày ký báo cáo
kiểm toán. Nếu giá thị trường thấp hơn giá trị ghi sổ thì kiểm toán viên phải
xét đến sự cần thiết phải lập dự phòng giảm giá. Nếu xét thấy có nghi ngờ về
khả năng thu hồi khoản đầu tư thì kiểm toán viên phải xem xét đến các điều
chỉnh và thuyết minh thích hợp trình bày trong báo cáo tài chính.
1.2.3.1. Thực hiện thủ tục kiểm soát với khoản mục đầu tư tài chính
dài hạn:
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống KSNB
với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống KSNB hoạt động
hiệu quả. Khi đó thủ tục kiểm soát được triển khai nhằm thu thập các bằng
chứng kiểm toán về thiết kế và về hoạt động của hệ thống KSNB. Chuẩn mực
Kiểm toán Việt Nam số 500 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ
thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết
kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB”.
Thủ tục kiểm soát với các khoản đầu tư dài hạn thường là phỏng vấn
Ban giám đốc, đưa ra những câu hỏi về nội dung các khoản đầu tư dài hạn để
xác nhận họ có thực hiện hoạt động kiểm soát đối với khoản mục này không.
Các câu hỏi đưa ra cần gọn, rõ rang và đi thẳng vào nội dung của khoản mục
đầu tư. Với khoản mục đầu tư dài hạn, KTV thường sử dụng câu hỏi mở để
khách hàng có thể trả lời trực tiếp về vấn đề mà KTV quan tâm. Kết thúc
phỏng vấn cần tóm tắt những kết quả thu được về nhận biết thực tiễn với xác
có nguồn độc lập từ bên ngoài có độ tin cậy cao hơn nguồn này từ bên trong.
Ví dụ, KTV có thể gửi thư xác nhận tới bên thứ ba, là bên khách hàng đầu tư,
để xác nhận khoản đầu tư của khách hàng có thực tế phát sinh không. Những
dữ liệu đã được kiểm toán có độ tin cậy cao hơn dữ liệu chưa được kiểm toán.
Chẳng hạn như: khoản mục đầu tư dài hạn năm trước đã được kiểm toán có độ
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tin cậy cao hơn khoản mục đầu tư dài hạn mới phát sinh trong năm kiểm toán
hiện hành.
Thủ tục phân tích phát triển mô hình và ước tính giá trị và so sánh với
giá trị ghi sổ thường không được áp dụng nhiều trong kiểm toán các khoản
đầu tư tài chính dài hạn vì các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư vào công
ty con, công ty liên kết, góp vốn liên doanh) thường không có biến động nhiều
và thường không có chênh lệch giữa các kỳ kế toán. Trong đầu tư tài chính dài
hạn thì đầu tư chứng khoán dài hạn hoặc cổ phiếu trái phiếu dài hạn mới có sự
chênh lệch giữa giá thị trường với giá trị ghi sổ, vì thế cần lập khoản dự phòng
giảm giá đầu tư dài hạn.
1.2.3.3. Thủ tục kiểm tra chi tiết với kiểm toán các khoản đầu tư tài
chính dài hạn:
Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc
nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để
kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay
loại nghiệp vụ. Thông thường KTV thường chọn một số khoản mục điển hình
từ một tài khoản để kiểm tra chi tiết và trong các khoản mục điển hình đó, KTV
áp dụng phương pháp chọn mẫu đại diện với giá trị mẫu lớn hoặc nội dung các
khoản mục bất thường. Tuy nhiên đối với các tài khoản đầu tư dài hạn trên
BCĐ thì KTV thường tiến hành kiểm tra chi tiết với tất cả các nội dung đầu từ
vì số lượng nghiệp vụ đầu tư dài hạn tương đối ít trong một công ty.
Khi tiến hành kiểm tra chi tiết, KTV thực hiện các biện pháp kỹ thuật
được từ các hoạt động đầu tư bằng cách thu thập thông tin về tình hình kinh
doanh của doanh nghiệp nhận đầu tư (công ty con, công ty liên kết) và tính
toán lại các khoản lãi được hưởng hoặc lỗ phải chịu trong kỳ.
