câu hỏi và bài tập lao động chế độ lương thưởng - Pdf 22

1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chế độ lương thưởng có ý nghĩa rất lớn đối với cả
người sử dụng lao động, người lao động và trên phạm vi
toàn xã hội. Bộ luật Lao động được ban hành và sau nhiều
lần sửa đổi, cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn
bổ sung đã làm cho chế định này ngày càng đầy đủ, hoàn
thiện và phù hợp hơn với quan hệ lao động xác lập trên cơ
sở hợp đồng lao động trong nền kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, trên thực tế có rất nhiều những tranh chấp xung
quanh vấn đề này, và để giải quyết được những tranh chấp
này không phải là vấn đề đơn giản. Tình huống đề bài đưa
ra là một trong những trường hợp này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. VỤ VIỆC TRÊN CÓ PHẢI LÀ TRANH CHẤP
LAO ĐỘNG HAY KHÔNG? TẠI SAO? NẾU LÀ
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG THÌ NÓ THUỘC LOẠI
TRANH CHẤP LAO ĐỘNG NÀO?
1.1. VỤ VIỆC TRÊN CÓ PHẢI LÀ TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG HAY KHÔNG? TẠI SAO?
2

1.1.1. Khẳng định.
Vụ việc trên là tranh chấp lao động.
1.1.2. Giải thích.
Khoản 1 Điều 157 Bộ luật lao động sửa đổi bổ sung
quy định:
“ Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền
và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người
lao động , tập thể lao đông với người sử dụng lao động .

công nhân.
4

 Về nội dung: Tranh chấp lao động có nội dung khá đặc
trưng, đó là những giá trị vật chất, tinh thần gắn liền với
lao động. Nói cách khác, đó là các quyền, lợi ích nghề
nghiệp của người lao động.
 Trong tình huống trên, mâu thuẫn xảy ra là mâu thuẫn
tồn tại khách quan trong quan hệ lao động: giữa tập thể
người lao động của công ty BS và công ty này về lợi
ích của người lao động - cụ thể là người lao động đòi
công ty chi trả tháng lương thứ 13 và đã không được
Giám đốc Kim chấp thuận. Vấn đề về tiền lương và tiền
thưởng là các vấn đề đặc hữu của quá trình lao động,
giúp phân biệt với các loại tranh chấp khác.
 Về hình thức: Tranh chấp giữa các bên phải được thể
hiện qua một hình thức nhất định và biểu đạt rõ yêu cầu
của một hoặc tất cả các bên về sự giải quyết tranh chấp
lao động đó.
 Trong tình huống trên, mâu thuẫn giữa các bên được
thể hiện qua việc tập thể công nhân công ty BS kéo
5

nhau đến phòng giám đốc Kim đòi chi lương tháng thứ
13.
 Về ảnh hưởng xã hội: Tranh chấp lao động có sự ảnh
hưởng rất lớn tới đời sống lao động, đời sống kinh tế xã
hội và đời sống chính trị.
 Trong tình huống trên, tranh chấp này xảy ra đã khiến
cho quan hệ lao động và các quan hệ xã hội khác trong

13.
Căn cứ vào quy định Điều 64 của Bộ luật lao động đã
sửa đổi, bổ sung và Điều 11 Nghị định số 114/2002/NĐ -
CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ quy định chi tiết và 1
Xem Khoản 5 Điều 157 Luật Lao động sửa đổi bổ sung.
7

hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về
tiền lương thì việc thưởng cho người lao động làm việc tại
doanh nghiệp:
“Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hằng năm
và mức độ hoàn thành công việc của người lao động,
người sử dụng lao động thưởng cho người lao động làm
việc tại doanh nghiệp trên cơ sở hợp đồng lao động, thỏa
ước lao động tập thể mà hai bên đã thỏa thuận.
Các doanh nghiệp có trách nhiệm ban hành quy chế
thưởng để thực hiện đối với người lao động sau khi tham
khảo ý kiến ban chấp hành công đoàn cơ sở. Quy chế
thưởng phải được công bố công khai trong doanh
nghiệp.”
 Pháp luật không quy định bắt buộc doanh nghiệp phải
trả tháng lương thứ 13 cho người lao động. Việc người
lao động có được hưởng tháng lương này hay không
phải dựa trên cơ sở quy định tại hợp đồng lao động
cũng như thoả ước lao động tập thể của đơn vị SDLĐ
8


ĐỐC KIM VÀ CÔNG TY BS TRONG VỤ VIỆC
TRÊN.
Thứ nhất, khi công nhân công ty BS đến phòng giám
đốc Kim đòi chi tháng lương thứ 13, Giám đốc đã đề nghị
công nhân giải tán, không tụ tập số đông và trở lại làm
việc.
 Nhận xét: Giám đốc Kim đã xử sự đúng trong trường
hợp trên.
 Giải thích: Việc tập thể công nhân công ty kéo đến
phòng Giám đốc trong giờ làm việc vi phạm nội quy lao
10

