tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải trường cao đẳng nghề đồng an, công suất 1000m3ngày - Pdf 14

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Kèm link bản vẽ
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỒ ÁN
Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An được thành lập theo quyết định số
615/QĐ – BLĐTBXH ngày 7/5/2008 bộ lao động – thương binh xã hội, nhằm
cung cấp nguồn nhân lực có tay nghề cho các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và
thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên từ khi thành lập tới nay, trường chưa có trạm
xử lý nước thải sinh hoạt. Nước thải từ sinh hoạt hàng ngày của học sinh, giáo
viên trong trường, sau khi chảy qua hầm tự hoại thì được xả thẳng ra ngoài. Vì
vậy, việc xây dựng một hệ thống xử lý nước thải nhằm bảo vệ môi trường và
đảm bảo chỉ tiêu chất lượng xả thải là rất cần thiết.
Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An hiện có 3800 học sinh theo học các
ngành nghề khác nhau, có 80 giáo viên, 59 các cán bộ phục vụ ở các bộ phận
khác nhau. Ký túc xá của trường có sức chứa 2800 chổ ở, hiện đã được lấp đày.
Ngoài ra, nhà ở cho giáo viên trường đang có kế hoạch xây thêm giảng đường,
ký túc xá thêm 1000 chỗ ở, nhà ở giáo viên lên 100 chổ ở, nhằm nâng cao nhu
cầu tuyển sinh. Vì vậy, lượng nước thải ra môi trường hàng ngày là rất lớn.
Lượng nước thải hàng ngày của ký túc xá, nhà ở giáo viên
Q
1
= N x q = (3800 + 80) x 200 = 776000 lit = 776m
3
/ngày
Trong đó:
o Q: lưu lượng nước thải hàng ngày
o N: Số người lưu trú trong trường
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 1
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Khi trạm xử lý nước thải đi vào hoạt động ổn định, sẽ góp phần bảo vệ
sức khỏe cộng đồng, góp phần làm sạch môi trường nước tại nguồn thải của
trường.
Chính vì lý do đó, em đã chọn và tiến hành thực hiện đề tài " Tính toán
thiết kế trạm xử lý nước thải Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An – Tỉnh Bình
Dương, công suất 1000m
3
/ngày đêm" để thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đồ án được thực hiện với mục đích nghiên cứu đặc trưng nước thải của
trường Cao Đẳng Nghề Đồng An. Từ đó, đưa ra được công nghệ xử lý nước thải
sinh hoạt hiệu quả, phù hợp với những điều kiện sẵn có của trường.
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 2
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đồ án được thực hiện với những nội dung chính sau:
• Giới thiệu sơ bộ về trường Cao Đẳng Nghề Đồng An, tìm hiểu về lưu lượng,
thành phần, tính chất nước thải sinh hoạt của trường học.
• Tham khảo các phương pháp, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt để đề ra công
nghệ xử lý nước thải phù hợp với điều kiện trường học.
• Tính toán các công trình trong công nghệ xử lý nước thải đã đề xuất.
• Tính toán kinh tế cho phương án xử lý nước thải đã đề xuất.
• Thực hiện các bản vẽ của hệ thống xử lý nước thải bao gồm:
- Sơ đồ công nghệ.
- Mặt bằng tổng thể hệ thống xử lý.
- Mặt bằng đường ống hệ thống xử lý.
- Bản vẽ chi tiết các công trình đơn vị trong hệ thống xử lý nước thải
của Trường Cao Đẳng Nghề Đồng An.
Hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt – công suất 1000 m

CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
2.1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT.
2.1.1 Thành phần chính của nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con
người. Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường học,
nhà ăn,… cũng tạo ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự như
nước thải sinh hoạt.
Nước thải là hệ đa phân tán thô bao gồm nước và các chất bẩn. Các cặn
bẩn trong nước thải sinh hoạt có nguồn gốc từ các hoạt động của con người. Các
chất bẩn này với thành phần hữu cơ và vô cơ, tồn tại dưới dạng cặn lắng, các
chất rắn không lắng được và các chất hòa tan. Thành phần tính chất của nước
thải được xác định bằng phân tích hóa lý, vi sinh.
2.1.1.1 Thành phần vật lý
Theo trạng thái vật lý, các chất bẩn trong nước thải được chia thành:
- Các chất không hòa tan ở dạng lơ lửng, kích thước lớn hơn 10
-4
mm, có
thể ở dạng huyền phù, nhũ tương hoặc dạng sợi, giấy, vải.
- Các tạp chất bẩn dạng keo với kích thước hạt trong khoảng 10
-4
-10
-
6
mm.
- Các chất bẩn dạng hào tan có kích thước nhỏ hơn 10
-6
mm, có thể ở
dạng phân tử hoặc phân li thành ion.
- Nước thải sinh hoạt của Công ty CP SX-DV-TM-XD Thành Tài Long
An bao gồm nước từ căn tin nhà bếp nấu ăn, nhà vệ sinh thường có

hữu cơ, vi sinh vật như đã nói trên thì quá trình xử lí còn phụ thuộc rất nhiều
trạng thái hóa lí của các chất đó và trạng thái này được xác định bằng độ phân
tán của các hạt. Theo đó, các chất chứa trong nước thải được chia thành 4 nhóm
phụ thuộc vào kích thước hạt của chúng.
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 6
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Nhóm 1: Gồm các tạp chất phân tán thô, không tan ở dạng lơ lửng, nhũ
tương, bọt. Kích thước hạt của nhóm 1 nằm trong khoảng 10
-1
-10
-4
mm. Chúng
cũng có thể là chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật và hợp cùng với nước thải thành hệ
dị thể không bền và trong điều kiện xác định, chúng có thể lắng xuống dưới
dạng cặn lắng hoặc nổi lên trên mặt nước hoặc tồn tại ở trạng thái lơ lửng trong
khoảng thời gian nào đó. Do đó, các chất chứa trong nhóm này có thể dễ dàng
tách ra khỏi nước thải bằng phương pháp trọng lực.
Nhóm 2: Gồm các chất phân tán dạng keo với kích thước hạt của nhóm
này nằm trong khoảng 10
-4
-10
-6
mm. Chúng gồm 2 loại keo: keo ưa nước và keo
kị nước.
- Keo ưa nước được đặc trưng bằng khả năng liên kết giữa các hạt phân tán
với nước. Chúng thường là những chất hữu cơ có trọng lượng phân tử lớn:
hydratcacbon (xenlulo, tinh bột), protit (anbumin, hemoglobin).
- Keo kị nước (đất sét, hydroxyt sắt, nhôm, silic) không có khả năng liên
kết như keo ưa nước.

CP SX-DV-TM-XD Thành Tài Long An được xác định dựa vào lượng người lao
động trong Công ty và tiêu chuẩn thải nước.
Nồng độ bẩn của nước thải sinh hoạt được xác định theo tải lượng chất
bẩn tính cho một người trong ngày đêm, tham khảo ở bảng 1. Đặc tính của bùn
tự hoại trong nước thải sinh hoạt ở bể tự hoại có thể tham khảo ở bảng 2.
Bảng 2.1 - Tải lượng chất bẩn tính cho một người trong ngày đêm
Chỉ tiêu
Tải lượng chất bẩn (g/người.ngày đêm)
Các Quốc gia đang
phát triển gần gũi
với Việt Nam.
Theo Tiêu chuẩn
TCXD – 51-84 của
Việt Nam
Chất rắn lơ lửng (SS)
BOD
5
COD (Bicromate)
Nitơ Amonia (N-NH
4
+
)
70
÷
145
45
÷
54
72
÷

1,7
2,0
÷
2,5
-
(Nguồn: Tiêu chuẩn Xây Dựng TCXD - 51- 84).
Bảng 2.2- Đặc tính của bùn tự hoại trong nước thải sinh hoạt
Chỉ tiêu
Tải trọng chất bẩn (g/người.ngày đêm)
Các Quốc gia đang
phát triển gần gũi
với Việt Nam.
Theo Tiêu chuẩn
TCXD – 51-84 của
Việt Nam
Chất rắn tổng cộng
Chất rắn lơ lửng
Chất rắn lơ lửng bay hơi
NOS
5
(BOD
5
)
NOD (COD)
Nitơ tổng cộng (Kjedhal)
N-NH
3
Tổng Photpho (P)
Kim loại nặng (Fe, Zn, Al)
5.000

