thiết kế công nghệ xử lý nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường công suất 2000m3 - Pdf 22

Chương I GIỚI THIỆU
Trong tất cả các trường hợp, nước sử dụng cho các hộ tiêu thụ được cấp bằng mạng ống dẫn phải
được xử lý, ngay cả khi con người chỉ dùng trực tiếp một lượng rất ít. Điều đó rất nguy hiểm cho sức khỏe
và quá đắt nếu ta dùng hệ thông mạng kép, nghĩa là một mạng dùng cho việc ăn uống, còn một mạng
dùng cho các sử dụng khác.
Dù cách sử dụng thế nào đi chăng nữa, nưđc đưa đến vòi nước của hộ tiêudùng phải là
nước uổng được, nghĩa là đáp ứng những quy định hiện hành.
Cần phải xử lý nưđc, khi mà một trong các thông sô" phân tích vượt quá tiêu chuẩn hiện hành ở
vùng quan sát LOMS (tổ chức y tế thế giới) xây dựng cho mỗi một tham sô" các yêu cầu bảo đảm phù hợp
cho mỗi nước, phụ thuộc vào tình trạng vệ sinh và điều kiện kinh tế của nước đó để đưa tới các tiêu chuẩn
quốc gia.
Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển, đời sông của người dân được nâng cao thì nhucầu
dùng nước sạch càng mạnh mẽ. Do đó, vấn đề nước sạch đang là nỗi bức xúc của người dân và việc đầu tư
xây dựng một hệ thông xử lý nước sạch để cung cấp cho người dân là một việc làm cần thiết và cấp bách.
Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu dùng nước hàng ngày nhằm nâng cao chất lượng cuộc sông của người dân
mà còn tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và của khu vực dân cư nói
riêng.
Nước trong thiên nhiên được dùng làm các nguồn nước cung câp cho ăn uống sinh hoạt và công
nghiệp có chất lượng rất khác nhau. Đối với các nguồn nước mặt, thường có độ đục, độ màu và hàm lượng
vi trùng cao. Đôi vđi các nguồn nước ngầm, hàm lượng sắt và mangan thường vượt quá giới hạn cho phép.
Có thể nói, hầu hết các nguồn nước thiên nhiên đều không đáp ứng được yêu cầu, về mặt chất
lượng cho các đôi tượng dùng nước.
Chính vì vậy, trưđc khi đưa nưđc vào sử dụng, cần phải tiến hành xử lí chúng.
Nhiệm vụ chính của đồ án là tiến hành xử lý nguồn nưđc
thô ban đầu có độ đục là 85 NTƯ sao cho nước sau xử lý
đạt tiêu chuẩn ăn uống và vệ sinh môi trường, công suất
là 2.000m
3
/ngày.
Chương II
TỔNG QUAN VỀ CHAT LƯỢNG NƯỚC

II. Tính chất lý hoc của nước:
1. Nhiêt đô:
Nhiệt độ của nước là đại lượng phụ thuộc vào điều kiện môi rường và khí hậu. Nhiệt độ
của nước có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình xử lí nước. Sự thay đổi nhiệt độ của nước phụ
thuộc vào từng loại nguồn nước.
Nhiệt độ của nguồn nước mặt dao động rất lớn (từ 4-40°C) phụ thuộc vào thời tiết và độ
sâu nguồn nưđc. Ví dụ: ở miền Bắc Biệt Nam, nhiệt độ nước thường dao động 13- 34°c, trong
khi đó nhiệt độ trong các nguồn nước mặt ở miền Nam tương đôi ổn định hơn (26- 29°C).
Nước ngầm có nhiệt độ tương đôi ổn định (17- 27°C).
2. Đô màu:
Độ màu thường do các chất bẩn có trong nước tạo nên. Các hợp chất sắt, mangan không hòa tan làm
nước có màu nâu đỏ, các chất mùn humic gây ra màu vàng, các loại thủy sinh tạo cho nước màu xanh lá
cây. Nưđc bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt hay công nghiệp thường có màu xanh hoặc đen.
Đơn vị đo độ màu thường dùng là Platin- Côban. Nước thiên nhiên thường có độ màu thấp hơn 200
PtCo. Độ màu biểu kiến trong nước thường do các chất lơ lửng trong nước tạo ra và dễ dàng loại bỏ bằng
phương pháp lọc. Trong khi đó, để loại bỏ màu thực của nước (do các chất hòa tan tạo nên) phải dùng các
biện pháp hóa lý kết hợp.
3. Đô đuc:
Nước là một môi trường truyền ánh sáng tốt. Khi trong nước có các vật lạ như các chất huyền phù,
các hạt cặn đất đá, các vi sinh vật khả năng truyền ánh sáng bị giảm đi. Nước có độ đục lớn chứng tỏ có
chứa nhiều cặn bẩn. Đơn vị đo độ đục thường là mgSiCh/l, NTU, FTU; trong đó đơn vị NTU và FTƯ là
tương đương nhau. Nước mặt thường có độ đục không vượt quá 5 NTU.
Hàm lượng chất rắn lơ lửng cũng là một đại lượng tương quan đến độ đục của nước.
4. Mùi vi:
Mùi vị trong nước thường do các hợp chất hóa học, chủ yếu là các hợp chất hữu cơ hay các sản phẩm
từ các quá trình phân hủy vật chất gây nên. Nước thiên nhiên có thể có mùi đất, mùi tanh, mùi thôi. Nước
Thiết kế công nghệ xử lý nước cấp phục vụ cho sinh hoạt, công suất 2.000m
3
/ngày
2GVHD : Dương Thị Thành

