đồ án tốt nghiệp phân tích và thiết kế anten cassegrain cho các trạm vệ tinh mặt đất - Pdf 22

PHẦN 1
LÝ THUYẾT ANTEN
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM TRƯỜNG ĐIỆN TỪ
oOo
I. Đặc điểm sóng điện từ.
Toàn bộ lý thuyết anten được xây dựng trên cơ sở của sóng điện từ.
Điện trường và từ trường đồng thời tồn tại trong không gian thống nhất tạo
thành trường điện từ.
Trường điện từ là một dạng vật chất cơ bản, chuyển động với
vận tốc c trong mỗi hệ quy chiếu quán tính trong chân không; nó thể hiện sự
tồn tại và vận động qua những tương với một dạng vật chất khác là những
hạt hoặc những môi trường chất mang điện.
Trường điện từ có mang năng lượng và nhiệt độ:

)DHBE(
2
1
W +=
(
3
m
J
)
Trường điện từ đặc trưng bởi các đại lượng sau :
E
: vector cường độ điện trường (
m
V
)
D
: Vector cảm ứng điện (

(1.2)
ρ=Ddiv
(1.3)
0Bdiv =
(1.4)
Ngoài ra còn có phương trình liên hệ :

EED
r
εε=ε=
ο
(
2
m
C
) (1.5)
HHB
r
µµ=µ=
ο
(
T
m
Vs
2
=
) (1.6)
EJ γ=
(
2

Đối với môi trường chân không
)
m
F
(
36
10
9
π
=ε=ε

ο
101
r
÷=ε
:các điện môi thông thường
1
r

: không khí
43
r
1010 ÷=ε
: một số muối senhet

hệ số từ thẩm của môi trường (
m
H
)
Đối với môi trường chân không

=
Bo
cos( t -
)
V
x
Eo
,
Bo
, phụ thuộc điều kiện đầu.
Hàm
E
( x,t ) và
B
( x,t ) là các hàm sóng, như vậy điện trường và từ trường
lan truyền trong không gian dưới dạng sóng .
Vậy sóng điện từ là trường điện từ biến thiên truyền đi trong không gian. Sự
lan truyền của sóng điện từ thể hiện qua sự lan truyền năng lượng điện từ,
các cường độ trường (sóng E, sóng H )và các thế (sóng A, sóng ϕ).
Theo dạng các mặt phẳng đồng pha của sóng điện từ mà ta có sóng
điện từ phẳng, sóng trụ hoặc sóng cầu Sóng điện từ phẳng là sóng điện từ
có mặt đồng pha là mặt phẳng, phương truyền của sóng phẳng ở mọi nơi đều
vuông góc với một mặt phẳng xác đònh.
Sóng điện từ được gọi là đơn sắc hay đều hòa nếu các vector cường
độ điện trường, từ trường biến đổi hình sin theo thời gian với một tần số wxác
đònh.
- Sóng phẳng gọi là sóng phẳng đồng nhất nếu vector E,H của sóng phụ
thuộc chỉ một tọa độ không gian.
- Sóng trụ tròn là dạng sóng mà trường và năng lượng lan truyền theo chiều
bán kính r tỏa từ một trục ra không gian xung quanh hoặc hướng vào trục.

(1.8)
trong đó β gọi là hệ số pha (rad/m)
f. Năng lượng và năng thông.
- Năng lượng sóng điện từ là năng lượng của trường điện từ.
Năng lượng này tồn tại trong vùng không gian có sóng điện từ.
- Năng thông là năng lượng truyền đi một đơn vò diện tích trong một đơn vò
thời gian.
Đònh nghóa :Vectơ Poynting.
Là vector mật độ dòng công suất điện từ, vector đó bằng công suất điện từ
chảy qua một đơn vò diện tích đặt vuông góc với dòng chảy
ExH=δ
III. Sóng điện từ trong môi trường bán dẫn điện đồng chất:
Ta có điện dẫn suất của môi trường γ