250
300
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 9
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
100
÷
1.000
( Nguồn: trang 10, Xử lý nước thải đô thị và công nghiệp, Lâm Minh Triết)

2.1.3 Tác hại đến môi trường
Tác hại đến môi trường của nước thải do các thành phần ô nhiễm tồn tại
trong nước thải gây ra.
- COD, BOD: sự khoáng hoá, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn
và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh
thái môi trường nước. Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể
hình thành. Trong quá trình phân huỷ yếm khí sinh ra các sản phẩm như
H
2
S, NH
3
, CH
4
, làm cho nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi
trường.
- SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí.
- Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến
đời sống của thuỷ sinh vật nước.
- Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu
chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da…

nhẹ sẽ nổi lên bề mặt. Cặn lắng và bọt nổi nhờ các thiết bị cơ học thu gom và
vận chuyển lên công trình xử lý cặn.
2.2.1.4 Bể vớt dầu mỡ.
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 11
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Bể vớt dầu mỡ thường áp dụng khi xử lý nước thải có chứa dầu mỡ (nước
thải công nghiệp). Đối với nước thải sinh hoạt khi hàm lượng dầu mỡ không cao
thì việc vớt dầu mỡ thường thực hiện ngay ở bể lắng nhờ thiết bị gạt nổi.
2.2.1.5 Bể lọc.
Bể lọc có tác dụng tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng
cách cho nước thải đi qua lớp vật liệu lọc, công trình này sử dụng chủ yếu cho 1
số loại nước thải công nghiệp.
Phương pháp xử lý nước thải bằng cơ học có thể loại bỏ khỏi nước thải
được 60% các tạp chất không hòa tan và 20% BOD.
Hiệu quả xử lý có thể đạt tới 75% theo hàm lượng chất lơ lửng và 30-35%
theo BOD bằng các biện pháp làm thoáng sơ bộ hoặc đông tụ sinh học.
Nếu điều kiện vệ sinh cho phép, thì sau khi xử lý cơ học nước thải được
khử trùng và xả vào nguồn, nhưng thường thì xử lý cơ học chỉ là giai đoạn xử lý
sơ bộ trước khi cho qua xử lý sinh học.
2.2.2 Phương pháp xử lý sinh học.
Thực chất của phương pháp này là dựa vào khả năng sống và hoạt động
của các vi sinh để phân hủy – oxy hóa các chất hữu cơ ở dạng keo và hoà tan có
trong nước thải.
Những công trình xử lý sinh học được phân thành 2 nhóm:
 Những công trình trong đó quá trình xử lý thực hiện trong điều kiện tự
nhiên: cánh đồng tưới, bãi lọc, hồ sinh học… thường quá trình xử lý diễn
ra chậm.
 Những công trình trong đó quá trình xử lý thực hiện trong điều kiện nhân
tạo: bể lọc sinh học (bể Biophin), bể làm thoáng sinh học (bể aerotank),…

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 13
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
- Hồ xử lý triệt để (bậc 3).
- Hồ hiếu khí.
- Hồ tùy tiện.
Quá trình xử lý sinh học có thể đạt được hiệu suất khử trùng 99,9% (trong
các công trình trong điều kiện tự nhiên), theo BOD tới 90 – 95%.
Thông thường giai đoạn xử lý sinh học tiến hành sau giai đoạn xử lý cơ
học. Bể lắng đặt sau giai đoạn xử lý cơ học gọi là bể lắng I. Bể lắng dùng để
tách màng sinh học (đặt sau bể bophin) hoặc tách bùn hoạt tính (đặt sau bể
aerotank) gọi là bể lắng II.
Trong trường hợp xử lý sinh học nước thải bằng bùn hoạt tính thường đưa
một phần bùn hoạt tính quay trở lại (bùn tuần hoàn) để tạo điều kiện cho quá
trình sinh học hiệu quả. Phần bùn còn lại gọi là bùn dư, thường đưa tới bể nén
bùn để làm giảm thể tích trước khi đưa tới các công trình xử lý cặn bằng phương
pháp sinh học.
Quá trình xử lý trong điều kiện nhân tạo không loại trừ triệt để các loại vi
khuẩn, nhất là vi trùng gây bệnh và truyền nhiễm. Bởi vậy, sau giai đoạn xử lý
sinh học trong điều kiện nhân tạo cần thực hiện khử trùng nước thải trước khi xả
vào môi trường.
Trong quá trình xử lý nước thải bằng bất kỳ phương pháp nào cũng tạo
nên một lượng cặn bã đáng kể (=0.5 – 1% tổng lượng nước thải). Nói chung các
loại cặn giữ lại ở trên các công trình xử lý nước thải đều có mùi hôi thối rất khó
chịu (nhất là cặn tươi từ bể lắng I) và nguy hiểm về mặt vệ sinh.
Để giảm hàm lượng chất hữu cơ trong cặn và để đạt các chỉ tiêu vệ sinh
thường sử dụng phương pháp xử lý sinh học kỵ khí trong các hố bùn ( đối với
các trạm xử lý nhỏ), sân phơi bùn, thiết bị sấy khô bằng cơ học, lọc chân không,
lọc ép…( đối với trạm xử lý công suất vừa và lớn). Khi lượng cặn khá lớn có thể
sử dụng thiết bị sấy nhiệt.

