mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, liên tiếp các sự kiện chính
trị, kinh tế xảy ra trên thế giới gây tác động mạnh đến trạng thái tâm lý tinh
thần của loài ngời.
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực lâm vào khủng hoảng trầm
trọng, dẫn đến sự sụp đổ ở hàng loạt nớc Đông Âu và Liên Xô, gây nên sự
đảo lộn nghiêm trọng đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, làm đổ vỡ
niềm tin của hàng triệu con ngời vào lý tởng xây dựng cuộc sống tốt đẹp
trên "trần thế".
Các cuộc chiến tranh tàn phá ở vùng Vịnh, cuộc chiến ở Nam T,
cùng bao cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, các phong trào ly khai, khủng
bố đẫm máu ở châu á, châu Âu, châu Phi , chính sách bao vây cấm vận
của chủ nghĩa đế quốc, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính - tiền
tệ với sự suy thoái về các mặt của đời sống xã hội ở nhiều nớc ngày càng
làm sâu sắc thêm tâm lý bất mãn của con ngời lao động đang mong tìm lối
thoát khỏi nỗi "khổ cực trần gian".
Nhân loại mặc dù đã và đang bớc vào nền văn minh mới nhng cũng
đang đứng trớc hàng loạt nguy cơ đe dọa của: chiến tranh hạt nhân hủy diệt;
nạn ô nhiễm môi trờng sinh thái; các căn bệnh hiểm nghèo; sự gia tăng dân
số; mức độ thiên tai tàn phá ngày một gia tăng (động đất, bão lụt, núi
lửa ); hiểm họa thiên thạch đối với trái đất v.v và v.v Tất cả những vấn
đề đó làm cho một số ngời phải cam lòng gửi số phận vào những "phép
mầu" của "đấng siêu nhiên". Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho sự nảy
sinh, nuôi dỡng sự tồn tại và phát triển của tôn giáo xét trên nhiều khía
cạnh.
1
Nằm chung trong tình hình của nhân loại, Việt Nam trong thời gian
gần đây, trớc sự đổi mới toàn diện của đất nớc, nhất là việc mở rộng tự do
dân chủ - trong đó có tự do tín ngỡng, các hoạt động của tôn giáo đợc khôi
phục và phát triển mạnh mẽ. Khắp nơi tiến hành mở lại lễ hội, sửa chữa lại
của Thích Mật Thể; "Việt Nam Phật giáo sử luận" (ba tập) của Nguyễn
Lang; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của nhiều tác giả do PGS Nguyễn Tài
Th chủ biên; "Lợc sử Phật giáo Việt Nam" của Thợng tọa Thích Minh Tuệ;
"Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Lê Mạnh Thát,
- Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam với t cách là một bộ phận cấu
thành lịch sử t tởng Việt Nam nh: "Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam" của GS
Trần Văn Giàu; "Lịch sử t tởng Việt Nam" tập 1 của PGS Nguyễn Tài Th chủ
biên; "Lịch sử t tởng Việt Nam" tập 2 của PGS Lê Sỹ Thắng; "Mấy vấn đề
Phật giáo và lịch sử t tởng Việt Nam" của tập thể tác giả Viện Triết học; "T
tởng Phật giáo Việt Nam" của Nguyễn Duy Hinh; "Lợc khảo t tởng Thiền
Trúc Lâm Việt Nam" của Nguyễn Hùng Hậu
- Nghiên cứu Phật giáo dới góc độ văn hóa, nghệ thuật nh các tác
phẩm: "Thiền học của Trần Thái Tông" của Nguyễn Đăng Thục; "Cảm
nhận đạo Phật" của Phạm Kế; "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của Trần Ngọc
Thêm; "Văn hóa Phật giáo và lối sống của ngời Việt ở Hà Nội và châu thổ
Bắc Bộ" của Nguyễn Thị Bảy; "Chùa Hà Nội" của Nguyễn Thế Long và
Phạm Mai Hùng; "Vài nét về Phật giáo dân gian Việt Nam" của GS Trần
Quốc Vợng; "Mỹ thuật Lý - Trần, mỹ thuật Phật giáo" của Chu Quang Trứ,
- Nghiên cứu những ảnh hởng của Phật giáo trong đời sống tinh thần
của ngời Việt Nam. Gần đây có đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nớc
"ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay"
do PGS Nguyễn Tài Th chủ biên; luận án PTS "Về vai trò của Phật giáo Việt
Nam" (Qua triều đại nhà Lý) của Phạm Văn Sinh; "Vai trò xã hội của tôn
giáo: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Hồ Trọng Hoài
Ngoài ra, trên một số tạp chí nghiên cứu mà điển hình là tạp chí
Triết học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lý luận, tạp chí Nghiên cứu
tôn giáo cũng có một số bài đề cập tới nội dung giáo lý, lịch sử, văn hóa
cùng những mặt tích cực và tiêu cực của Phật giáo Việt Nam.