0 khi đó hệ thống các
phương trình Maxwell là:
rot
H
=

+
t
D


rot
E
= -
t
B

λ
π

2
c
w
(1.10) là hệ số
hấp thụ.
4. Điện trường và từ trường truyền đi với vận tốc giống nhau v= c/n (m/s).
5. Ở một điểm trong không gian từ trường lệch pha với điện trường một góc.
ϕ = arctg
n
ρ
(độ)
6. Biên độ cường độ điện trường và từ trường có quan hệ với nhau bởi biểu
thức :
H
m
=
π
ρ+
120
n
22
E
m
(
m
A
)

mà không phải là chấn động cơ học. Sóng điện từ có đặc tính với sóng ánh
sáng, mặc dù bước sóng của chúng dài hơn yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến
đặc tính của chúng. Khi nói đến chúng người ta thường dùng khái niệm điện
hơn khái niệm từ, cường độ của chúng đựơc đo bằng vol/
m
, công suất đo
bằng oat/
2
m
. Sự tồn tại của năng lượng trong sóng điện từ được chứng minh
bởi một sự thực là nó cảm ứng dòng điện trong vật chất mà nó tiếp xúc. Sóng
vô tuyến có trục điện và trục từ vuông góc nhau. Sự đònh hướng các trục này
trong không gian gọi là phân cực và chúng đựơc biểu diễn theo hướng của
trục điện. Bước sóng của sóng vô tuyến hiện nay thường nằm trong khoảng
20.000m đến 4mm . Tốc độ của chúng trong không gian tự do là cố đònh
khoảng 300 triệu mét hoặc 161800 hải lý trên giây. Giá trò này được sử dụng
rộng rãi khi xét sự truyền lan của sóng trong khí quyển. Vì tốc độ là cố đònh,
khi tần số tăng thì bước sóng giảm. Ví dụ dưới đây chỉ rõ công thức đưa ra ở
trên được sử dụng như thế nào để đổi bước sóng ra tần số: Hãy tìm tần số của
một đài phát sóng vô tuyến phát trên bước sóng 1500m.

λ
=
c
f
, hoặc tần số =
Hz000.200
500.1
000.000.300
=

càng rộng thì cường độ của nó càng yếu.
Bộ phản xạ phát năng lượng đi theo một chùm tia hẹp với góc độ
nhất đònh, năng lượng ấy được phát từ tiêu điểm mặt phản xạ thì bộ phản xạ
cũng tập trung tất cả năng lượng từ nguồn bên ngoài đi đến nó rồi phản xạ về
cùng một tiêu điểm ấy theo cùng góc độ như lúc nó phát đi. Điều đó nói lên
rằng anten có tính đònh hướng cho cả thu và phát. Nó không những có lợi cho
độ chính xác của việc do hướng mà còn làm tăng cường độ của sóng thu
được.
Sự suy giảm cường độ tín hiệu theo khoảng cách: cường độ của tín hiệu
thu được ở một điểm sẽ biến đổi khi thay đổi khoảng cách của điểm đó đến
máy phát như sau:
+ Cường độ trường( đo bằng vol/
m
) tỉ lệ nghòch với khoảng cách.
+ Công suất( đo bằng oat/
2
m
) tỉ lệ nghòch với bình phương khoảng cách. ï
V. Công suất truyền sóng lý tưởng.
Giả sử nguồn bức xạ là đẳng hướng và được đặt trong một không
gian tự do. Nghóa là trong một môi trường đồng nhất, đồng hướng không hấp
thụ và có hệ số điện thẩm tương đối bằng một.
Ta tính mật độ thông lượng năng lượng của trường bức xạ ở một
khoảng cách kể từ nguồn và giả thuyết là năng lượng bức xạ phân bố đồng
đều trên mặt cầu bán kính r.
Biểu thò công suất bức xạ bằng W. Đơn vò chiều dài là m , ta có
biểu thức thông lượng năng lượng qua một đơn vò điện tích của mặt cầu bán
kính r trong một đơn vò thời gian là:
S =
)m/W(

) Eh =
r
p30
(V/m)
Trong thực tế người ta dùng những hệ thống bức xạ có tính phương
hướng. Mức độ đònh hướng được đánh giá bởi hệ số phương trình D, hệ số D
là một hệ số đặc trưng cho mật độ tập trung năng lượng bức xạ của anten
theo một hướng nào đó. Có thể hiểu một cách đơn giản như sau: một anten có
hướng công suất bức xạ P và có hệ số tính phương hướng ở một hướng nào đó
là D sẽ tạo ra điểm thu ở hướng đó một cường độ trường có trò sẽ giống như
một anten về hướng có công suất PD tạo ra. Như vậy việc sử dụng anten có
hướng sẽ tương đương với việc tăng công suất bức xạ lên so với anten vô
hướng khi đó:
Eh =
r
PD90
Trò số biên độ của cường độ trường E
m
=
r
pD60
(V/m)
Trò số tức thời của cường độ trường bằng :
E =
r
pD60
cos ( t-
r
pD
c

