Khảo sát hiện trạng ô nhiễm arsenic trong nước bể mặt ở huyện tân châu, chợ mới, thị xã châu đốc, thành phố long xuyên tại tỉnh an giang - Pdf 22


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ VĂN HÀ
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM ARSENIC
TRONG NƯỚC BỀ MẶT Ở HUYỆN TÂN CHÂU, CHỢ
MỚI, THỊ XÃ CHÂU ĐỐC, THÀNH PHỐ LONG
XUYÊN TẠI TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã ngành: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 01 năm 2011
Lê Văn Hà1

MÔÛ ÑAÀU

Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) các khu vực nông nghiệp đã sử
dụng một lượng lớn phân bón, thuốc trừ sâu có chứa arsenic đã góp phần thúc đẩy
phát tán arsenic vào môi trường nước mặt, do đó môi trường có nhiều nguy cơ bị ô
nhiễm. Bên cạnh đó việc người dân khoan giếng tự phát, cùng với việc xây dựng
các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp nên nguy cơ ô nhiễm arsenic trong môi
trường nước là đáng quan tâm. Tại khu vực thành thị ngườ
i dân sử dụng nước sạch
từ các nhà máy nước cấp tập trung – có đầu tư quy trình xử lý và kiểm soát chất
lượng nước, chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 25%, phần lớn người dân khu vực nông thôn
sử dụng nước từ lưu vực nước sông Mêkông cho mục đích sinh hoạt và ăn uống khá
phổ biến (chiếm tỷ lệ trên 70%).
Những nghiên cứu gần đây cho thấy dấu hiệ
u ô nhiễm arsenic trong nước
ngầm tại một số tỉnh ở ĐBSCL như Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Kiên
Giang, Bến Tre, …rất cao. Kết quả khảo sát của Viện Vệ sinh – Y tế Công cộng
(2002 - 2005) cho thấy một số tỉnh thuộc ảnh hưởng của sông Mêkông đã có dấu
hiệu ô nhiễm arsenic trong nước ngầm. Trên địa bàn tỉnh An Giang trong tổng số
2.699 mẫu khảo sát có 545 mẫu, chiếm 20,18% với hàm lượng arsenic cao hơ
n 10
ppb (Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống, ban hành kèm theo Quyết định số:

Danh mục các biểu đồ iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN 3
1.1. Khái quát về arsenic 3
1.1.1. Giới thiệu tổng quan 3
1.1.2. Nguồn gốc ô nhiễm arsenic trong môi trường 5
1.1.3. Ảnh hưởng của nhiễm độc arsenic đến sức khỏe 9
1.1.4. Cơ chế gây độc 13
1.2. Tình hình nhiễm độc arsenic trên Thế Giới và Việt Nam 15
1.2.1. Tình hình nhiễm độc arsenic trên Thế Giới 15
1.2.2. Tình hình nhiễm độc arsenic tại Việt Nam 16
1.3. Một số phương pháp giảm thiểu khả năng nhiễm độc arsenic trong
nước sinh hoạt và ăn uống 18
1.4. Điều kiện tự nhiên – kinh tế
- xã hội tỉnh An Giang 21
1.4.1. Vị trí địa lý và đơn vị hành chính 21
1.4.2. Sông ngòi 23
1.4.3. Khí hậu, thủy văn 23
1.4.4. Tài nguyên đất 24
1.4.5. Dân số 25
1.4.6. Thành tựu kinh tế - xã hội 25
Chương 2 – MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Mục tiêu 27
2.2. Nội dung 27
ii