Nhìn chung điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay cha
đợc các công trình khoa học nói trên đề cập tới một cách có hệ thống và đầy
4
cùng các cuộc tiếp xúc, trao đổi, khảo sát một số đối tợng của sáu tỉnh,
thành đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dơng, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái
Bình, Hà Tây).
- Phơng pháp nghiên cứu: Luận án đợc thực hiện trên cơ sở vận
dụng tổng hợp phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, cùng một số phơng pháp khác nh phơng pháp phân
tích và tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tợng hóa,
lịch sử và lôgíc
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có sự hệ thống hóa điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt
Nam hiện nay trên cơ sở những t liệu, số liệu thực tế.
Bớc đầu luận án đã nêu lên đợc một số vấn đề đặt ra hiện nay của
Phật giáo Việt Nam ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.
Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm từng bớc phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo Việt Nam hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án đóng góp một phần cho việc nghiên cứu Phật giáo Việt
Nam một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
Luận án có thể sử dụng nh là một tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy những môn có liên quan tới những vấn đề của Phật giáo,
đồng thời qua đây cũng giúp cho công tác hoạt động thực tiễn đối với Phật
giáo của cán bộ các cấp đạt đợc hiệu quả hơn.
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
có 167 trang, gồm 3 chơng, 7 tiết.
5
6
Chơng 1
Phật giáo Việt Nam hiện nay - sự tiếp tục
thụ xa hoa để đi tìm sự bình yên của tâm hồn trong khổ hạnh), và rồi Ngời
quyết định noi theo vị tu sĩ ấy.
Năm 19 tuổi (có sách chép là 29 tuổi), nhân lúc vợ con, vua cha ngủ
say, Ngời đã rời bỏ Hoàng cung, từ chối giàu sang và quyền lực vào ẩn
trong núi Tuyết Sơn (Già-Xà-Gaya) để tu tập thiền định. Trong sáu năm trời
kiên trì tu khổ hạnh, nhng Ngời vẫn cha đợc thành chính quả. Qua thực tế tu
hành, Tất Đạt Đa hiểu ra rằng; từ cuộc sống giàu sang tràn đầy vật chất,
thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều đi chệch khỏi con
đờng đúng đắn. Cuộc sống thứ nhất là cuộc sống tầm thờng vô tích sự; cuộc
sống thứ hai cũng tăm tối, không xứng đáng và vô nghĩa nh cuộc sống thứ
nhất. Con đờng đúng đắn phải là "trung đạo", con đờng tự mình đào sâu suy
nghĩ để nhận thức chân lý, con đờng dẫn tới yên tĩnh và sự bừng sáng của tâm
hồn trí tuệ. Sau đó, Tất Đạt Đa từ bỏ tu khổ hạnh đi vào t duy trí tuệ. Sau 49
ngày thiền định dới gốc cây Bồ đề (pippala), cuối cùng Ngời đã giác ngộ đ-
ợc chân lý - thấu hiểu đợc bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và
con đờng giải thoát cho chúng sinh. Từ đó, Ngời chu du khắp lu vực sông
Hằng truyền bá đạo của mình. Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của Ngời
đã hình thành và dần dần lan rộng ra nhiều vùng của ấn Độ đơng thời. Ngời
đời gọi đó là Phật giáo (giáo lý giác ngộ).
Phật thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vờn
cây gần thành Câu-thi-la (Kusinagara).
Phật giáo ra đời trong một hoàn cảnh xã hội đặc biệt của ấn độ lúc
bấy giờ. Nó đợc hình thành trên những tiền đề cơ bản sau:
8
- Tiền đề kinh tế xã hội.