Sau khi xác nhận và kiểm tra thực tế, KTV thấy có dấu hiệu vi phạm
hoặc chênh lệch tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của những vi phạm đó đến
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BCTC mà đưa ra bút toán điều chỉnh hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán
khác để xác minh mức độ ảnh hưởng của khoản mục đó đến BCTC. Nếu có
những dấu hiệu vi phạm và thực hiện không đúng quy định pháp luật hoặc kế
toán hiện hành, KTV cần trình bày ngay ý kiến của mình với Ban Giám đốc và
tuỳ thuộc vào hoàn cảnh có thể thông tin cho HĐQT vì khoản mục đầu tư dài
hạn thường là một khoản mục quan trọng trên BCTC và là chiến lược kinh
doanh lâu dài của Doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thu thập đủ bằng chứng để kết luận về khoản mục đầu tư tài chính dài
hạn của khách hàng, KTV đi đến kết thúc kiểm toán cho khoản mục đó.
1.2.4. Kết thúc kiểm toán:
Sau khi thu thập đủ bằng chứng kiểm toán, KTV có thể đi đến kết luận
kiểm toán về khoản mục đầu tư tài chính dài hạn.
Nếu có những vi phạm trong việc trình bày các khoản đầu tư tài chính
dài hạn trên BCTC, KTV cần xem xét sự cần thiết và mức độ đầy đủ của vị
phạm cần thông báo cho lãnh đạo đơn vị được kiểm toán. Nếu lãnh đạo đơn vị
thừa nhận hành vi phạm pháp có ảnh hưởng sai phạm trọng yếu đến BCTC thì
KTV sẽ đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý kiến trái ngược. Nếu đơn vị
được kiểm toán không chấp nhận sửa chữa sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu
đến BCTC, thậm chí cả hành vi phạm pháp có thể không dẫn đến sai sót trọng
yếu trong BCTC nhưng có liên quan đến những quy định pháp lý, công ty
kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng kiểm toán.
AASC là một trong hai tổ chức đầu tiên và lớn nhất của Việt Nam hoạt
động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế, định giá tài
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sản ... AASC có mối quan hệ độc lập và tin cậy với các Bộ, Ngành, Kiểm toán
Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu và các trường Đại học trong cả nước cũng
như với các hãng kiểm toán quốc tế như E&Y, KPMG, PWC ... và hơn thế
nữa AASC là thành viên của INPACT quốc tế. Các mối quan hệ này giúp cho
AASC tiếp cận kiến thức và trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực kế toán, kiểm
toán trong và ngoài nước. Dựa trên cơ sở này AASC sẽ hỗ trợ cho khách hàng
giải quyết tốt các vấn đề mà ít có tổ chức dịch vụ chuyên ngành nào có thể
thực hiện được.
Tháng 7 năm 2005 AASC chính thức gia nhập tổ chức INPACT quốc
tế và trở thành đại diện của INPACT quốc tế tại Việt Nam. Ngày 02/07/2007
AASC chính thức chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên từ
DNNN thuộc Bộ tài chính.
AASC đã và đang cung cấp cho khách hàng nhiều loại hình dịch vụ có
giá trị cao và tầm quan trọng đáng kể trong Doanh nghiệp:
▪ Dịch vụ Kế toán;
▪ Dịch vụ Kiểm toán;
▪ Dịch vụ Tư vấn về Thuế;
▪ Dịch vụ Tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh;
▪ Dịch vụ Đào tạo và Hỗ trợ tuyển dụng;
▪ Dịch vụ giám định tài chính kế toán;
▪ Dịch vụ thẩm định giá.
Dịch vụ kiểm toán là một trong các hoạt động truyền thống của AASC.
Qua hơn 10 năm hoạt động dịch vụ này đã được hoàn thiện và phát triển về
phạm vi và chất lượng, đáp ứng mọi yêu cầu ngày càng cao của khách hàng
và tiến trình hội nhập quốc tế. Dịch vụ kiểm toán cũng là một dịch vụ đóng
Ngoài ra, AASC có quan hệ khá tốt với Bộ Tài Chính và các cơ quan
pháp luật khác, đồng thời trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của AASC còn
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
25