Độ pH của nước có liên quan đến sự hiện diện của một sô" kim loại và khí hòa tan trong nước,
ơ độ pH < 5, tùy thuộc vào điều kiện địa chất, trong một sô" nguồn nước có thể chứa sắt, mangan,
nhôm ở dạng hòa tan và một sô" loại khí như CO2, H2S tồn tại ở dạng tự do trong nước. Độ pH
được ứng dụng để khử các hợp chất Sunfua và cacbonat có trong nước bằng biện pháp làm
thoáng. Ngoài ra khi tăng pH và có thêm tác nhân oxy hóa, các kim loại hòa tan trong nước
chuyển thành dạng kết tủa và dễ dàng tách ra khỏi nước bằng biện pháp lắng lọc.
2. Đô kiềm:
Độ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng các ion bicacbonat, hydroxit và anion của các muôi của
các axit yếu. Do hàm lượng các muôi này có trong nước rất nhỏ nên có thể bỏ qua.
ơ nhiệt độ nhất định, độ kiềm phụ thuộc vào độ pH và hàm lượng khí CO2 tự do có trong
nước.
Thiết kế công nghệ xử lý nước cấp phục vụ cho sinh hoạt, công suất 2.000m
3
/ngày
3GVHD : Dương Thị Thành
SVTH : Nguyễn Hữu Vân Thảo - MSSV: 904T1756
Độ kiềm bicacbonat góp phần tạo nên tính đệm cho dung dịch nước. Nguồn nước có tính đệm
cao, nếu trong quá trinh xử lý có dùng thêm các hóa chất như phèn, thì độ pH của nước cũng ít
thay đổi nên sẽ tiết kiệm được các hóa chất dùng đễ điều chỉnh pH.
3. Đọ cứng:
Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion canxi và magiê có trong nước.
Trong kỹ thuật sử lý nước dùng 3 loại khái niệm độ cứng:
Độ cứng toàn phần biểu thị tổng hàm lượng các ion canxi
và magiê có trong nước.
- Độ cứng tạm thời biểu thị tổng hàm lượng các muối cacbonat và bicacbonat của Canxi và Magiê
có trong nước.
- Độ cứng vĩnh cửu biểu thị tổng hàm lượng các muôi còn lại của Canxi và Magiê có trong nước.
Dùng nước có độ cứng cao trong sinh hoạt sẽ gây lãng phí xà phòng do Canxi và Magiê phản ứng với
các axít béo tạo thành các hợp chất khó tan. Trong sản xuất, nước cứng có thể tạo lớp cáu cặn trong các
lò hơi hoặc gây kết tủa ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