a. Những sóng vô tuyến điện lan truyền ở mặt đất sẽ lan truyền theo đường
thẳng với vận tốc không đổi. Do sự có mặt của mặt đất là dẫn điện, một mặt
gây phản xạ sóng, làm biến dạng cấu tạo của sóng và gây ra hấp thụ sóng
trong đất, mặt khác bò cuốn đi theo độ cong mặt đất do hiện tượng nhiễu xạ.
Những sóng này gọi là sóng đất. Vậy sự lan truyền sóng đất có thể bao gồm
tất cả các băng sóng đã nêu ở trên.
b. Tầng đối lưu là một lớp khí quyển nằm trực tiếp sát mặt đất lên đến độ
cao khoảng 10 – 15 km. Đó là một môi trường không đồng nhất.
c. Những sóng vô tuyến điện được truyền đi do sự khuếch tán trong tầng
đối lưu gọi là sóng tầng đối lưu. Những sóng với bước sóng ngắn hơn 10 m
mới có thể truyền đi theo dạng này. Tầng điện ly là một miền của khí quyển
cao nằm từ độ cao 60 km đến 500 km trên mặt đất. Tầng điện ly là môi
trường bán dẫn điện và sóng có thể phản xạ, từ đó ở những sóng dài hơn 10
m. Ở tầng điện ly là môi trường không đồng nhất nên nó có khả năng khuếch
tán sóng truyền đến những sóng ngắn hơn 10m.
Như vậy, những sóng vô tuyến điện được truyền
đi do sự phản xạ (một lần hoặc nhiều lần ), hoặc do
khuếch tán từ tầng điện ly gọi là sóng điện ly.
VII . Truyền sóng của những dải sóng khác nhau.
1. Đặc điểm lan truyền của sóng dài và sóng cực dài.
Từ việc truyền sóng ở trên mặt đất tầng đối lưu, tầng điện ly ở phần
trước ta sẽ rút ra kết luận cho việc truyền sóng của từng dải trong phương
thức nào cho thích hợp.
Đối với sóng dài và sóng cực dài, mặt đất có tính dẫn điện tốt. Do đó
khi truyền sóng theo phương thức sóng đất nó sẽ bò mặt đất hấp thụ ít hơn đối
với sóng trung và sóng ngắn. Mặt khác, do bước sóng của dải sóng này khá
lớn có thể so sánh với độ cong mặt đất nên sóng mặt đất có thể lan truyền
theo phng thức nhiễu xạ. Uốn cong theo mặt đất và đạt cự ly khá lớn. Do
những lý do trên sóng dài và sóng cực dài có thể truyền lan theo phương thức
sóng đất để đạt đến những cự ly khoảng 3000 km.

phá hoại trong thời gian bảo điện ly.


Hiện tượng fading của sóng trung :
Ở cự ly ngắn hiện tượng fading là hiện tượng giao thoa gọi là sóng đất và
sóng trời.
Ở cự ly xa hiện tượng fading là do giao thoa giữa sóng trời và sóng trời tại
điểm thu. Do mặt tầng điện ly thay đổi theo chiều cao, phản xạ của sóng
cũng biến đổi dẩn đến sự thay đổi quãng đường đi của sóng.
3. Đặc điểm truyền lan của sóng ngắn :
Sóng ngắn có thể truyền lan bằng sóng đất và sóng điện ly.
Khi tần số tăng sự hấp thụ của mặt đất đối với sóng mặt đất sẽ tăng.
Vì vậy, đối với sóng ngắn nếu dùng đài phát có công suất trung bình chỉ có
thể truyền lan được bằng sóng đất trong cự ly không vượt quá vài chục km.
Đối với cự ly lớn phải truyền sóng bằng sóng điện ly. Khi ấy có thể dùng
máy phát có công suất trung bình cũng có thể thông tin được và cự ly rất xa
tới hàng nghìn km.
CHƯƠNG II : SƠ LƯC VỀ ANTEN VÀ THÔNG TIN VỆ
TINH.
oOo
A. Sơ lược về Anten.
Trong một hệ thống vô tuyến, một sóng điện từ lan truyền từ máy
phát đến máy thu qua không gian. Việc truyền năng lượng điện từ trong
không gian có thể được thực hiện theo hai cách:
- Dùng các hệ truyền dẫn nghóa là các hệ dẫn sóng điện từ như đường dây
song hành, đường truyền đồng trục, ống dẫn sóng kim loại hoặc điện môi
Sóng điện từ truyền lan trong các hệ thống này thuộc loại sóng điện từ ràng
buộc.
- Bức xạ sóng ra không gian. Sóng sẽ được truyền đi dưới dạng sóng điện từ
tự do.

