Các dạng chế phẩm vi sinh vật (VSV) dùng trong nông nghiệp - Pdf 22

Chơng bốn
Các dạng chế phẩm vi sinh vật (VSV)
dùng trong nông nghiệp
Hiện nay chế phẩm vi sinh vật đợc sản xuất theo nhiều hớng khác nhau, nhiều dạng khác
nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, trình độ dân trí và điều kiện tự
nhiên của mỗi nớc trên thế giới nhng đều theo mục tiêu: Tiện cho ngời sử dụng và cho hiệu
quả kinh tế cao nhất.
I. Chế phẩm vi khuẩn
1. Chế phẩm nhân nuôi trên môi trờng thạch bằng hoặc trên cơ chất gelatin
Loại chế phẩm này đợc sản xuất trong phòng thí nghiệm lớn, dùng môi trờng dinh dỡng
của Fred (1932). Chế phẩm sau khi xuất xởng thờng đợc đựng trong các chai lọ thuỷ tinh.
Loại chế phẩm VSV này u điểm là: khuẩn lạc VSV thờng nhìn thấy đợc, do đó có thể loại
bỏ đợc ngay tạp khuẩn bằng một số hoá chất có sẵn trong phòng thí nghiệm mà không cần phải
chuẩn bị các nguyên liệu đắt tiền.
Tuy nhiên loại chế phẩm VSV này còn có nhiều hạn chế đó là: số lợng VSV chuyên tính ít,
thời gian bảo quản và sử dụng ngắn, chuyên chở vận chuyển xuống cơ sở sản xuất không tiện do
đựng trong chai lọ thuỷ tinh dễ bị vỡ. Mặt khác theo Vincent (1970) thì loại chế phẩm này có độ
bám dính trên hạt giống không cao.
2. Chế phẩm VSV dạng dịch thể
Chế phẩm VSV dạng dịch thể đợc sản xuất trong phòng thí nghiệm hoặc trong nhà máy, xí
nghiệp theo quy trình công nghệ lên men. Theo đó cần có hệ thống máy lắc lớn hoặc nồi lên men
có hệ thống điều khiển tốc độ khí để tạo sinh khối lớn. Sau đó dịch VSV đợc đóng vào chai lọ
hoặc bình nhựa.
Loại chế phẩm VSV này tiện lợi ở chỗ không cần phải pha hoặc trộn với nớc mà có thể trộn
luôn vào hạt giống. Cũng có thể ly tâm dịch vi sinh để cô đặc sinh khối qua đó hạ giá thành sản
xuất.
Tuy nhiên loại chế phẩm VSV này có những hạn chế đó là: Khi nhiễm vào hạt giống độ sống
sót và độ bám dính của VSV trên hạt giống không cao. Chế phẩm phải luôn luôn bảo quản ở
trong điều kiện lạnh vì vậy khá tốn kém và không thuận tiện cho vận chuyển. Chi phí sản xuất
chế phẩm thờng tơng đối cao vì dụng cụ chứa đựng đắt tiền. Gần đây một số cơ quan nghiên
cứu, triển khai (NifTAL - Hoa kỳ, DOA - Thái Lan, ICRISAT - ấn Độ...) đã nghiên cứu thành

Loại chế phẩm VSV này có nhiều u điểm nh ít bị nhiễm tạp ngay cả khi ở nhiệt độ rất cao,
độ sống sót của VSV chuyên tính rất cao.
Chế phẩm cũng có hạn chế, đó là tỷ lệ bám dính và độ sống sót của VSV trên hạt thấp
(Vincent, 1970) đồng thời sản xuất rất công phu và tốn kém.