nước thải từ bên ngoài độ vào nguồn nước.
- Cần kết hợp với các chỉ tiêu khác nhau như hàm lượng ion Clorua, Sunphat, Photphat, oxy hòa
tan, các hợp chất Nitơ, hàm lượng vi sinh vật gây bệnh để có thể đánh giá tổng quát về mức độ
nhiễm bẩn của nguồn nước.
5. Các hơp chât chứa Nitơ:
Quá trình phân hủy các chất hưũ cơ tạo ra amoniac, nitrit và nitrat. Do đó, các hợp chất này thường
được xem là những chất chỉ thị dùng để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nưđc. Khi mới bị nhiễm
bẩn, ngoài các chỉ tiêu có giá trị cao như độ oxy hóa, amonniac, trong nước còn có một ít nitrit và nitrat.
Sau một thời gian, amoniac, nitrit bị oxy hóa thành nitrat. Phân tích sự tương quan giá trị các đại lượng
này có thể dự đoán thường nhiễm nitrat.
Nồng độ nitrat cao là môi trường dinh dưỡng tốt cho tảo, rong phát triển, gây ảnh hưởng đến chất
lượng nưđc dùng trong sinh hoạt. Trẻ em uống nucớ có nồng độ nitrat cao có thể ảnh hưởng đến máu
(chứng methaemoglo binaemia). Theo quy định của Tổ chứcY tế thế giới, nồng độ nitrat trong nước uống
không được vượt quá 10 mg/1 (tính theo N).
6. Các hơp chât Photpho:
Trong nước tự nhiên, thường gặp nhất là photphat. Đây là sản phẩm của quá trình phân hủy sinh học
các chất hữu cơ. Cũng như nitrat là chất dinh dưỡng cho sự phát triển của rong tảo. Nguồn photphát đưa
vào môi trường nưđc là từ nước thải sinh họat, nước thải một số ngành công nghiệp và lượng phân bón
dùng trên đồng ruộng.
Photphat không thuộc loại hóa chất độc hại đôi với con người, nhưng sự tổn tại của chất này với hàm
lượng cao trong nước sẽ gây cản trở cho quá trình xử lý, đặc biệt là hoạt chất của các bể lắng. ĐỐI vđi
những nguồn nước có hàm lượng chất hữu cơ, nitrat và photphat cao, các bông cặn kết cặn ở bể tạo bông
sẽ không lắng được ở bể mà có khuynh hướng tạo thành đám nổi lên mặt nước, đặc biệt vào những lúc
trời nắng chiếu trong ngày.
7. Các hơp chât Silic;
Trong nước thiên nhiên thường có các hợp chất Silic. ơ pH<8, Silic tồn tại ở dạng H2S1O
3

S1O3
2

clorua; đôi khi tồn tại dưới dạng keo của axit humic hoặc keo Silic. Khi tiếp xúc với oxy hoặc các tác nhân
oxy hóa, ion Fe
2+
bị oxy hóa thành ion Fe
3+
và kết tủa thành các bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu đỏ.
Nước mặt thường chứa sắt (Fe
3+
),tồn tại ở dạng keo hữu cơ hoặc cặn huyền phù. Trong nước thiên
nhiên, chủ yếu là nước ngầm, có thể chứa sắt vđi hàm lượng đến 40 mg/1 hoặc cao hơn.
Với hàm lượng sắt cao hơn 0.5 mg/1, nưđc có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hỏng
sản phẩm của các ngành dệt, giây, phim ảnh, đồ hộp. Các cặn sắt kết tủa có thể làm tắc hoặc giảm khả
năng vận chuyển của các ông dẫn nước.
12. Mangan:
Cũng như sắt, mangan thường có trong nước ngầm dưới dạng ion Mn
2+
, nhưng vđi hàm lượng tương
đôi thấp, ít khi vượt quá 5 mg/1. Tuy nhiên, vđi hàm lượng mangan trong nước lớn hơn 0.1 mg/1 sẽ gây
nhiều nguy hại trong việc sử dụng, giông như trường hợp nước chứa sắt với hàm lượng cao.
13. Nhổm:
Vào mùa mưa, ở những vùng đất phèn, đất ở trong điều kiện khử không có oxy nên các chất như
Fe2Ơ3 và jarosite tác động qua lại, lấy oxy của nhau và tạo thành sắt, nhôm, suníat hòa tan vào nước. Do
đó, nước mặt ở vùng này thường rất chua, pH= 2.5-4.5, sắt tồn tại chủ yếu là Fe
2+
(có khi cao đến 300
mg/1), nhôm hòa tan ở dạng ion Al
3+
(5-7 mg/1).
Khi chứa nhiều nhôm hòa tan, nước thường có màu trong xanh và vị rất chua. Nhôm có thể có độc
tính đôi với sức khỏe con người. Khi uống nưđc có hàm lượng nhôm cao có thể gây ra các bệnh về não