biến trong kỹ thuật anten. Nó gồm hai dây dài bằng nhau(hình trụ, chóp,
elipsôit) giữa dây fiđe như hình (2.1). Thường dùng nhất là chấn tử đối xứng
có chiều dài bằng nửa bước sóng và được gọi là chấn tử nữa bước sóng.
- Chấn tử không đối xứng có một đầu dây nối và một đầu của máy phát(hay
máy thu )còn đầu còn lại của máy phát (hay máy thu ) thì được nối đất hình
(2.2).
Hình 2-1.Chấn tử đối xứng. Hình 2-2.chấn tử không đối xứng.
Tùy theo ứng dụng của anten trong các hệ thống
thông tin vô tuyến, vô tuyến truyền thanh, truyền
hình, vô tuyến đạo hàng, vô tuyến thiên văn, vô
tuyến điều khiển từ xa , rada mà người ta dùng
các kết cấu tương tự của anten.
- Đối với các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình thì anten cần bức xạ
đồng đều trong mặt phẳng ngang (mặt đất ), để cho các máy thu đặc ở các
hướng bất kỳ đều có thể thu được tín hiệu của đài phát. Song anten cần bức
xạ đònh hướng trong mặt phẳng đứng, với hướng cực đại song song mặt đất để
các đài thu trên mặt đất có thể nhận được tín hiệu lớn nhất và để giảm nhỏ
năng lượng bức xạ theo các hướng không cần thiết.
- Trong thông tin mặt đất hay vũ trụ thông tin chuyển tiếp, rada, vô tuyến
điều khiển từ xa thì yêu cầu anten bức xạ với hướng tính cao, nghóa là sóng
bức xạ chỉ tập trung vào một góc hẹp trong không gian.
Như vậy nhiệm vụ của anten không phải chỉ đơn giản là biến đổi năng lượng
điện từ cao tần thành sóng điện từ tự do mà phải bức xạ sóng ấy theo những
hướng nhất đònh, với các yêu cầu kỹ thuật cho trước.
I. Nguồn bức xạ nguyên tố của anten.
Khi khảo sát của anten phức tạp, ta phải khảo sát các nguồn bức
xạ nguyên tố để làm cơ sở. Nguồn bức xạ nguyên tố gồm có: lưỡng cực điện
và lưỡng cực từ.
1.Lưỡng cực điện.
Lưỡng cực điện là một đoạn dây dẫn mãnh và chiều dài l rất nhỏ so

Vòng dây có diện tích s <<
2
λ
. Trên đó có một dòng xoay chiều Iv tạo nên
một trường điện từ xung quanh nó. Ta xem vòng dây này là một lưỡng cực từ
với dòng từ Im. Cường độ điện trường ở khu xa của vòng dây và lưỡng cực
này hoàn toàn giống nhau. Có khái niệm như vậy làm cho bài toán bớt phần
phức tạp.
Theo nguyên lý đổi tần, thường bức xạ của lưỡng cực là :
Em(
r
e
l
j
rjK−
−=
θ
λ
ϕ
sin
2
Im
)
(2.2)
Cường độ trường của lưỡng cực từ phụ thuộc vào dòng từ, kích thước của nó
trong tọa độ và bước sóng.
Trường bức xạ của một hệ thống anten được tính bằng cách cộng các trường
bức xạ của các nguyên tố riêng rẽ của hệ thống anten. Khi cộng ngoài biên
độ phải chú ý góc pha.
II. Các thông số của anten phát.

96
120
0.650
0.700
0.750
0.800
0.850
0.900
0.950
1.00
144
168
187
200
209
212
210
199
1.050
1.100
1.150
1.200
1.250
1.300
1.350
1.400
185
166
145
121