Mục đích nhằm bảo đảm nước thải trước khi xả vào nguồn tiếp nhận
không còn vi trùng, virus gây bệnh và truyền bệnh, khử màu, khử mùi và giảm
BOD của nguồn tiếp nhận. Công đoạn khử trùng có thể thực hiện sau công đoạn
xử lý sơ bộ (nếu yêu cầu vệ sinh cho phép) nhưng thông thường là sau xử lý thứ
cấp.
Khử trùng: dùng clo, ozon, tiz cực tím.
2.2.6 Xử lý cặn
Cặn lắng ở sau các công đoạn xử lý sơ bộ và xử lý thứ cấp còn chứa nhiều
nước (thường có độ ẩm 99%) và chứa nhiều cặn hữu cơ còn khả năng thối rửa vì
thế cần áp dụng 1 số biện pháp để xử lý tiếp cặn lắng, làm cho cặn ổn định và
loại bớt nước để giảm thể tích, trọng lượng trước khi đưa vào nguồn tiếp nhận
hoặc sử dụng.
Các phương pháp: cô đặc cặn hay nén cặn, ổn định cặn, sân phơi bùn, làm
khô bằng cơ học (thiết bị lọc chân không, máy nén ly tâm, máy lọc ép trên băng
tải,…), đốt cặn trong lò thiêu.
2.2.7 Xử lý bậc III.
Thường được tiến hành tiếp sau công đoạn xử lý thứ cấp nhằm nâng cao
chất lượng nước thải đã được xử lý để dùng lại hoặc xả vào nguồn tiếp nhận với
yêu cầu vệ sinh cao.
Các công trình, thiết bị: lọc cát, lọc nổi, lọc qua màng để lọc trong nước,
lọc qua than hoạt tính để ổn định chất lượng nước, xử lý hoá chất để ổn định
chất lượng nước, dùng hồ sinh học để xử lý thêm…
2.3 CÁC CÔNG TRÌNH XỬ LÝ SINH HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG CHO
NƯỚC THẢI SINH HOẠT.
2.3.1 Công trình xử lý sinh học kỵ khí.
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 16
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Quá trình xử lý dựa trên cơ sở phân huỷ các chất hữu cơ giữ lại trong
công trình nhờ sự lên men kỵ khí. Đối với các công trình qui mô nhỏ và vừa