vững cao trong môi trường và khả năng tích lũy trong cơ thể con người. Việc sử dụng khôi lượng
lớn các hóa chất này trên đồng ruộng đang đe dọa làm ô nhiễm các nguồn nước.
15. Chát hoat đông bể mặt:
Một sô" chất hoạt động bề mặt như xà phòng, chất tẩy rửa, chất tạo bọt có trong nưđc thải
sinh hoạt và nước thải một sô" ngành công nghiệp đang được xả vào các nguồn nước. Đây là
những hợp chất khó phân hủy sinh học nên ngày càng tích tụ nước đến mức có thể gây ahị cho cơ
thể con người khi sử dụng. Ngoài ra, các chất này còn tạo thành một lớp màng phủ bề mặt các
vực nước, ngăn cản sự hòa tan oxy vào nước và làm chậm các quá trình tự làm sạch của nguồn
nước.
IV. Các chí tiêu vi sinh:
Trong nưđc thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng, rong, tảo và các đơn bào, chúng xâm
nhập vào nước từ môi trường xung quanh hoặc sông và phát triển trong nước, trong đó có một sô" sinh
vật gây bệnh cần phải được loại bỏ khòi nước trước khi sử dụng.
Trong thực tế không thể xác định tất cả các loại sinh vật gây bệnh qua đường nước vì phức tạp và tốn
thời gian. Mục đích của việc kiểm tra vệ sinh nước là xác định mức độ an toàn của nước đôi với sức khỏe
con người. Do vậy có thể dùng vài vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân để đánh giá sự ô nhiễm từ rác, phân người
và động vật.
Thiết kế công nghệ xử lý nước cấp phục vụ cho sinh hoạt, công suất 2.000m
3
/ngày
7GVHD : Dương Thị Thành
SVTH : Nguyễn Hữu Vân Thảo - MSSV: 904T1756
Cả ba nhóm vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân:
Nhóm coliform đặc trưng là Escherichia Coli (E.Coli).
Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus faecalis.
Nhóm Clostridia khử sunfit đặc trưng là Clostridium perfringents.
Đây là các nhóm vi khuẩn thường xuyên có mặt trong phân người, trong đó E.Coli là loại trực khuẩn
đường ruột, có thời gian bảo tồn trong nước gần giông những vi sinh vật gây bệnh khác. Sự có mặt của
E.Coli chứng tỏ nguồn nước đã bị nhiễm bẩn phân rác và có khả năng tồn tại các loại vi trùng gây bệnh
khác. Sô" lượng E.Coli nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ nhiễm bẩn phân rác của nguồn nưđc.

Tổng chất rắn lơ lửng
Tổng chất rắn hòa tan
Dầu mỡ BOD
5
0,13mg/l;
1,50mg/l;
COD : 3,20mg/l;
Tổng Coliform : 13.000MPN/1 OOml.
^ Theo yêu cầu của đề tài, nước thô cần xử lý có chỉ tiêu về độ đục là 85 NTU.
So với tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống (Ban hành kèm theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế sô"
1329/2002/BYT/QĐ ngày 18-4 -2002) thì giới hạn tốì đa về độ đục là 2 NTƯ theo phương pháp thử
TCVN 6184- 1996 (ISO 7027- 1990).
Như vậy nưđc thô có độ đục vượt quá giới hạn.
Muôn cung cấp nước sạch cho khu dân cư theo đúng tiêu chuẩn đã ban hành, chúng ta cần đề ra phương
án xử lý độ đục sao cho nưđc sau xử lý có độ đục < 2 NTƯ.
% Nguyên nhân phát sinh độ đuc:
Độ đục của nước bắt nguồn từ sự hiện diện của một sô" các chất lơ lửng có kích thước thay đổi từ dạng
phân tán thô đến dạng keo, huyền phù gây trở ngại cho đường truyền của ánh sáng qua nước hoặc hạn
chế tầm nhìn mắt.
Trong hồ hoặc trong các vùng nước tĩnh, độ đục hầu như là do các chất keo và các hạt
phân tán cực mịn gây ra.
Trong vùng sông ngập lũ, độ đục thường do các hạt phân tán thô gây ra.
Khi sông bắt nguồn từ các vùng núi chảy về đồng bằng, tính đục của nó có sự đóng góp của việc trồng
trọt và những tác động vào đất.
Khi dòng lũ đi qua, một lượng lớn đất mặt bị rửa trôi được cuốn theo vào dòng chảy. Phần lớn là các
chất hữu cơ, bao gồm cả bùn và đất sét nhưng cũng bao gồm một lượng đáng kể các chất hữu cơ.
Nước lũ chảy qua các vùng thành thị, mang theo nước thải lẫn nước thải sinh hoạt đã hoặc chưa được xử
lý. Chất thải sinh hoạt chứa một sô" lượng lớn các vật chất hữu cơ và một ít chất vô cơ góp vào tính đục
của nước. Chất thải công nghiệp chứa lượng lớn các chất hữu cơ và các chất vô cơ khác tạo nên độ đục.
Các rác rưởi khác cũng góp nhiều chất vô cơ và ít chất hữu cơ vào tính chất đục.