5. Chế phẩm VSV dạng bột chất mang
Hiện nay hầu hết các nớc trên thế giới đều sản xuất loại chế phẩm VSV trên nền chất mang,
trong đó sinh khối vi sinh vật đợc tẩm nhiễm vào chất mang là các hợp chất hữu cơ hoặc không
hữu cơ tự nhiên hoặc tổng hợp có tác dụng làm nơi trú ngụ và bảo vệ vi sinh vật chuyên tính
trong chế phẩm từ khi sản xuất đến lúc sử dụng. Chất mang cần có các đặc điểm sau:
- Khả năng hút nớc cao (Water holding capacity): 150-200%;
- Hàm lợng cacbon hữu cơ cao, tốt nhất > 60%;
- Không chứa các chất độc hại đối với vi sinh vật tuyển chọn, đất và cây trồng;
- Hàm lợng muối khoáng không vợt quá 1%;
- Kích thớc hạt phù hợp với đối tợng sử dụng.
Loại chất mang thờng đợc sử dụng nhiều nhất là than bùn. Ngoài ra có thể sử dụng đất sét,
vermiculit, than đá, lignin, đất khoáng, bã mía, lõi ngô nghiền, vỏ trấu, vỏ cà phê, bột
polyacrylamid, phân ủ... làm chất mang cho chế phẩm vi sinh vật.
Tại Hà Lan ngời ta ngời ta sử dụng chất mang từ than đá, than bùn trộn với thân thực vật
nghiền nhỏ. ở Liên Xô cũ ngời ta sử dụng chất mang là đất hữu cơ. Tại một số nớc Đông Nam
á ngời ta sử dụng chất mang từ bột xenlulô, bột bã mía, lõi ngô, rác thải hữu cơ đợc nghiền
nhỏ. ở ấn Độ ngời ta dùng chất mang bằng bentonit trộn với bột cá. Gần đây, ở Mỹ ngời ta sử
dụng chất mang từ bột polyacrylamid.
ở Việt Nam chất mang đợc sử dụng chủ yếu là than bùn. Gần đây một số nhà khoa học đã
nghiên cứu chế tạo chất mang từ rác thải hữu cơ, phế thải nông công nghiệp sau khi đã xử lý nh:
rác thải sinh hoạt, mùn mía, bùn mía, cám trấu, mùn ca...
Tuỳ theo điều kiện ngời ta có thể khử trùng chất mang trớc khi nhiễm sinh khối vi sinh vật
để tạo ra chế phẩm vi sinh vật trên nền chất mang khử trùng hoặc tạo ra chế phẩm trên nền chất
mang không khử trùng bằng cách phối trộn sinh khối vi sinh vật chất mang sau khi xử lý mà
không qua công đoạn khử trùng. Ưu điểm và hạn chế của hai dạng chế phẩm khử trùng và không
khử trùng đợc trình bày trong bảng 3.

- Sử dụng cho quy mô sản xuất trung bình và lớn
- Kỹ thuật phối trộn đơn giản
- Có thể sử dụng mọi loại vật liệu địa phơng
- Đầu t ít, không cần kỹ thuật đặc biệt và ngời có
kinh nghiệm trong quá trình sản xuất
- Không pha loãng đợc sinh khối, do
vậy cần phải lên men với số lợng lớn
và cần nhiều môi trờng
- Sản phẩm không bảo quản đợc lâu
- Khó đánh giá và kiểm tra chất lợng
II. Chế phẩm nấm
1. Chế phẩm sợi nấm
Chế phẩm sợi nấm là loại loại chế phẩm đợc sản xuất từ sinh khối sợi của nấm, trong đó nấm
chuyên tính đợc nhân sinh khối theo phơng pháp lên men chìm hoặc lên men xốp (lên men trong
giá thể có bổ sung dinh dỡng - lên men trên môi trờng bán rắn). Sau khi sinh khối hệ sợi nấm đạt
cao nhất, thu hoạch hệ sợi, rửa sạch và loại bớt nớc bằng cách ly tâm và phơi trong không khí để
đạt độ ẩm 40%. Để sản xuất chế phẩm nấm rễ nội cộng sinh (Endomycorhiza) ngời ta phải nuôi
hệ sợi và bào tử nấm trong hệ rễ cây chủ, nghĩa là nhiễm nấm vào đất trồng cây chủ có hệ rễ phát
triển nh ngô, hay cỏ ba lá, thu hoạch hệ rễ cây chủ cùng đất trồng và sử dụng chúng nh một loại
chế phẩm. Sản phẩm dạng này phải đợc bảo quản trong điều kiện lạnh cho tới khi sử dụng. Ưu
điểm của sản phẩm là dễ làm, ít tốn kém, song không bảo quản đợc lâu, có nguy cơ tạp nhiễm cao
và hiệu lực không ổn định.