2.3. Thời gian nghiên cứu 27
2.4. Địa điểm nghiên cứu 27
2.5. Đối tượng nghiên cứu 27

khắp mọi nơi trên trái đất. Là nguyên tố vi lượng cần thiết đối với sự sinh trưởng và
phát triển của động, thự
c vật song tính độc của arsenic rất cao và được xếp vào
nhóm kim loại nặng cực độc. Tác hại của arsenic lên thực vật là giảm quá trình
quang hợp, rụng lá cây. Đối với người và động vật sau khi ăn, uống phải lượng
arsenic vô cơ từ 0,3 – 30 mg sẽ xảy ra nhiễm độc cấp trong vòng từ 30 – 60 phút,
thường dẫn đến tử vong sau vài giờ hoặc sau vài ngày. Nếu được cứu sống vẫn có
thể
để lại các di chứng nặng nề về não, suy tủy, suy thận, tổn thương đa dây thần
kinh ngoại biên. Khi sử dụng lâu dài nguồn nước bị nhiễm arsenic để ăn, uống sẽ có
khả năng nhiễm độc arsenic mãn tính, gây tác hại tới chức năng của nhiều hệ cơ
quan: thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, sinh sản. Quá trình phát triển bệnh âm ỉ kéo
dài. Mức độ bệnh phụ thuộc vào liều lượng, thờ
i gian tiếp xúc và độ nhạy cảm của
từng cá thể [7], [24], [32].
Arsenic và vòng tuần hoàn của As:

Phản ứng oxy hóa khử có dạng cơ bản sau:
H
3
As
+3
O
3
+ H
2
O ↔ H
3
As
+5

dạng AsO
3
3-
hoặc AsO
4
3-
là do bụi công nghiệp lắng đọng. Nhờ tuần hoàn tự nhiên
do quá trình phong hóa, vận chuyển theo dòng chảy mà khoảng chừng 20.10
3

tấn/năm As được biến đổi chuyển hóa. Hợp chất arsenic As
5+
được khử bằng vi sinh
về As
3+
rồi sau đó được metyl hóa bởi nấm hoặc vi khuẩn. Quá trình metyl hóa của
As
3+
dưới điều kiện môi trường có thể theo nhiều cơ chế khác nhau. Các dimetyl- và
trimetyl arsenic khuếch tán như là chất dễ bay hơi và là chất rất độc đi vào khí
quyển, sẽ được oxy hóa thành các hợp chất As hữu cơ hóa trị +5. Sau đó lại tiếp tục
tham gia vào chu kỳ oxy hóa khử [8].
(CH
3
)
2
As(O)OH
Khí quyển O
2
O

→ (CH
3
)
2
As(O)OH
trái đất arsenat arsenic metyl arsenic dimetyl arsenic Vi khuẩn khử Vi khuẩn metyl hóa
Hình 1.1: Các phản ứng của arsenic trong môi trường [8].
Cấu tạo arsenic
[3]
− Nguyên tố nhóm V thuộc hệ thống tuần hoàn Mendeleep.
− Chu kỳ: 4
− Có cấu hình: [Ar] 3d
10
4s
2
4p
3
.
− Số thứ tự nguyên tố: 33
− Ký hiệu: As
− Khối lượng nguyên tử: 74,9216 amu

5
− Nhiệt độ nóng chảy: 817,0
0
C (1090,15 K, 1502,6
0

ười. Sự ô nhiễm các đối
tượng môi trường như đất, không khí, sẽ dẫn đến sự ô nhiễm trong môi trường nước
[6].
Ô nhiễm arsenic do quá trình tự nhiên:

Arsenic phát tán vào môi trường tự nhiên do quá trình nhiệt dịch, tạo quặng
sulphur, đa kim, vàng; hoạt động núi lửa; quá trình phong hóa và phân rã các hợp
chất vô cơ và hữu cơ, cũng như đất phát triển trên chúng dẫn đến sự dịch chuyển

6
arsenic vào nguồn nước. Sau đó, arsenic bị hấp thu bởi các hạt sét, các trầm tích
thực vật và cuốn trôi theo phù sa các con sông.
Quá trình xói mòn, phong hóa làm giàu arsenic trong quặng oxyhydroxit sắt sau
đó là những quá trình bù đắp phù sa, trầm tích hóa, dẫn tới hình thành trầm tích
chứa arsenic trong các địa tầng [19].
Người ta xác định nguồn gốc gây ô nhiễm chủ yếu của arsenic đối với môi
trường nước là do quá trình khử hóa, hòa tan các khoáng chất giàu arsenic trong đất
vào nguồn nước ngầm. Do đó, những vùng có nhiều khoáng giàu arsenic thì khả
n
ăng gây ô nhiễm nguồn nước càng cao [10].
Sự tuần hoàn toàn cầu của arsenic cho thấy rằng thiên nhiên đã đưa vào bầu khí
quyển 45.000 tấn/năm. Trong khi nguồn nhân tạo chỉ đưa vào bầu khí quyển 28.000
tấn/năm. Arsenic là nguyên tố dễ bị oxy hóa khử, sự hiện diện và vận chuyển của nó
phụ thuộc vào sự tương tác của các yếu tố địa hóa gồm: Phản ứng oxy hóa khử, pH,
sự hoạ
t động của vi sinh vật, các loại ion khác và sự hòa tan trong nước mặt hay
nước ngầm [11].