độ đục bằng các làm đông hóa học trước hki nước được đưa vào bể lọc. Những thiếu sót khi thực hiện
làm thời gian họat động của bộ lọc ngắn và lượng nước lọc chất lượng thấp, trừ khi có những bộ lọc
với cấu tạo và cách hoạt động đặc biệt được sử dụng.
- Sự khử trùng:
Sự khử trùng nước cấp thường được hoàn thành bằng cách sử dụng Clo, Ozôn hoặc Clo điôxit. Để
hiệu quả, phải có sự tiếp xúc giữa vật trung gian và sinh vật mà thuốc tẩy uế sử dụng đã loại trừ.
Trong nước đục, hầu hết các sinh vật có hại bị loại trừ bởi hoạt động khử trùng. Tuy nhiên, trong
trường hợp mà độ đục của nưđc là do nước thải thành thị gây ra, nhiều sinh vật gây hại có thể được
bọc lại trong các tiểu phân và được bảo vệ khỏi sự khử trùng.
Vì các nguyên nhân này mà Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống đã đặt ra độ gây ô nhiễm tôi đa của
độ đục là 2 NTU.
-*• Chất lương nưđc đầu ra:
Chất lượng nưđc sau xử lý phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh ăn uống của bộ y tế: Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn
uống ( Ban hành kèm theo Quyết định cứa bộ trưởng Bộ y tế số 1329/2002/BYT/QĐ ngày 18- 4-2002).
Dưới đây là một sô"chỉ tiêu chính:
ST
T
Thông sô" Đơn vị Giới hạn cho phép
1 pH 6.5-8.5
2 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) mg/1 1000
3 N-Amonia mg/1 1.5
4 Tổng sắt Fe mg/1 0.3
5 Độ cứng mg/1 CaCƠ3 500
6
cr
mg/1 250
7 SO4
2
' mg/1 400
8 Mn mg/1 0.5

Biện pháp hóa học : dùng các hóa chất cho vào nước để xử lí nước như : dùng phèn làm chất keo
tụ, dùng vôi để kềm hóa nước, cho clo vào nước để khử trùng.
Biện pháp lí học : dùng các tia vật lí để khử trùng nưđc như tia tử ngoại, sóng siêu âm. Điện phân
nước biển để khử muôi. Khử khí CO2 hòa tan trong nước bằng phương pháp làm thoáng.
Trong 3 biện pháp xử lí nước nêu trên đây thì biện pháp cơ học là biện pháp xử lí nước cơ bản
nhất. Có thể dùng biện pháp cơ học để xử lí nước một cách độc lập hoặc kết hợp với biện pháp hóa học
và lí học để rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả xủ lí nước. Trong thực tế, để đạt được mục đích xử
lí một nguồn nưđc nào đấy một cách kinh tế và hiệu quả nhất phải thục hiện quá trình xử lí bằng sự kết
hợp của nhiều phương pháp.
Thực ra cách phân chia các biện pháp xử lí như trên chỉ là tương đôi, nhiều khi bản thân biện
pháp xử lí này lại mang cả tính chất của biện pháp khác.
II. Tổng quan về dây chuyền công nghệ xứ lí nước i
Quá trình xử lí nước phải qua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn được thực hiện trong các công trình
đơn vị khác nhau. Tập hợp các công trình đơn vị theo trình tự từ đầu đến cuối gọi là dây chuyền công
nghệ xử lí nước. Căn cứ vào các chỉ tiêu phân tích của nước nguồn, yêu cầu chất lượng nước sử dụng có
thể xây dựng được các sơ đồ công nghệ xử lí khác nhau và được phân loại như sau :
I. Theo mức đỏ xử lí
Chia ra : xử lí triệt để và không triệt để.
Xử lí triệt để : chất lượng nước sau xử lí đạt tiêu chuẩn ăn uống sinh hoạt hoặc đạt yêu cầu
nưđc cấp cho công nghiệp đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn nước sinh hoạt (ví dụ: nước cấp cho nồi
hơi áp lực cao)
Xử lí không triệt để : yêu cầu chất lượng nước sau xử lí thấp hơn nước ăn uống sinh hoạt. Sơ
đồ công nghệ này chủ yếu dùng trong một số ngành công nghiệp như : làm nguội, rửa sản
phẩm
II. Theo biên pháp
Chia ra : sơ đồ công nghệ có keo tụ và không có keo tụ :
Sơ đồ không dùng chât keo tụ : áp dụng cho trạm xử lí có công xuất nhỏ, quản lí thủ công hoặc
xử lí sơ bộ.
Sơ đồ có dùng chất keo tụ : dùng cho trạm xử lí có công xuất bất kì, hiệu quả xử lí đạt được
cao hơn kể cả đôi với nguồn nước có độ đục và độ màu cao.