+
=
1
1
)(
2
2
η
(2.5)
Hiệu suất của anten cũng là một trong các thông số quan trọng đặc trưng cho
mức độ tổn hao công suất của anten.
4. Đồ thò phương hướng của anten.
Biểu thò sự phụ thuộc biên độ theo phương hướng bằng phương pháp toán học
hoặc đồ thò.
Khi biểu thò đặc tính phng hướng bằng đồ thò người ta dùng các đường cong
phẳng vẽ đặc tính phương hướng theo hai mặt phẳng chính, mặt phẳng ngang
và mặt phẳng đứng (đối với mặt đất ).
Búp của đặc tính phương hướng ứng với hướng phát cực đại gọi là búp
chính còn các búp khác gọi là búp phụ.
Ví dụ : búp hướng của anten đứng nối đất.
Hình 2-3.Búp hướng của anten nối đất.
5. Hệ số tác dụng phương hướng D.
Đó là tỷ số của bình phương cường độ trường ở hướng khảo sát trên
cường độ điện trường trung bình hay nói cách khác đó là tỉ số của mật độ
công suất bức xạ bởi anten ở điểm nào đó nằm trên hướng ấy, trên mật độ
công suất bức xạ bởi anten chuẩn cũng tại hướng và khoảng cách trên.
D=
2
)(
Etb

ρ
θ
ο
60
)(
2
2
rE
(2.10)
Chú ý : khi dùng anten có tính phương hướng thì điều quan trọng là phải
hướng thật đúng hướng bức xạ cực đại về phía mà ta đònh thông tin.
6. Hệ số tăng tích của anten (G).
Hệ số tăng tích của anten là một thông số biểu thò cho đặc tính bức xạ của
anten so với hệ số đònh hướng vì nó không chỉ biểu thò đơn thuần đặc tính
đònh hướng của anten mà còn biểu thò sự tổn hao trên anten.
Hệ số tăng tích là tích số của hệ số tác dụng phương hướng với hiệu suất
anten. G là một tham số đầy đủ hơn nhất vì nó không những kể đến tác dụng
phương hướng mà còn kể đến cả công suất tiêu hao vô ích trong anten.
7. Đặc tính tần số với dải thông tần của anten.
Anten cũng là một hệ thống dao động có tính chọn lọc. Anten phải bảo đảm
được hiệu suất bức xạ cũng như đặc tính phương hướng trong bảng tần số làm
việc. Người ta chia ra :
a. Anten dải rộng:là anten dùng để làm việc ở một tần số sóng mang nhưng
bảo đảm bức xạ không méo nhưng tín hiệu có dải tần số rất rộng.
b. Anten băng sóng: là anten làm việc ở một vài tần số sóng mang.
8. Hệ số khuếch đại ε của anten.
Hệ số khuếch đại ε là tích số của hệ số tính phương hướng D với hiệu suất η:

ηε
.D=

Về đại thể các thông tin có thể được phân ra các loại như thông
tin dùng cáp đồng trục hoặc cáp sợi quang và thông tin vô tuyến sử dụng
sóng vô tuyến điện nối liền nhiều nơi trên thế giới vượt qua thời gian và
không gian.
Hiện nay, các hệ thống cáp biển dung lượng lớn sử dụng các cáp sợ quang đã
được đưa vào sử dụng cho thông tin quốc tế. Đối với thông tin vô tuyến quốc
tế, thông tin vệ tinh đã cung cấp các đường thông tin dung lượng lớn thay thế
cho thông tin sóng ngắn trước đây được sử dụng thường xuyên hơn.
Để đạt được thông tin vệ tinh hiệu quả hơn, cần phải hiểu rõ hệ
thống truyền dẫn, các công nghệ và cấu hình hệ thống trạm mặt đất.
1. Nguyên lý thông tin vệ tinh.
Một vệ tinh, có khả năng thu, phát sóng vô tuyến điện sau khi
được phóng vào vũ trụ dùng cho thông tin vệ tinh; khi đó vệ tinh sẽ khuếch
đại sóng vô tuyến điện nhận được từ các trạm mặt đất và phát lại sóng vô
tuyến đến các trạm mặt đất khác. Loại vệ tinh nhân tạo sử dụng cho thông tin
vệ tinh như thế được gọi là vệ tinh thông tin.
Do vệ tinh chuyển động khác nhau khi quan sát từ mặt đất, phụ thuộc
vào quỹ đạo bay của vệ tinh, vệ tinh có thể được phân ra vệ tinh quỹ đạo
thấp và vệ tinh đòa tónh.
Vệ tinh quỹ đạo thấp là vệ tónh mà nhìn từ mặt đất nó chuyển
động liên tục, thời gian cần thiết cho vệ tinh để chuyển động xung quanh quỹ
đạo của nó khác với chu kỳ quay của quả đất xung quanh trục của nó.Vệ tinh
đòa tónh là vệ tinh được phóng lên quỹ đạo tròn ở độ cao khoảng 36.000 km
so với đường xích đạo. Vệ tinh loại này bay xung quanh quả đất một vòng
mất 24 giờ. Do chu kỳ bay của vệ tinh bằng chu kỳ quay của quả đất xung
quanh trục của nó theo hướng đông cùng với hướng quay của quả đất, bởi
vậy vệ tinh dường như đứng yên khi quan sát từ mặt đất. Do vậy nó được gọi
là vệ tinh đòa tónh. Bởi vì một vệ tinh đòa tónh có thể bảo đảm thông ổn đònh
liên tục nên có nhiều ưu điểm hơn vệ tinh quỹ đạo thấp dùng làm vệ tinh
thông tin.