As
3+
,
As
5+
Thực vật
Động vật
VPH, đất, As
5+

Nước mặt lục
địa, As
5+

Động vật
bám đáy
Con người và
hoạt động nhân
sinh
Sinh vật
dưới nước
Trầm tích
Đá trầm tích
Nước biển
Hoạt động
núi lửa, As

8
Ô nhiễm arsenic do hoạt động nhân sinh:
Quá trình sản xuất arsenic trên thế giới phát triển mạnh vào những năm


9
* Các quá trình khác:
Quá trình đốt cháy nguyên liệu than bùn, than đá cũng tạo ra một lượng lớn
arsenic trong khí quyển (thông thường 7 - 60 mg/kg có khi đến 200mg/kg).
Tưới nước có chứa hàm lượng arsenic gây ô nhiễm lớn trên những vùng khác
nhau. Sự bốc hơi nước hoặc bùn lắng từ các nhà máy xử lý nước thải có chứa
arsenic cũng phát tán arsenic vào môi trường [11].
1.1.3. Ảnh hưởng của nhiễm độc arsenic đến sức khỏe:

Mặc dù rất độc nhưng trong đông y arsenic (thạch tín) được sử dụng với liều
lượng nhỏ làm thuốc kích thích ăn ngon, kích thích sự trao đổi chất, tác dụng như
thuốc trợ lực, bồi dưỡng (thường sử dụng trong các thành phần thuốc bổ) trị các
bệnh biến ăn, thiếu máu, suy nhược. Trong tây y ghi nhận thạch tín có tác dụng làm
dễ thở trong hen suyễn, do có thể bài tiết qua da nên thạch tín còn đượ
c dùng làm
thành phần trong một số thuốc trị bệnh về da như: Chàm khô, vẩy nến. Khi ngành
hóa hữu cơ phát triển thì thạch tín đã được đưa vào các hợp chất hữu cơ nhằm loại
bớt các tính độc để sử dụng làm thuốc điều trị cho người, trước khi các kháng sinh
được tìm thấy, các hợp chất hữu cơ chứa thạch tín được sử dụng để điều trị
bệnh
giang mai (thuốc Arspheamine), bệnh amid (thuốc Stovrasl hay Carbasone)…[4]
Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu dược lý
học về thạch tín cho thấy những tác dụng phụ về lâm sàng và sinh học rất nghiêm
trọng có mối liên hệ giữa ung thư phổi và một vài dạng ung thư khác (bàng quan,
da,…) khi điều trị bằng thạch tín. Dược điển của nhiều nước đã loại trừ thạch tín
trong điều trị [14].
Độc tính của arsenic là khi hấp thụ vào cơ thể nó làm bất hoạt các men (enzyme)
có chứa nhóm chức –SH (Sulphydryl) bằng cách gắn nguyên tố arsenic vào. Khi
uống arsenic vào cơ thể thì nó được hấp thụ rất nhanh nhưng lại thải trừ rất chậm và

hiện ở ngực, bụng, lưng… Sau khoảng 12 năm có thể chuyển thành ung thư da và
việc tiếp xúc với arsenic ở nồng độ cao trong thời gian từ 20 – 30 năm có thể dẫn
đến ung thư các cơ quan nội tạng [35].

11
Hình 1.3: Các con đường As xâm nhập vào cơ thể con người [21].
Một số nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, Anh, Trung Quốc chỉ ra rằng
nhiễm độc arsenic qua đường hô hấp và tiêu hóa có thể dẫn đến các tổn thương da
như tăng hoặc giảm sắc tố da, tăng sừng hóa và ung thư da, phổi, bàng quan, thận,
mũi, ruột. Ngoài ra, arsenic còn có thể gây ra các bệnh: To chướng gan, đái tháo
đường, xơ gan. Khi cơ thể
bị nhiễm độc arsenic, tùy theo mức độ và thời gian tiếp
xúc sẽ biểu hiện những triệu chứng với những tác hại khác nhau, chia ra làm 2
trường hợp sau:
Nhiễm độc cấp tính:
[7], [37]
* Qua đường tiêu hóa: Arsenic vô cơ hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và hấp thu
kém hơn ở đường hô hấp và rất kém qua da. Khi nuốt arsenic anhydryd hoặc arsenat