sản phẩm ) hay có thể bổ sung thêm một sô" công trình
để khử thêm một số chất không có lợi cho ngành sản xuất đó
(nước cấp cho nồi hơi có áp lực cao).
Sau đây là một số’ sơ đồ dây chuyền công nghệ xử lí nước ăn uống sinh hoạt được sử dụng phổ biến ở
Việt Nam hiện nay. Để xử lí nước mặt có thể dùng các sơ đồ sau:
Khi nước nguồn có hàm lượng cặn < 2500 mg/1:
Chất keo tụ
Từ trạm bơm
cấp I tới
Bể phản
Bê’ lắng
ứng
Bể trộn
Chất khử trùng
Chất kiềm hóa
Bể chứa nước sạch
Chất keo tụ
Bể lọc
nhanh
Bê’ lắng trong có lớp cặn
lơ lửng
Từ trạm bơm
cấp I tới
Bể trộn
Chất kiềm hóa
Chất khử trùng
Bể chứa nước sạch
Chất keo tụ
Từ trạm bơm
cấp I tới

bơm
Bể trộn
Chất khử trùng
Chất kiềm hóa
Bê’ chứa
nước sạch
III. Sơ đổ công nghê đươc lưa chon i
IV. Giới thiêu các công trình đơn vi trong sơ đồ công nghê:
1. Công trình thu nước:
% Công trình thu nước mặt:
Chọn vị trí đặt công trình thu nước và trạm bơm nước thô cần phải đảm
bảo các yêu cầu sau đây:
Ớ đầu nguồn nước so với khu dân cư và khu vực sản xuất.
Bờ sông và lòng sông ổn định, không lở (hoặc sụt lở rất ít) và đặc biệt là
không bị bồi.
Thu được lượng nước có chất lượng tốt và đủ lưu lượng cho hiện tại và
cho quy hoạch phát triển tương lai, thuận tiện cho việc tổ chức bảo vệ vệ
sinh nguồn nước.
Gần nơi cung cấp điện.
Ta có các loại trạm bơm và công trình thu như sau:
Công trình thu và trạm bơm kết hợp đặt trong lòng sông, lòng hồ.
Công trình thu đặt ở lòng sông, trạm bơm đặt trên bờ.
Công trình thu đặt ở lòng sông, ngăn lắng cát và buồng thu đặt trên bờ,
trạm bơm tách riêng.
Công trình thu, trạm bơm hợp khôi đặt sát bờ.
2. Bể keo tu- tao bông:
Trong nước sông suôi, ao hổ thường chứa các hạt cặn có nguồn gốc thành
phần và kích thưđc rất khác nhau. Đôi với các loại cặn này dùng biện pháp xử
lý cơ học trong công nghệ xử lý nước như lắng lọc có thể loại bỏ được các cặn có
kích thưđc lớn hơn 10 nirn. Còn các hạt có kích thước nhỏ hơn 10 rum không

thành quá trình làm trong nước. Trong công nghệ xử lý nước, quá trình lắng xảy ra
rất phức tạp. Chủ yếu lắng ở trạng thái động (trong quá trình lắng, nước luôn
chuyển động), các hạt cặn không tan trong nước là những tập hợp hạt không đồng
nhất (kích thước, hình dạng, trọng lượng riêng khác nhau) và không ổn định (luôn
thay đổi hình dạng, kích thước trong quá trình lắng do dùng chất keo tụ).
Theo phương chuyển động của dòng nước qua bể, người ta chia ra thành các
loại bể lắng
Bổ lắng ngang: nưđc chuyển động theo chiều ngang từ đầu bể đến cuối bể.
Bể lắng đứng: nước chuyển động theo chiều đứng từ dưới lên trên.
Bể lắng ly tâm: nước chuyển động từ trung tâm bể ra phái ngoài.
Bể lắng lớp mỏng: gồm 3 kiểu tùy theo hướng chuyển động của lđp nước và
cặn: dòng chảy ngang, dòng chảy nghiêng cùng chiều và dòng chảy nghiêng
ngược chiều.
Bổ lắng trong có lớp cặn lơ lửng: lắng qua môi trường hạt, nước chuyển
động từ dứơi lên.
4. Bểjọc:
Quá trình lọc nước là cho nước đi qua lớp vật liệu lọc với một chiều dày nhất
định đủ để giữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớp vật liệu lọc các hạt cặn
và vi trùng có trong nước. Trong dây chuyền xử lý nước ăn uống sinh hoạt, lọc là
giai đoạn ccuôi cùng để làm trong nước triệt để. Hàm lượng cặn còn lại trong nước
sau khi qua bể lọc phải đạt tiêu chuẩn cho phép (nhỏ hơn hoặc bằng 3 mg/1). Sau
một thời gian làm việc, lớp vật liệu lọc bị khít lại, làm tốc độ lọc giảm dần. Để khôi
phục lại khả năng làm việc của bể lọc, phải thổi rửa bể lọc bằng nước hoặc gió, nước
kết hợp để loại bỏ cặn bẩn ra khỏi lớp vật liệu lọc. Bổ lọc luôn luôn phải hoàn
nguyên. Chính vì vậy quá trình lọc nưđc được đặc trứng bởi hai thông sô" cơ bản là
: tốc độ lọc và chu kỳ lọc.
Tốc độ lọc là lượng nưđc được lọc qua một đơn vị diện tích bề mặt của bể lọc
trong một đơn vị thời gian (m/h).
Chu kỳ lọc là khoản thời gian giữa hai lần
rửa bể lọc T (h).