ấn Độ là một nớc lớn, đất rộng ngời đông ở miền nam Châu á, là n-
ớc có lịch sử từ lâu đời, là một trong những nơi có nền văn minh sớm nhất
và rực rỡ nhất trên thế giới.
Vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN ở ấn Độ lực lợng sản xuất phát triển
nhanh, sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng
trên dới 2000 năm, không đồng nhất về văn phong và nội dung. Các tác
phẩm truyền miệng rất xa này, gọi theo truyền thống là man tra, làm thành
một bộ phận lớn của Vê Đa. Man tra còn lại đến ngày nay dới dạng bốn tập.
- Rig veda là bộ phận cổ nhất thể hiện những nguyện vọng của ngời
dân thờng nh ớc mong có thức ăn, có gia súc, ớc vọng ma xuống, mong an
c, mạnh khỏe, nhiều con cháu
- Sama veda là tuyển tập các đoạn hát trong khi tiến hành nghi lễ.
- Atharvaveda là tuyển tập các bài thần chú ma thuật dùng cho sự
khẩn cầu khác nhau.
- Yajurveda gồm có hai bộ phận: Yajurveda trắng chỉ các bài thần
chú và công thức sử dụng; Yajurveda đen thì nêu những ý kiến về nghi lễ và
thảo luận những ý kiến đó.
Ba bộ phận văn học Vêđa muộn hơn là Bràhamana, Aranyaka và
Upanisad. Tiền đề t tởng lý luận của Phật giáo mang đặc trng của hệ thống
lý luận tôn giáo phơng Đông. Phật giáo tiếp thu Vêđa, Bà La Môn và một
số hệ thống khác mang ý nghĩa truyền thống nối tiếp, mọi t tởng đều xoay
xung quanh việc giải quyết các vấn đề về nhân sinh quan và thế giới quan,
trong sự đan xen, vay mợn giữa tôn giáo và triết học, giữa phái này và phái
kia. Đặc biệt Phật giáo đã khai thác triệt để mối quan hệ của Atman và
10
Brahman (trong Upanisad), cái mà Nê Ru gọi là trục tung thế giới quan t t-
ởng của ngời ấn Độ.
b) Nội dung cơ bản của Phật giáo
Sinh thời Đức Phật không viết sách. Ngời chỉ giảng dạy và bàn luận
với học trò mình bằng lời nói. Sau khi Đức Phật mất, các học trò của Ngời
đã tiếp tục phát triển t tởng của ông, trải qua bốn lần kết tập kinh điển để
xây dựng thành một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh.
Kinh sách của Phật giáo rất đồ sộ, đợc chia làm ba bộ phận gọi là
Tam tạng (Tri pi ta ka); kinh, luật, luận.
- Kinh (Sutra) gồm năm bộ lớn là những sách ghi lời Phật giảng về
nhau. Tuy nhiên, một sự vật, hiện tợng không phải do một nguyên nhân mà
do nhiều nguyên nhân tạo thành. Nhân cũng không tự nhiên mà có, mà do
nhiều nguyên nhân đã có từ trớc hợp lại. Vũ trụ là hệ thống nhân duyên vô
tận, sách Phật gọi là tính "trùng trùng duyên khởi" của vũ trụ. Do đó, các sự
vật hiện tợng thống nhất và đa dạng với nhau, nơng nhờ, tác động và chi
phối lẫn nhau.
Trong nhận thức thế giới, Phật giáo còn đa ra thuyết "sắc - không".
"Sắc" là danh từ Phật học chỉ sự vật hiện tợng ở trạng thái có hình tớng
trong không gian mà con ngời nhận biết đợc, gọi là có, "không" chỉ sự vật,
hiện tợng ở trạng thái không có hình tớng mà con ngời không nhận biết đ-
ợc. Theo thuyết sắc - không, thế giới luôn chuyển động, biến đổi nhng
không phải khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tớng (gọi là sắc) mới là có,
ở trạng thái không (diệt) mới là không. Thực ra cái gọi là không đã là có và
cũng là có, cái gọi là có đã là không và cũng là không. Sắc - sắc, không -
không có đấy mà không đấy, không đấy mà có đấy.