với đường kính tối thiểu là 100mm với một đầu ống đặt dưới lớp màng nổi, đầu
kia được nhô lên phía trên để tiện việc kiểm tra, tẩy rửa và không cho lớp cặn
nổi trong bể chảy ra đường cống. Cặn trong bể tự hoại được lấy theo định kỳ.
Mỗi lần lấy phải để lại khoảng 20% lượng cặn đã lên men lại trong bể để làm
giống men cho bùn cặn tươi mới lắng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân
huỷ cặn.
2.3.2 Công trình xử lý sinh học hiếu khí.
Quá trình xử lý nước thải dựa trên sự oxy hoá các chất hữu cơ có trong
nước thải nhờ oxy tự do hoà tan. Các công trình xử lý sinh học hiếu khí trong
điều kiện tự nhiên thường được tiến hành trong hồ (hồ hiếu khí, hồ kỵ khí) hoặc
trong đất ngập nước. Tuy nhiên, các công trình này cần có diện tích mặt bằng
lớn nên thường không được áp dụng trong các trạm xử lý có mặt bằng giới hạn.
Để khắc phục tình trạng thiếu mặt bằng thì có các công trình xử lý sinh học hiếu
khí nhân tạo được dựa trên nguyên tắc hoạt động của bùn hoạt tính hoặc quá
trình màng sinh vật. Các công trình thường dùng: bể aerotank, bể SBR, bể
Unitank, bể sinh học hiếu khí có giá thể vi sinh động hoặc cố định, kênh oxy
hoá, bể lọc sinh học, đĩa lọc sinh học…
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 18
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
2.3.2.1 Bể aerotank.
Bể aerotank là loại bể sử dụng phương pháp bùn hoạt tính.
Nước thải sau khi xử lý sơ bộ còn chứa phần lớn các chất hữu cơ ở dạng
hoà tan cùng các chất lơ lửng đi vào aerotank. Các chất lơ lửng này là một số
chất rắn và có thể là các hợp chất hữu cơ chưa phải là dạng hoà tan. Các chất lơ
lửng làm nơi vi khuẩn bám vào để cư trú, sinh sản và phát triển dần thành các
hạt cặn bông. Các hạt này dần to và lơ lửng trong nước. Chính vì vậy, xử lí nước
thải ở aerotank được gọi là quá trình xử lý với sinh trưởng lơ lửng của quần thể
vi sinh vật. Các bông cặn này cũng chính là bông bùn hoạt tính. Bùn hoạt tính là
các bông cặn màu nâu sẫm, chứa các hợp chất hữu cơ hấp phụ từ nước thải và là

Unitank dưa trên một loạt các nguyên tắc và quy luật riêng, khác với các hệ
thống xử lý nước thải bùn hoạt tính truyền thống.
Về cấu trúc, Unitank là là một khối bể hình chữ nhật được chia làm 3
khoang thông nhau qua bức tường chung. Hai khoang ngoài có thêm hệ thống
máng răng cưa nhằm thực hiện hai chức năng vừa là bể sục khí để vi sinh vật
oxy hoá các chất hữu cơ gây bẩn vừa là bể lắng II tách bùn ra khỏi nước đã xử
lý. Hệ thống đường ống đưa nước thải vào Unitank được thiết kế để đưa nước
thải vào từng khoang tuỳ theo từng pha. Nước thải sau xử lý theo máng răng cưa
ra ngoài bể chứa nước sạch, bùn sinh học dư cũng được đưa ra khỏi hệ thống
Unitank từ hai khoang ngoài. Cũng giống như các hệ thống xử lý sinh học khác,
Unitank xử lý nước thải với dòng vào và dòng ra liên tục theo chu kỳ, mỗi chu
kì gồm hai pha chính và hai pha phụ. Thời gian của pha chính là ba giờ và thời
gian của pha phụ là một giờ (có thể điều chỉnh được). Thời gian của pha chính
và pha phụ được tính toán và chương trình hoá dựa vào lưu lượng, tính chất
nước thải đầu vào và tiêu chuẩn chất lượng nước thải xử lí đầu ra.
Toàn bộ hệ thống Unitank được điều khiển tự động bởi bộ PLC đã được
máy tính lập trình sẵn theo tính chất đặc trưng của nước thải và theo số liệu thực
nghiệm.
2.3.2.3 Bể Aerotank hoạt động gián đoạn theo mẻ (SBR).
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 20
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Bể Aerotank hoạt động gián đoạn theo mẻ là một dạng công trình xử lý
sinh học nước thải bằng bùn hoạt tính. Trong đó tuần tự diễn ra các quá trình
thổi khí, lắng bùn và gạn nước thải. Do hoạt động gián đoạn nên số ngăn tối
thiểu là hai để có thể xử lý liên tục.
Trong bể quá trình thổi khí và quá trình lắng được thực hiện trong cùng
một bể phản ứng do đó có thể bỏ qua bể lắng II. Quá trình hoạt động diễn ra
trong một ngăn và gồm 5 giai đoạn:
 Pha làm đầy : Có thể vận hành với 3 chế độ làm đầy tĩnh, làm đầy hoà