việc và tính kinh tế của quá trình lọc. Vật liệu lọc hiện nay được dùng phổ biến
nhất là cát thạch anh tự nhiên. Ngoài ra, có thể sử dụng một số loại vật liệu lọc
khác nhau như: cát thạch anh nghiền, đá hoa nghiền, than antraxit (than gầy),
pôlime
5. Bể khứ trừng;
Khử trùng nưđc là khâu bắt buộc cuối cùng trong qúa trình xử lý nứơc ăn uống
sinh hoạt. Trong nước thiên nhiên chứa rất nhiều vi sinh vật và vi trùng. Sau các
quá trình xử lý cơ học nhất là nước sau khi qua bể lọc, phần lớn các vi trùng đã bị
giữ lại. Song để tiêu diệt hoàn toàn các vi trùng gây bệnh cần phải tiến hành khử
trùng nước.
Hiện nay có nhiều biện pháp khử trùng nước có hiệu quả như:
Khử trùng bằng các chất oxy hóa mạnh như Clo và các hợp chất của Clo,
ôzôn, kali permanganat
Khử trùng bằng các tia vật lý.
Khử trùng bằng siêu âm.
Khử trùng bằng phương pháp nhiệt.
Khử trùng bằng các ion kim loại nặng
Hiện nay ở Việt Nam đang sử dụng phổ biến nhất phương pháp khử trùng bằng
các chất oxy hóa mạnh.
6. Bể chứa nứđc sach:
Bể chứa có nhiệm vụ tích trữ nước để phục vụ cho các nhu cầu sau đây:
Nước rửa bể lắng, bể lọc, pha hóa chất, chứa nuóc sinh hoạt cấp cho công
nhân trong nhà máy, rửa các thiết bị của phòng thí nghiệm, rửa đường, tưới
cây trong khuôn viên nhà máy.
Chứa lượng nước dự trữ cứu hỏa nếu cần.
Chứa lượng nươc điều hòa giữa trạm bơm nứơc nguồn và trạm bơm nước
sạch.
Khi nhà máy nước ở gần nơi tiêu thụ, ngoài các yêu cầu trên còn phải kiểm
tra thời gian lưu nước trong bể chứa phải đủ, đáp ứng với thời gian tiếp xúc
cần thiết để khử trùng (khi khử trùng bằng Clo). Như vậy, dung tích bể

=
15
Q

0231

=
0,0693m
2
1 0,5
Vậy kích thước lưới chắn là 0,26m X 0,26m.
Lấy kích thước buồng thu là 3,Om X 3,0 m
*Tram bơm:
Công suất của trạm bơm
N = ĩ
ữH
=
1000x0,0231x20
= w èKW
102/7 102*0,8
Trong đó:
Q : Công suất Q=0,023lrn 7s ;
H : áp lực của bơm, chọn H= 20 m;
Ỵ: Khối lượng thể tích cửa nước, ỵ=1000 kg/rn;
TỊ: hiệu suất của bơm, lấy ỉ]=80%.
Trong ngăn thu bô trí hai bơm cùng công suât
6 kW, một bơm hoạt động còn một bơm kia để dự
phòng, hai bơm này được mắc song song với
nhau.
II. CẮC CỔNG TRÌNH CHUAN BI DUNG DICH PHÈN.