12
Khi bàn về không gian và thời gian, Phật giáo cho rằng thời gian là
vô cùng, không gian là vô tận, thế giới nhiều nh cát của sông Hằng. Tuy
nhiên, Phật giáo cũng đa ra những khái niệm đo lờng cụ thể: về không gian
có "tam thiên thế giới" (đại thiên thế giới, trung thiên thế giới, tiểu thiên thế
giới); về thời gian có "tam kiếp" (đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp). Khi xét
riêng từng sự vật, hiện tợng, Phật giáo cũng nhìn nhận giới hạn thời gian,
không gian, tức là có khởi đầu có kết thúc.
Nh vậy, Phật giáo cho rằng thế giới luôn chuyển động và biến đổi
không ngừng, "vô thủy, vô chung" (không có bắt đầu, không có kết thúc).
Sự biến đổi của thế giới, sinh - diệt của sự vật, hiện tợng không phải do ý
muốn chủ quan của bất kỳ ai, mà là tự nó ("tự kỷ nhân quả"). Sự vật, hiện t-
ợng mà con ngời nhận biết đợc chỉ là giả tạo, không có thực tớng, hay nói
một cách khác, đối với con ngời thế giới khách quan đang tồn tại là ảo giả,
do vô minh đem lại.
uẩn" dẫn dắt con ngời vào "luân hồi". Cũng xuất phát từ đây, Phật giáo đa ra
quan điểm "vô ngã", tức là khẳng định "cái tôi" không thờng tồn tại. "Cái
tôi" chỉ tồn tại trong thời gian thoáng qua, nh cơn gió thoảng, nh ánh sao
băng theo luật luân hồi "vô thủy, vô chung".
Vậy sự sống cũng nh cái chết của con ngời luôn tuân theo luật "luân
hồi nghiệp báo" một cách "tự nhiên nhi nhiên", không có bất cứ sự can thiệp
nào của các "đấng sáng thế" hay các thần linh. Đồng thời, cũng xuất phát từ
những quan điểm này, Phật giáo đi tới phủ nhận linh hồn bất tử. Bên cạnh đó,
Phật giáo cũng đã thấy đợc vị trí, vai trò của con ngời trong vũ trụ; con ngời
là động vật thông minh và hùng mạnh nhất; con ngời là chúa tể của muôn
loài; con ngời có thể chế ngự đợc tất cả (nhân thị tối thắng).
Bản chất con ngời ai cũng nh ai. Phật đã từng nói: "Không có đẳng
cấp trong dòng máu cùng đỏ nh nhau, không có đẳng cấp trong giọt nớc
mắt cùng mặn. Mỗi ngời sinh ra không phải mang sẵn trong bào thai dây
chuyền hay dấu tin -ka (dấu hiệu quí phái của dòng Bà La Môn) giữa trán"
[12, 115].
Trong xã hội ấn Độ thời bấy giờ, ngời phụ nữ bị xã hội khinh rẻ,
ruồng bỏ, thờng bị bắt cóc, cỡng ép, buôn bán để làm những món đồ tiêu
khiển cho giới mày râu quyền quí, chồng chết phải chịu thiêu sống để đi
theo ngời đã chết, v.v Phật giáo đã chống lại những tập tục hủ bại ấy và đã
nêu lên t tởng bình đẳng nam nữ. Trên thực tế, đức Phật đã cho phép thành
lập giáo hội tỳ - khu - ni (nữ tu sĩ) tổ chức đầu tiên của phụ nữ trong lịch sử.
14
Phật giáo chủ trơng kêu gọi con ngời phải biết yêu thơng nhau trên
tinh thần "từ bi hỉ xả", với tấm lòng quên mình để cứu độ chúng sinh (vô
ngã vị tha). Trong kinh U-đà-na, đức Phật đã khẳng định: "Cũng nh nớc của
đại dơng hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối. Giáo pháp chỉ có
một vị là vị giải thoát" [14, 262]. Những t tởng này thể hiện bản chất đạo
đức khuyến thiện trong tính nhân văn của Phật giáo, song thông qua đây
cũng phần nào bộc lộ nhợc điểm cố hữu của tôn giáo là duy ý chí.
Do tạo nghiệp, đặc biệt là nghiệp ác, mà con ngời phải chịu đau khổ, không
dứt ra khỏi vòng luân hồi sinh tử.