2. Chế phẩm bào tử
Để sản xuất chế phẩm bào tử ngời ta nhân sinh khối nấm trong môi trờng xốp đến khi bào
tử nấm hình thành và chín, thu hồi sinh khối nấm cùng giá thể sau đó phơi khô và nghiền mịn.
Đối với một số nấm rễ lớn ngời ta có thể sản xuất chế phẩm bào tử bằng cách nuôi trồng nấm,
thu hái quả thể nấm, làm khô ở nhiệt độ phù hợp (<35
o
C), nghiền mịn cùng với chất mang và tạo
sản phẩm dới dạng bột hoặc viên. Ưu điểm của chế phẩm dạng này là có thể bảo quản đợc

ngay trong thời gian ngắn nhất.
Phơng pháp nhiễm trực tiếp vào hạt giống cho hiệu quả cao nhất, nhng đòi hỏi kỹ thuật cao
để tránh làm hạt giống bị sây sát và mất sức nảy mầm. Đối với hạt giống đã đợc xử lý thuốc trừ
sâu, diệt nấm hoá học không nên sử dụng phơng pháp này, vì hoá chất độc hại sẽ tiêu diệt vi
sinh vật chuyên tính.
2. Phơng pháp hồ rễ cây
Ngâm rễ cây còn non vào dung dịch chế phẩm VSV (nếu chế phẩm dạng chất mang, thì phải
hoà vào nớc sạch) trong thời gian 6 - 24 giờ tuỳ loại chế phẩm và loại cây trồng. Cần tiến hành ở
nơi râm mát, tránh ánh nắng trực tiếp.
Chú ý: Chỉ ngâm bộ rễ vào chế phẩm để VSV hữu ích nhiễm vào rễ cây.
Phơng pháp này cho hiệu quả rất cao, nhng mất nhiều thời gian và không tiện lợi cho
ngời sử dụng. Phơng pháp này không áp dụng đối với các loại cây rễ cọc, cây ăn quả.
3. Bón chế phẩm VSV vào đất
Theo phơng pháp này có nhiều cách bón chế phẩm VSV:
+ Có thể trộn đều chế phẩm với đất nhỏ tơi, sau đó đem rắc đều vào luống trớc khi gieo,
trồng (nếu là ruộng cạn); hoặc rải đều ra mặt ruộng (nếu là ruộng nớc).
+ Có thể đem chế phẩm ủ hoặc trộn với phân chuồng hoai, sau đó rải đều nh bón phân.
+ Trộn chế phẩm VSV với đất hoặc với phân chuồng hoai, sau đó đem bón thúc sớm cho cây
(càng bón sớm càng tốt).
4. Phun, tới chế phẩm VSV lên cây hoặc vào đất
Theo phơng pháp này, dùng chế phẩm hoà vào nớc sạch, tới hoặc phun trực tiếp vào cây
hay vào đất. Đối với chế phẩm phân bón vi sinh vật cố định nitơ cộng sinh nên tới phủ sớm ngay
khi cây còn non vì vi khuẩn nốt sần cần xâm nhiễm vào rễ non để hình thành nốt sần. Các chế
phẩm vi sinh vật bảo vệ thực vật đợc dùng chủ yếu bằng phơng pháp này. Tuy nhiên khi sử
dụng phơng pháp tới phun phải cần lợng chế phẩm lớn hơn so với các phơng pháp khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status