201-400 35-45
401-600 45-50
601-800 50-60
801 -1000 60-70
1001 -1400 70-80
ịBảng 6.3. Liều lượng phèn để xử lý nước, TCXDVN 33 : 2006) ứng vđi hàm lượng cặn
nước nguồn 920mg/l, chọn lượng phèn p=80 mg/1;
GVHD : Dương Thị Thành
SVTH : Nguyễn Hữu Vân Thảo - MSSV: 904T1756
Thiết kế công nghệ xử lý nước cấp phục vụ cho sinh hoạt, công suất 2.000m
3
/ngày
Nước nguồn không có độ màu;
Dung tích bể hoà trộn phèn tính theo công thức:
Qn
-\ữữữ _ Q
(wi)
—./.1000
100
Trong đó :
Q:Lưu lượng nước xử lý (rn/h). Q= 83,3 tn/h;
n: Thời gian giữa hai lần hoà tan phèn, lấy lĩ = 12 giờ (công suất từ 1.200 - lO.OOOmVngđ- Điều
6.19- TCXDVN 33 : 2006);
P
p
: Liều lượng lượng phèn dự tính cho vào nước (g/m
3
). Pp = 80mg/l = 80g/m
3
;

Diện tích mỗi cánh quạt thiết kế là 0,15 m
2
cánh quạơl m
3
phèn trong bể.
fcq = 0,15xWh = 0,15 X 0,8 = 0,12 m
2
Chiều rộng mỗi cánh quạt là:
_ 1 /„ _ 0,12 b
ca
= m =
——— = 0,13 m
c<?
2 l
cq
2x0,45
Năng lượng khuấy trộn cần thiết:
w
k
P=k.p.n\Dl (W)
Trong đó:
k: hệ sô'sức cản của nước, phụ thuộc kiểu cánh khuấy, k = 1,08 với cánh khuấy kiểu phẳng hai
cánh;
p: Khối lượng riêng của dung dịch, p = 1000 kg/m
3
;
n: sô' vòng quay trong 1 giây, n = 60 vòng /p = lvòng/s;
Dkh: Đường kính cánh khuấy, Dkh = 0,9 m.
P = k.p.n\D\
h

b
t
: Nồng độ dung dịch phèn trong thùng tiêu thụ (%). (Theo điều 6.20 - TCXDVN -
33 - 2006 nồng độ phèn trong bể tiêu thụ lấy bằng 4 -T 10% tính theo sản phẩm không ngậm
nước). Chọn bt = 8%;
b
h
: Nồng độ dung dịch phèn trong thùng hoà trộn (%)Chọn bh = 10%;
Chọn hai bể tiêu thụ đặt trong trạm, một bể làm việc còn một bể chuẩn bị dung dịch dự trữ; Kích thứơc
mỗi bể : a X b X h = 1,0m X 1,0m X 1,0m = 1 m
3
;
Lấy chiều cao an toàn cho bể tiêu thụ phèn là 0,3 m. (Theo tiêu chuẩn chọn chiều cao an toàn nằm trong
khoảng 0,3 -T 0,5 m).
Dung dịch phèn 7% ở bể tiêu thụ được định lượng đều vđi lưu lượng không đổi bằng bơm định lượng để
đưa vào bể trộn cơ khí phía sau
Tính toán thiết bi khuấy trong bể tiêu thụ phèn
Chọn sô" vòng quay cánh quạt là 60 vòng/phút (Quy phạm > 30 vòng/phút). Chiều dài cánh quạt lấy bằng
0,45 bề ngang bể (Quy phạm = 0,4 -T 0,45b).
lcq = 0,45.b = 0,45.1 =0,45 m.
Vậy chiều dài toàn phần của cánh quạt là : 0,45.2 = 0,9 m
Diện tích mỗi cánh quạt thiết kế là 0,15 m
2
cánh quạt/1 m
3
phèn trong bể.
GVHD : Dương Thị Thành 25
SVTH : Nguyễn Hữu Vân Thảo - MSSV: 904T1756
fcq = 0,15.w
t

Kiểm tra sô Reynold:
D n.p 0. 9
2
x 60/ 60x 1000
N = =

= 910A 12 >> 10000
jU 0, 89. 10“
3
Đạt chế độ chảy rô"i
Công suất động cơ:
N = — = — =
800 w 17
0,8
3. THIẾT BI PHA CHẾ VỐI:
Vôi được dùng để kiềm hoá nươc, làm mềm nước hoặc để ổn định nước. Vôi cho vào nước có
thể ở dạng vôi sữa hay vôi bão hoà.
Trước tiên vôi sông phải được đem tôi. Bể tôi vôi thường có dung tích đủ cho 30 4- 40 ngày tiêu
thụ của nhà máy và được chia làm nhiều ngăn để tiện việc lau rữa. Có thể dùng xẻng hoạc gàu ngạm xúc
vôi sang bể pha trộn
Công thức xác định liều lượng chất kiềm hoá
r
p
A
—-K
t
+1
PK
Trong đó:
Pk : Hàm lượng chất kiềm hocí ịmg/l);


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status