Chân lý thứ ba là "diệt đế" (Nirodha-Satya); Phật giáo khẳng định
cái khổ có thể tiêu diệt đợc, có thể chấm dứt đợc luân hồi. Muốn chấm dứt
mọi đau khổ thì chỉ có cách diệt nguyên nhân sinh ra sự đau khổ ấy. Nh trên
đã nêu, Phật giáo quan niệm nguồn gốc của sự khổ là sự vận hành của
"Thập nhị nhân duyên", trong đó gốc rễ sâu xa là vô minh. Vì vậy muốn
diệt khổ phải đi ngợc lại sự vận động của mời hai nhân duyên, bắt đầu từ
diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ đợc bừng sáng, hiểu rõ đợc bản
chất của tồn tại, thực tớng của vũ trụ và con ngời, không còn tham dục và
kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa. Tức là thoát khỏi vòng luân hồi
sinh - tử.
Chân lý thứ t là "đạo đế" (Màrga-Satya). Đó là con đờng lên cõi
Niết bàn (Nirvana), hay cách thức, giải pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòng
luân hồi. Cách thức ấy cần có ba cái phải học (tam học) là : học giới, học
định, học tuệ. Có tám giải pháp chính (bát chính đạo) để trở thành chính
quả là: chính kiến, chính t duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính
tinh tiến, chính niệm và chính định. Ngoài ra, còn có một số phơng pháp tu
luyện bổ trợ khác. Thực hành tu luyện đạo tốt để có thể giác ngộ chân lý
nhà Phật, chứng quả Niết bàn, giải thoát khỏi bể khổ trầm luân.
16
Nh vậy, Phật giáo nguyên thủy có t tởng vô thần luận, phủ nhận
đấng sáng thế (vô tạo giả) và có t tởng biện chứng (vô thờng, thuyết duyên
khởi ). Phật giáo là tiếng nói chống chế độ phân biệt đẳng cấp, tố cáo bất
công, đòi tự do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoát của con
ngời khỏi những bi kịch của cuộc đời. Đồng thời, Phật giáo cũng nêu cao
thiện tâm, từ bi, bác ái nh là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống
xã hội. Tuy nhiên, triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan
khi coi thế giới hiện tợng (vạn pháp) là ảo giả, huyễn hoặc và do cái tâm vô
minh của con ngời tạo ra. Trong cách giải quyết về sự đau khổ của con ng-
ấn độ và Trung Quốc. Với một địa thế nằm kẹp giữa hai nớc lớn - với hai
nền văn minh cổ xa và rực rỡ nh vậy, Việt Nam tất yếu chịu ảnh hởng từ cả
hai phía, ấn độ và Trung Quốc.
Căn cứ vào những sự kiện lịch sử và địa lý, chúng ta bác bỏ thuyết
cho rằng Phật giáo đầu tiên truyền từ ấn độ qua Trung Quốc, rồi từ Trung
Quốc truyền sang Việt Nam. Không ai phủ nhận rằng ấn độ có những con
đờng thủy và đờng bộ nối liền ấn độ và Trung Quốc, không thông qua Việt
Nam, đặc biệt là hai tuyến đờng bộ ngang qua Trung á. Cũng không ai phủ
nhận là Việt Nam chịu ảnh hởng nhiều và trực tiếp của Phật giáo Trung
Quốc. Thế nhng Việt Nam ngay từ thời rất xa đã đợc các cao tăng ấn độ
đến truyền giáo trực tiếp. Chính lịch sử Trung Quốc cũng đã từng ghi nhận
rằng, vào những năm đầu công nguyên, trong khi ở miền Nam Trung Quốc
cha biết đến Phật giáo, thì ở Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) đã có một
trung tâm Phật giáo phát triển khá phồn thịnh [10, 123].
Đi theo các tuyến đờng thủy hay bộ, đi một mình hay đi từng nhóm
hai ba ngời, hay là đi chung cùng các đoàn buôn, một số tăng sĩ ngoại quốc
chủ yếu là ngời ấn độ hay là ngời vùng Trung á đã đến Việt Nam truyền
18
đạo. Các tăng sĩ Phật giáo đầu tiên đến Việt Nam vào thời điểm nào, thuộc
nớc nào và bao nhiêu ngời, v.v đó là những vấn đề thiếu sử liệu ghi chép
cụ thể. Những tăng sĩ ngoại quốc đợc nêu danh trong sử liệu Việt Nam và
Trung Quốc, cha chắc chắn là ngời đầu tiên đặt nền móng cho Phật giáo ở
Việt Nam.