thần kinh ngoại vi. Một tác động đặc trưng khi bị nhiễm độc arsenic dạng hợp chất
vô cơ qua đường miệng là sự xuất hiện các vết màu đen và sáng trên da.
* Qua đường hô hấp: Hít thở không khí có bụi, khói hoặc hơi chứa arsenic
+ Kích ứng đường hô hấp với biểu hiện ho, đau khi hít vào và khó thở.
+ Rối loạn thần kinh như: Nhức đầu, chóng mặt, đau các chi.
+ Hiện tượng tím tái ở
mặt được cho là do tác dụng gây liệt của arsenic đối với các
mao mạch.
+ Các tổn thương ở mắt như viêm da mí mắt, viêm kết mạc .
Nhiễm độc mãn tính:

Nhiễm độc arsenic mãn tính có thể gây ra các tác dụng toàn thân và cục bộ. Các
triệu chứng nhiễm độc arsenic mãn tính xảy ra sau 2 – 8 tuần biểu hiện như sau:
Giai đoạn 1:
+ Tổn thương da, với các biểu hiện ban đỏ, sần và mụn nước, các tổn thương kiểu
loét, nhất là ở các phần da hở, tăng sừng hóa gan bàn tay và bàn chân, nhiễm sắc
(đen da do arsenic), các vân trắng ở móng (gọi là đám vân Mees).
Giai đoạn 2:
+ Tổn th
ương các niêm mạc, như viêm kết – giác mạc, kích ứng đường hô hấp trên,
viêm niêm mạc hô hấp, có thể làm thủng vách ngăn mũi.
+ Rối loạn dạ dày – ruột gồm buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy và táo bón luân
phiên nhau, loét dạ dày.
+ Rối loạn thần kinh có các biểu hiện như viêm dây thần kinh ngoại vi cảm giác –
vận động, có thể đây là biểu hiện duy nhất của nhiễm độc arsenic mãn tính. Có thể
có các biểu hiện khác như tê các đầ
u chi, đau các chi, bước đi khó khăn, suy nhược
cơ (chủ yếu ở các cơ duỗi ngón tay và ngón chân).
+ Nuốt phải hoặc hít phải arsenic trong không khí một cách thường xuyên, liên tiếp
có thể dẫn đến các tổn thương thoái hóa gan, từ đó có thể dẫn tới xơ gan.

dưới tác dụng của các
yếu tố oxy hóa trong môi trường thì H
3
AsO
3
có thể chuyển thành dạng H
3
AsO
4
. Thế
oxy hóa khử, độ pH của môi trường và lượng kaloit giàu Fe
3+
… là những yếu tố
quan trọng tác động đến quá trình oxy hóa – khử của các hợp chất arsenic trong tự
nhiên, arsenic có khả năng kết tủa cùng các ion sắt. những yếu tố này có ý nghĩa
làm tăng hay giảm độc tính của các hợp chất arsenic trong môi trường sống [32].
1.1.4. Cơ chế gây độc:
Arsenic thường có mặt trong thuốc trừ sâu, diệt nấm, diệt cỏ dại. Trong số
hợp chất của arsenic thì As
+3
là độc nhất.
Arsenic (3) thể hiện tính độc bằng cách tấn công lên các nhóm –SH của
enzim, làm cản trở hoạt động của enzim.

14
SH O S
[Enzim] + As_O
-
[Enzim] As_O
-

Glixerandehyd-3-phosphat 1,3- diphosphoglixerin
CH
2
OPO
3
2-

H_C_OH
C=O O
-

O_As = O
O
-

Các chất chống độc arsenic là các chất có nhóm -SH hoạt động mạnh hơn ở
enzim, có khả năng tạo liên kết với As
+3
.
Ví dụ như chất 2,3-dimercaptopropanol: SH_CH2_CH_CH2_OH
SH

Như vậy, arsenic có 3 cơ chế gây độc: Làm đông tụ protein, tạo phức với
coenzim và phá hủy quá trình phospho hóa [3].