Các đònh luật cơ học trong không gian, hay đònh luật Kepler đặt ra ba điều
kiện:
* Quỹ đạo phải nằm ở mức xích đạo để vệ tinh di
chuyển không lệch hướng.
* Quỹ đạo phải tròn để tốc độ vệ tinh không thay
đổi.
* Bán kính quỹ đạo phải đạt 42.200km hay 35.800km
cách mặt đất, do bán kính trái đất là 6.366km. Với
điều kiện như vậy thì chu kỳ quay vòng của vệ tinh
có thời gian bằng với trái đất tức là 23 giờ 56
phút. Lực hút của trái đất với lực li tâm của vệ
tinh sẽ bằng nhau. Bán kính của quỹ đạo, không lệ
thuộc vào khối lượng của vệ tinh, mà lệ thuộc vào
tốc độ góc của tốc độ góc của vòng quay.
Vệ tinh đòa tónh chuyển động với quỹ đạo trùng với chiều quay của trái đất sẽ
có tốc độ góc giống như tốc độ góc của trái đất. Vận tốc của vệ tinh trong
quỹ đạo đòa tónh là 3075m/s. Vì lý do này mà không có sự chuyển động tương
đối giữa vệ tinh đòa tónh và trái đất. Quỹ đạo đòa tónh ngày nay được sử dụng
phổ biến cho việc thực hiện truyền hình từ vệ tinh.
a.Tỉ số sóng mang trên nhiễu C/N (Carrier/Noise).
Đó là tỉ số giữa công suất của tín hiệu nhận được
với công suất N của tiếng ồn:
C/N = E+G-A-10logT-10logB-logK (2.12)
Trong đó: E = PIRE (dBW): công suất đẳng hướng bức xạ tương đương PIRE
được tính theo công suất của máy phát sóng và độ lợi của anten:
PIRE = 10log(
)GP
t
(2.13)
Với mật độ công suất trên diện tích phía bên trong hình cầu là

.
b. Hệ số nhiễu nhiệt G/T của trạm thu.
Hệ số này biểu thò ảnh hưởng của nhiệt độ lên độ lợi của vệ tinh.
Nhiệt độ càng tăng thì nhiễu càng lớn, thường tại giá trò nhiệt độ là 0
K
ο
thì
không bò ảnh hưởng của nhiễu. Giá trò này cho phép chọn anten thu thích hợp
tùy theo C/N. Chúng ta có:
G/T = C/N+E+A+logB+10logK (2.14)
Tùy theo PIRE của vệ tinh, chúng ta sẽ khẳng đònh chất lượng hình ảnh C/N.
Sau đó chọn giá trò tiếng ồn của đầu SHF thêm vào, sự suy giảm chung A, độ
rộng dải tần B và 10logK sẽ cho ra giá trò của độ lợi anten tính bằng dB.
c. Góc ngẩng tối thiểu.
Vùng phủ sóng của một vệ tinh được giới hạn bởi góc ngẩng. Đó
là góc bù hình thành từ đường thẳng nối liền nơi thu đến vệ tinh, với đường
thẳng đứng tại nơi thu. Về mặt lý thuyết vệ tinh đòa tónh có thể phủ sóng 1/3
trái đất. Tuy nhiên, trong thực tế không thể thực hiện được, bởi vì góc ngẩng
của anten bò hạn chế để loại trứ sự che khuất của đòa hình. Góc ngẩng này
không thể nhỏ hơn 20
ο
, vì vậy vùng thu tín hiệu trên mặt đất giới hạn giữa
60
ο
kinh tuyến bắc-nam và 60
ο
vó tuyến đông- bắc. Các vùng rừng núi, thung
lũng góc ngẩng tối thiểu phải là 30
ο
.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status