Đơng nhiên, sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam không phải chỉ
xảy ra trong một thời gian ngắn, với một số ít cao tăng, mà là liên tục trong
nhiều thời điểm, với vô số các cao tăng, từ đầu công nguyên cho đến mãi
các thế kỷ về sau. Công lao lúc đầu là thuộc về ngời ấn độ và ngời Trung
á, sau đó là ngời Trung Quốc và có cả ngời Việt Nam đã sang ấn độ hoặc
sang Trung Quốc và các nớc khác học thêm đạo Phật để về giảng lại cho
ngời mình.
hóa. Ngôn ngữ tiếng Việt, ngôn ngữ Hán tự và Phạn ngữ đều có dịp đợc sử
dụng trong trao đổi buôn bán và cả trong truyền đạo. Điều đó có lợi cho
việc giảng kinh và dịch kinh Phật, có lợi cho việc truyền bá mạnh mẽ Phật
giáo trên mảnh đất này và vơn xa hơn nữa.
Nhng Phật giáo ở Luy Lâu trong lúc này không hoàn toàn giống
Phật giáo của đức Thích Ca, cũng không hoàn toàn giống Phật giáo ở ấn Độ
đơng thời. Bởi nó đã bị biến dạng đi do truyền thống t tởng và phong tục tập
quán cũng nh điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam lúc bấy giờ qui định.
Đức Phật Thích Ca đợc quan niệm nh một ông thần có ở khắp mọi
nơi, có thể biết đợc mọi nỗi suy t và hành vi của con ngời, có thể cứu giúp
ngời tốt và trừng trị kẻ xấu nh ông Bụt trong truyện "Tấm Cám", Phật cũng
đợc quan niệm nh vị thần linh có nhiều phép lạ có thể hóa thành các hiện t-
ợng tự nhiên, có thể biến các hiện tợng tự nhiên quanh con ngời thành các
vị thần, thánh, các vật linh thiêng mang phúc trừ họa nh hòn đá và tợng "Tứ
Pháp" trong "Truyện Man Nơng" hay cái gậy, nón lá trong "Truyện Chử
Đồng Tử".
Phật giáo Luy Lâu gắn liền với tín ngỡng dân gian đợc dân gian hóa
và phong tục hóa. Nó thể hiện tâm lý, lòng mong ớc và thế giới quan của
ngời dân trồng lúa nớc vùng đồng bằng sông Hồng. Chính vì vậy, nó có độ
bền vững, sống hàng nghìn năm, còn duy trì cho đến tận ngày nay và mai
sau nữa.
20
Theo sử liệu hiện có, từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V, Phật giáo tiếp
tục truyền vào Việt Nam gắn liền với tên tuổi một số nhà s ấn Độ, Trung á
và Trung Quốc nh sau:
- Ma-Ha-Kỳ-Vực (Mahajvaka) với Khâu Đà La ngời ấn Độ cùng
đến Luy Lâu, trị sở của Sĩ Nhiếp (187 - 226) vào cuối đời Hán Linh Đế, tức
khoảng những năm 188 - 189. Đến Việt Nam đợc một thời gian Khâu Đà
La ở lại Việt Nam tu hành và truyền đạo còn Ma-Ha-Kỳ-Vực lại tiếp tục đi
Trung Quốc truyền đạo.
giảng Phật - Pháp. Đặc biệt là sáu bức th của Đạo Cao và Pháp Minh trả lời
Lý Miễu. Thông qua sáu bức th đó, cho thấy tình hình Phật giáo Việt Nam
ở thế kỷ này là rất phát triển. Đồng thời qua đó cũng cho thấy kiến thức của
các nhà s Việt Nam lúc đó là rất uyên bác. Họ nắm vững Phật lý. Tiếng tăm
của họ vang xa. Sứ thần "Thiên triều" cũng phải tìm đến để vấn nạn và học
hỏi.
- Phật giáo thời kỳ Hậu Lý Nam Đế đến Tiền Lê (571 - 1009).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến thế kỷ X vẫn đ-
ợc xem là giai đoạn truyền giáo. Giai đoạn này, ảnh hởng của các nhà
truyền giáo ấn Độ giảm dần, trong khi các nhà truyền giáo Trung Quốc
tăng lên. Đáng chú ý hơn cả là các phái Thiền Trung Quốc đợc du nhập vào
Việt Nam.