15
1.2. TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC ARSENIC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

người có những dấu hiệu nhiễm độc arsenic. Ngày càng có nhiều quốc gia trên thế
giới phát hiện trong nước uống có hàm lượng arsenic vượt quá tiêu chuẩn của WHO

16
(0,01 mg/l) hay tiêu chuẩn của chính quốc gia đó. Những quốc gia này gồm
Argentina, Australia, Bangladesh, Chile, Trung Quốc, Hungary, Mexico, Peru, Mỹ
và một số quốc gia khu vực Đông Nam Á.
Tại Thái Lan, trong một khảo sát về arsenic trong nước ngầm vào năm 1993 tại
huyện Ronpibonn thuộc tỉnh Thammarat, cho thấy có hơn 90% số mẫu nước có hàm
lượng arsenic vượt hơn tiêu chuẩn 0,05 mg/l (tiêu chuẩn của Thái Lan). Trong một
cuộc điều tra sức khỏe vào tháng 8 năm 2000, người ta đã ước l
ượng được có từ 6
đến 120 người có khả năng đang phát bệnh nhiễm arsenic trong số 24.566 người
phơi nhiễm ở huyện Ronpibonn.
Tại Myanmar, trong một khảo sát từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2000 tại khu vực
Thabaung, Laymyethan và Hethada cho thấy có 35% trong số 125 mẫu nước từ các
ống dẫn nước của các giếng, thì có hàm lượng arsenic vượt quá mức là 0,05 mg/l
[14].
Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đô thị hóa cùng với sự khai
thác nước ngầm một cách không khoa h
ọc và sự phá hủy môi trường tự nhiên là
những yếu tố làm gia tăng mức độ ô nhiễm arsenic trong môi trường. Theo ước tính
hiện nay hàm lượng arsenic trong môi trường không khí trung bình khoảng 0,5
ng/m
3
, ở vùng ô nhiễm là 20 ng/m
3
, khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ 2,4 ng/m
3
, Nam

địa hình thấp và trũng và
đặc biệt là khu công nghiệp tập trung. Về mặt phân vùng ô
nhiễm arsenic thì khu vực Nam Hà Nội bị ô nhiễm nặng hơn các khu vực khác. Các
vùng khác như ngoại thành Hà Nội, Nam Định nước giếng cũng bị nhiễm arsenic ở
mức độ không chấp nhận được. Theo Hồ Vương Bích (2000), mẫu bùn hồ Linh
Đàm ở phía Tây Nam Hà Nội ô nhiễm arsenic lên đến 1,75 lần giá trị giới hạn.
Nước sông ngòi tại Việt Nam cũng bị ô nhiễm arsenic. Hàm l
ượng arsenic trong
nước Sông Hồng ở Hà Nội (2003 - 2005) khoảng 0,011 - 0,022 mg/l, sông Kim
Ngưu và đặc biệt là sông Tô Lịch cũng có biểu hiện ô nhiễm arsenic. Ngoài khu vực
Hà Nội thì một số tỉnh thành phía Bắc hàm lượng arsenic trong nước uống cũng
vượt mức 50 µg/l. Đặc biệt là nước suối ở Bản Phúng (thượng nguồn Sông Mã) bị ô
nhiễm arsenic với hàm lượng từ 430 µg/l đến 1.114 µg/l [20].
Tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cấ
u tạo địa tầng giống
Bangladesh do đó có nguy cơ ô nhiễm arsenic cao. Các nghiên cứu trên 500 giếng
UNICEP ở An Giang cho thấy hơn 1/3 số giếng nhiễm arsenic.
Kết quả điều tra nghiên cứu của Trung tâm Ðịa chất Khoáng sản biển và Ðại học
khoa học tự nhiên ÐHQG Hà Nội (2005) cho thấy nước biển ven bờ Việt Nam cũng
có biểu hiện ô nhiễm arsenic: Đông nam cửa Ghềnh Hào (Cà Mau), arsenic = 0,36 -
0,4 mg/l. Trầm tích biển ven bờ của nhiều vùng Vi
ệt Nam chưa có biểu hiện ô