 Bể làm việc không cần lắng II. Trong nhiều trường hợp, có thể bỏ qua
bể điều hoà và bể lắng I. Đây là một ưu điểm lớn của bể aerotank hoạt
động gián đoạn trong điều kiện đất đai bị giới hạn trong thành phố do
tiết kiệm được công trình.
* Nhược điểm chính của bể: là công suất xử lí nhỏ và để bể hoạt động có hiệu
quả thì người vận hành phải có trình độ và theo dõi thường xuyên các bước xử
lý nước thải.
Hình 2.2: Sơ đồ nguyên lý hoạt động của bể SBR
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 22
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
2.3.2.4 Bể lọc sinh học hiếu khí.
Bể lọc sinh học hiếu khí hoạt động dựa vào sự sinh trưởng bám dính của vi
sinh vật.
Bể lọc sinh học (hay còn gọi là biophin) thường phân biệt làm hai loại: bể
biophin với lớp vật liệu lọc không ngập nước (bể biophin nhỏ giọt, bể biophin
cao tải) và bể biophin với lớp vật liệu lọc ngập trong nước.
a. Bể biophin nhỏ giọt.
Bể biophin nhỏ giọt dùng để xử lý sinh học nước thải hoàn toàn với hàm
lượng nước sau khi xử lý đạt tới 15mg/l (hiệu suất xử lý có thể là 90% và có thể
còn cao hơn nữa).
Trong bể lọc, chất các lớp vật liệu có độ rỗng và diện tích mặt tiếp xúc
trong một đơn vị thể tích lớn nhất trong điều kiện có thể. Nước thải được hệ
thống phân phối phun thành giọt đều khắp trên bề mặt lớp vật liệu. Nước sau
khi chạm lớp vật liệu chia thành các hạt nhỏ chảy thành màng mỏng qua khe lớp
vật liệu đi xuống dưới. Trong thời gian chảy như vậy nước thải tiếp xúc với
màng nhầy gelatin do vi sinh vật tiết ra bám quanh vật liệu lọc. Sau một thời
gian màng nhầy gelatin tăng lên ngăn cản oxy của không khí không vào trong
lớp màng nhầy được. Do không có oxy, tại lớp trong của màng nhầy sát với bề
mặt cứng của vật liệu lọc, vi khuẩn yếm khí phát triển tạo ra sản phẩm phân huỷ

/ngày.
b. Bể biophin với lớp vật liệu lọc ngập nước:
Phạm vi áp dụng của bể là BOD
5
vào không quá 500mg/l và tốc độ lọc
không quá 3m/h.
Trong bể lọc sinh học có lớp vật liệu lọc ngập trong nước, nước thải vào
bể lọc sẽ được trộn đều với không khí cấp từ ngoài vào qua dàn ống phân phối.
Hỗn hợp khí-nước thải đi cùng chiều từ dưới lên qua lớp vật liệu lọc. Trong lớp
vật liệu lọc xảy ra quá trình khử BOD
5
, và chuyển hoá NH
4
+
thành NO
3
-
, lớp vật
liệu lọc có khả năng giữ lại cặn lơ lửng. Khi tổn thất trong lớp vật liệu lọc đến
0,5m thì xả bể lọc. Nước xả rửa lọc được dẫn về bể lắng kết hợp đông tụ sinh
học để tạo điều kiện thuận lợi cho lọc sinh học này.
Bể lọc sinh học dùng vật liệu nổi có khả năng giữ được trong khe rỗng
các vẫy tróc của màng vi sinh vật bám quanh hạt, nên mặc dù cường độ thổi gió
GVHD: TS. Nguyễn Xuân Trường 24
SVTH: Nguyễn Cao Trí
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
lớn nhưng hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải ở đầu ra không vượt quá
20mg/l. Do đó có thể không cần bể lắng đợt II, chỉ cần đưa đến bể khử trùng.
Hình 2.3: Bể biophin với lớp vật liệu lọc ngập nước.
2.3.2.5 Bể sinh học hiếu khí với giá thể tiếp xúc cố định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status