- Phái Thiền Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi (Vinitaruci). Thời kỳ hậu Lý Nam
Đế, nhà s ấn Độ Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi, học trò của Tăng Xán - tổ thứ ba của
phái Thiền Trung Quốc, đã vào Việt Nam (580) tu tại chùa Pháp Vân (Bắc
Ninh) dịch bộ kinh Tổng trì và trở thành vị s tổ của phái Thiền Việt Nam.
Phái Thiền này truyền thừa đợc 19 đời với 30 vị Thiền s, ngời đợc truyền thừa
đầu tiên là Pháp Hiền (?, 626) đến ngời cuối cùng là Y Sơn (?, 1216).
22
Sự xuất hiện của phái Thiền Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi đã tạo ra bớc ngoặt
của Phật giáo Việt Nam. Bởi nó đã chỉ ra quan điểm mới về Phật giáo.
Quan điểm ấy đợc thể hiện tập trung thông qua lời của Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi
khi truyền tâm ấn cho Pháp Hiền: "Tâm ấn của ch Phật không có lừa dối,
trọn vẹn nh thái H, không thừa, không thiếu; không đi, không lại; không đ-
ợc, không mất; không giống, không khác; không thờng còn, không gián
đoạn vốn không nơi sinh cũng không nơi diệt; không xa cách mà không
phải không xa cách; chỉ vì đối với cái duyên tà vọng mà phải đặt ra cái tên
giả thiết đó thôi ". ở đây Phật giáo đã vắng bóng thần linh. Đồng thời, nó
cũng chỉ ra phơng pháp của phép trì giới mới; hành thiền - làm cho trí tuệ
(Bát Nhã) bừng sáng.
Ngôn Thông) chức Tăng Thống (tức chức quan đứng đầu Phật giáo) và đợc
ban hiệu là Khuông Việt - đại s - ngang với hàng "Tam công" trong triều.
Lê Đại Hành đã mời Thiền s Đỗ Thuận (đời thứ X của phái Thiền Tỳ-Ni-
Đa-Lu-Chi) giúp triều đình về đối nội, đối ngoại.
- Phật giáo thời Lý - Trần (1010 - 1400).
Có thể nói đây là thời kỳ Phật giáo Việt Nam phát triển cực thịnh.
Triều Lý đợc xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Lý Công Uẩn
ngời sáng lập ra nhà Lý nguyên là một sa di, học trò của nhà s Lý Khánh
Vân, cùng thọ giáo với s Vạn Hạnh. Ngay sau khi lên ngôi, cũng nh các
năm làm vua, Thái Tổ Lý Công Uẩn đã ban hành nhiều lệnh chỉ có lợi cho
sự phát triển của Phật giáo nh làm chùa trong cả nớc, độ dân làm s, sai sứ
sang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng Nhng Phật giáo thời Lý phát triển
không chỉ vì sự ủng hộ của Lý Thái Tổ, mà còn là một sự phát triển tự nhiên
trên vị trí và cơ sở đã có từ thời Đinh - Lê.
Năm 1069 Phật giáo nớc ta lại có thêm một phái Thiền nữa là phái
Thảo Đờng. Phái Thảo Đờng truyền xuống đợc 5 đời - với 18 vị Thiền s, ng-
24
ời đợc truyền đầu tiên là Lý Thánh Tông đến ngời cuối cùng là Phạm Phụng
Ngự [74, 152-153].
Các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo. Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứ
VII của phái Thiền Vô Ngôn Thông. Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhất
của phái Thiền Thảo Đờng, thuộc phái này còn có Lý Anh Tông, thế hệ thứ
III và Lý Cao Tông, thế hệ thứ V. Lý Huệ Tông sau khi nhờng ngôi cho Lý
Chiêu Hoàng cũng đi tu với hiệu danh là Huệ Quang Thiền S.
Các vua đã tu Phật, tất nhiên cả tầng lớp quí tộc quan lại và cả dân
thờng cũng đều mộ Phật. Tinh thần sùng Phật, biểu hiện qua các sinh hoạt
Phật giáo, cùng với việc xây dựng chùa tháp ở khắp mọi nơi, gắn liền với
nhiều lễ hội của nó, đã trở thành một đặc điểm của văn hóa thời Lý.
Dới đời Trần, vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đều là những
nhà Phật học lỗi lạc, sáng tác nhiều thơ văn mang t tởng Phật giáo. Trần