18
nhiễm arsenic: đông nam rạch Ba Quan, Vàm Cái Công, nam Hòn Bung (Cà Mau,
Bạc Liêu), hàm lượng ion hấp phụ arsenic = 2 - 3,5 ppm, nam cửa Hàm Luông, cửa
Cung Hầu (4,4 ppm), cửa Trần Ðề, cửa Ðịnh An (3 – 5 ppm), đông nam Vũng Tàu
(arsenic = 26 ppm). Tuy nhiên, phía Đông Hòn Trâu (Phú Yên), đông mũi An Hoà
(Quảng Ngãi), hàm lượng arsenic ở dạng ion hoà tan là 190 – 200 ppm [18].


rồi mới xử lý.
Oxy hóa sắt và mangan:

Theo Edward (1994), khi sử dụng riêng lẻ phương pháp hấp phụ, loại bỏ 2
mg/l sắt có thể loại bỏ được khoảng 92,5% As
+5
với nồng độ ban đầu 10 µg/l. Khi
xử lý 1 mg/l sắt có thể loại bỏ được khoảng 83% As
+5
của hàm lượng ban đầu 22
µg/l. Tuy nhiên nếu so sánh việc loại bỏ As trong quá trình kết tủa mangan (Mn)
với kết tủa sắt thì khi kết tủa 3mg/l Mn thì chỉ có 69% As
+5
được loại bỏ trong 12,5
µg/l ban đầu.
Làm mềm nước:

Tất cả các phương pháp làm mềm nước đều có thể làm giảm lượng As trong
nước, quá trình này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Hàm lượng As
+5
/As
+3

- Trạng thái oxy hóa của As, As
+5
được loại bỏ khỏi dung dịch bởi quá trình làm
mềm nước tốt hơn so với As
+3
. Theo Logdons và Sorg (1978) pH tối ưu để loại bỏ


Là quá trình sử dụng màng bán thấm, chỉ cho nước và các chất hòa tan đi qua
để làm sạch nước. Theo một số nghiên cứu thì quá trình lọc màng loại bỏ As cũng
chịu ảnh hưởng một số yếu tố sau:
- Nếu As tồn tại trong nước dưới dạng As
+3
thì hiệu quả của quá trình khử As không
phụ thuộc vào pH, trong khi nếu tồn tại dạng As
+5
thì hiệu quả quá trình xử lý phụ
thuộc pH.
- Đối với lọc micro thì: As trong nước ngầm chỉ có thể xử lý đạt 10%, trong khi nếu
nguồn nước là nước mặt thì hiệu quả có thể đạt 70% (theo McNeill và Edwards,
1997), nếu lực đẩy tĩnh điện cao thì hiệu suất xử lý cũng khá cao > 70%, khi lực đẩy
nhỏ thì hiệu quả < 60%.
- Đối với RO (thẩm thấu ngược) thì hiệu quả xử lý As hòa tan trong nước ng
ầm
khoảng 80-90%. Khi pH ở giá trị trung tính thì chỉ có As
+5
được loại bỏ khoảng
96%, còn As
+3
thì hầu như không được xử lý [43].
Các phương pháp xử lý ô nhiễm arsenic áp dụng tại Việt Nam:

- Xử lý ô nhiễm Amoniac và arsenic trong nước ngầm bằng phương pháp lọc kết
hợp với thủy thực vật [5].

o
35’ kinh
độ Đơng. Phía Đơng và phía Đơng Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp, phía Nam và Tây
Nam giáp Tỉnh Kiên Giang, phía Đơng Nam giáp Thành Phố Cần Thơ, phía Tây
Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài trên 95 km.
An Giang là tỉnh nằm ở đầu nguồn sơng Cửu Long, là một phần nằm trong vùng
Tứ giác Long Xun, có diện tích tự nhiên là 3.424 km
2
, chiếm khoảng 1,04% tổng
diện tích cả nước và khoảng 8,71% tổng diện tích khu vực Đồng bằng Sơng Cửu Long.
Phần lãnh thổ nằm giữa sơng Tiền và sơng Hậu tạo thành vùng cù lao, chiếm
30% diện tích của tỉnh; Phần lãnh thổ ở phía Tây sơng Hậu nằm trong tứ giác Long
Xun, chiếm 70% diện tích của tỉnh. An Giang là tỉnh đồng bằng nhưng một phần
lãnh thổ có núi, với nhiều khối núi, khơng thành dãy như núi Dài, Cơ Tơ, cao nhất
là núi Cấ
m trên 710 m. Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm
thành phố Long Xun, thị xã Châu Đốc, và 9 huyện là Châu Thành, Thoại Sơn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status