động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong
công ty. Ngoài ra, hành vi này của tập thể công nhân
còn gây ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Công nhân cần tôn trọng trình tự, thủ
tục giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật,
không được tự ý bỏ giờ làm, tụ tập đông người. Do đó,
yêu cầu của Giám đốc với công nhân là hoàn toàn hợp
lý.
Thứ hai, tại phiên họp chính thức với Ban chấp hành
Công đoàn, Giám đốc Kim khẳng định không chấp nhận
chi tháng lương thứ 13 vì công ty chưa hề có thỏa thuận
và pháp luật không có quy định bắt buộc. Hơn nữa, hiện
tại, công ty đang gặp khó khăn tài chính nên công ty
không thể đáp ứng đòi hỏi của người lao động.
 Nhận xét: Cách xử sự của giám đốc Kim ở đây là
đúng.
 Giải thích:
Căn cứ vào quy định Điều 64 của Bộ luật lao động đã

 Nhận xét: Cách xử sự của Công ty BS không đúng
quy định của pháp luật.
 Giải thích:
Việc giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành
khi hai bên đã thương lượng mà không giải quyết được
tranh chấp
2
. Trong tình huống trên, BCH Công đoàn và
Giám đốc Kim đã không đạt được thỏa thuận. Do đó vụ
tranh chấp cần được giải quyết theo thủ tục, trình tự do
pháp luật quy định. Cụ thể như sau:
Tập thể NLĐ và NSDLĐ có quyền lựa chọn Hồi
đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải giải viên lao
động giải quyết tranh chấp
3
. Trong tình huống trên, BCH 2
Xem Khoản 1 Điều 159 Bộ Luật Lao động sửa dổi bổ sung.
3
Xem Khoản 1 Điều 170 Bộ Luật Lao động sửa đổi bổ sung.
13

Công đoàn đã lựa chọn Hội đồng hòa giải lao động của
công ty.
Vụ tranh chấp trên là tranh chấp lao động tập thể về
lợi ích
4
nên trình tự hòa giải phải tuân theo quy định tại

của công ty.
3. CHỦ TỊCH UBND QUẬN CÓ THỤ LÝ GIẢI
QUYẾT VỤ TRANH CHẤP TRÊN KHÔNG? TẠI
SAO?
3.1. Khẳng định.
Chủ tịch UBND quận không thụ lý giải quyết vụ
tranh chấp trên.
3.2. Giải thích.
15

Tranh chấp lao động trong tình huống trên là tranh
chấp lao động tập thể về lợi ích
5
. Theo quy định tại Điều
169 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã sửa đổi, bổ sung năm
2002, 2006, 2007) thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, bao gồm:
“1. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải
viên lao động ;
2. Hội đồng trọng tài lao động”.
Đồng thời, theo quy định tại Điều 168 Bộ Luật Lao
động sửa đổi bổ sung:
“Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải tranh chấp lao
động tập thể về quyền bao gồm:
1. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải
viên lao động;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân
dân cấp huyện);
3. Tòa án nhân dân”.

17

định các trường hợp không bắt buộc phải qua hòa giải tại
cơ sở như sau:
“ Tòa án nhân dân giải quyết những tranh chấp lao động
cá nhân sau đây mà không bắt buộc phải qua hòa giải tại
cơ sở:
a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa
thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động;
b) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm
dứt hợp đồng lao động;
c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử
dụng lao động;
d) Tranh chấp về bảo hiểm xã hội quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 151 của Bộ luật này;
e) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động
với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.”
Theo đề bài, tranh chấp giữa tập thể lao động công
nhân công ty BS với công ty này là về vấn đề lương tháng
18

thứ mười ba. Tranh chấp này không thuộc các trường hợp
không bắt buộc phải qua hòa giải tại cơ sở theo quy định
tại Khoản 2 Điều 166 Bộ Luật Lao động.
 Do vậy, hai bên tranh chấp phải qua hòa giải cơ sở.
Điều 169 Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung quy
định:
“Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh

vẫn không tiến hành hòa giải.
 Căn cứ vào Khoản 2 Điều 170 Bộ Luật Lao động:
“Trường hợp hòa giải không thành hoặc hết thời hạn
giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 165a của Bộ 7
Điều 162 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007).
20

luật này mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa
giải viên lao động không tiến hành hòa giải thì mỗi bên
tranh chấp có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp huyện giải quyết đối với trường hợp tranh chấp lao
động tập thể về quyền hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài
lao động giải quyết đối với tranh chấp lao động tập
thể về lợi ích.” Tranh chấp trong tình huống đề bài là
tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, do đó cơ quan có
thẩm quyền giải quyết vụ việc này là Hội đồng trọng tài
lao động.
Theo đề bài, sau 5 ngày không thấy được giải quyết,
BCH Công đoàn công ty BS đã yêu cầu Chủ tịch UBND
quận nơi công ty đóng trụ sở giải quyết. Chủ tịchUBND
quận chỉ có quyền giải quyết đối với trường hợp tranh
chấp lao động tập thể về quyền nên vụ việc này không
thuộc thẩm quyền của chủ tịch UBND. Do vậy vụ việc
này phải chuyển sang cho Hội đồng trọng tài lao động
giải quyết.
21


cách toàn diện, cụ thể đồng thời cũng phải căn cứ vào các
quy định của pháp luật lao động một cách đầy đủ nhất.
Ngoài ra, cần hoàn thiện hoàn thiện những quy định của
Luật Lao động về vấn đề này.

23


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status