Hình tượng nhân vật tào tháo và lưu bị trong tác phẩm tam quốc diễn nghĩa của la quán trung - Pdf 22



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ TRANG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TÀO THÁO VÀ LƯU BỊ
TRONG TÁC PHẨM
TAM QUỐC DIỄN NGHĨA
CỦA
LA QUÁN TRUNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2013

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cô giáo, ThS. Hà
Thị Hải. Nhân dịp khóa luận này được hoàn thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất tới cô, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Em xin gửi lời cảm ơn tới tổ Lí luận - Văn học nước ngoài, tập thể các
thầy, cô khoa Ngữ văn, thư viện và phòng Đào tạo trường Đại học Tây Bắc,
cùng cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp K50ĐHSP Ngữ văn đã tạo điều kiện giúp
em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5, năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thị Trang

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
5. Đóng góp của khóa luận 6
6. Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1. Tác giả La Quán Trung 7

KẾT LUẬN 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tam quốc diễn nghĩa là một kiệt tác của nền văn học Trung Quốc. Sự
ra đời của Tam quốc diễn nghĩa đánh dấu bước phát triển vượt bậc của tiểu
thuyết cổ điển Trung Quốc. Tác phẩm xứng đáng là “lá cờ đầu của tiểu thuyết
lịch sử” [24, 23] Trung Hoa. Tam quốc diễn nghĩa miêu tả hơn bốn trăm nhân
vật, mỗi người một vẻ, vô cùng sinh động và hấp dẫn, trong số đó Tào Tháo và
Lưu Bị là hai trong số những nhân vật được La Quán Trung chú tâm xây dựng.
Tào Tháo là người đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Ngụy, Lưu Bị là
người đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Thục, còn Tôn Quyền là người
đứng đầu của tập đoàn phong kiến cát cứ Ngô. Ba nước Ngụy, Thục, Ngô hình
thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp khởi nghĩa nông dân và trong cuộc
hỗn chiến giữa các chư hầu với nhau. Bởi vậy việc chọn đề tài này giúp tôi hiểu
được hiện thực xã hội phong kiến Trung Quốc và tài năng nghệ thuật của La
Quán Trung đồng thời qua đó thấy được vị trí của Tam quốc diễn nghĩa trong
lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc.
1.2. Tam quốc diễn nghĩa được rất nhiều độc giả yêu mến và tác phẩm đã
được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng trên thế giới như: Anh, Pháp, Nga, Đức, Ý,
Hy Lạp, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam… Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim
truyện và được công chiếu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài sự thu hút về nội
dung mới mẻ, hấp dẫn, độc giả cũng không thể quên được hình tượng hai nhân vật
Tào Tháo và Lưu Bị. Đây là hai nhân vật để lại cho tôi cũng như độc giả rất nhiều
tình cảm, không chỉ tài năng quân sự mà còn ở tính cách phức hợp mang chất thực

không đến nỗi lâm nạn. Huyền Đức làm việc nhân đạo nên mang lụy chứ không
phải Khổng Minh thấp mưu trí đâu” [5, 134]. Mặc dù không bàn nhiều về nghệ
thuật xây dựng nhân vật, song cần khẳng định năng lực cảm thụ văn chương
tuyệt vời của tác giả họ Mao. Ông đã đề cập đến những dòng mạch, hệ thống
nhân vật, những phạm trù đối lập như động - tĩnh, hư - thực… nhằm làm cho
độc giả thấy được tài năng sáng tạo, tổ chức nghệ thuật của La Quán Trung.
Trong cuốn Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, tác giả Phạm Ninh chủ
yếu quan tâm đến nguồn gốc lịch sử, nội dung tư tưởng, giá trị hiện thực của tác
phẩm Tam quốc diễn nghĩa và sở trường khắc họa nhân vật trong đấu tranh…
mà ít quan tâm đến tính cách nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị cũng như nghệ thuật
xây dựng hai nhân vật này. Phạm Ninh cho rằng: “Tam quốc chí diễn nghĩa sở
trường khắc họa nhân vật trong mâu thuẫn đấu tranh, sáng tạo ra những hình
tượng nghệ thuật sống động như thật: Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Quan Vũ,
Trương Phi…” [13, 102].
Các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc trong cuốn Lịch sử văn học
Trung Quốc, tập 2, do Lê Huy Tiêu (dịch) đã đánh giá tổng quan giá trị tiêu biểu
về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa: “Bộ tiểu thuyết này
có hơn bốn trăm nhân vật, trong đó những nhân vật chính đều là những điển
hình bất hủ có cá tính hết sức sinh động và rất sắc nét. Cùng là đứng đầu đám
anh hùng, mà tư tưởng tính cách ba nhân vật Tôn Quyền, Lưu Bị và Tào Tháo
mỗi người có đặc điểm riêng. Còn mưu sĩ như Gia Cát Lượng, Tuân Húc, Lỗ 3
Túc, chiến tướng như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung, Hạ Hầu
Đôn, Trương Liêu, Chu Du, Lục Tốn… thì không ai không có cá tính riêng của
mình” [26, 388]. Các tác giả này cũng đánh giá khái quát về hình tượng Tào
Tháo: “Hình tượng Tào Tháo hết sức điển hình và phổ biến trong giai cấp thống
trị phong kiến. Qua hình tượng nhân vật này, mọi người có thể thấy rõ lòng
tham và tham vọng quyền thế đã quyết định mối quan hệ vua tôi, anh em, chồng
4
Lương Duy Thứ trong cuốn Để hiểu tám bộ tiểu thuyết cổ Trung Quốc có
đưa ra thi pháp tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Ông đưa ra những nhận định về
nhân vật và hệ thống nhân vật của tiểu thuyết cổ điển: Bút pháp nắm bắt cái thần,
cách miêu tả khoa trương, ước lệ… song chưa phân tích cụ thể biện pháp đó trong
Tam quốc, chủ yếu ông quan tâm đến vấn đề Tam quốc là lá cờ đầu của tiểu thuyết
lịch sử Trung Quốc, từ đó đi đến phân tích và nêu bật một số nét tính cách của
những nhân vật chính trong tác phẩm. Tác giả này đã có những nhận định hết sức
xác đáng về nhân vật Tào Tháo: “Tào Tháo càng thông minh bao nhiêu thì càng đa
nghi bấy nhiêu, càng cơ trí bao nhiêu càng nham hiểm bấy nhiêu, càng ngoan
cường bao nhiêu càng tàn bạo bấy nhiêu” [24, 28]. Nhân vật Lưu Bị cũng được tác
giả nhận xét như sau: “Lưu Bị trở thành biểu tượng của một ông vua tốt” [24, 30].
Trần Xuân Đề trong cuốn Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc quan tâm chủ
yếu đến nội dung hiện thực và đặc điểm tính cách của các nhân vật chính như:
Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, Khổng Minh… Tác giả này đã đánh
giá về nhân vật Tào Tháo như sau: “Tào Tháo vốn là con người nham hiểm tàn
ác, nhưng có lúc tỏ ra là con người có tài trí đặc biệt, có chí lớn ôm trùm thiên
hạ, có nhãn quan sáng suốt và có tác phong chiêu hiền đãi sĩ” [6, 56]. Tác giả
này cũng có những đánh giá về nhân vật Lưu Bị: “Lưu Bị nhờ có lòng nhân từ
rộng lượng, thương dân yêu lính như thế nên từ hai bàn tay trắng, làm đến Hán
Trung Vương, lên ngôi hoàng đế, chia ba thiên hạ. Nhân tố chủ yếu để Lưu Bị
đoạt được thắng lợi chính là: Nhân hòa” [6, 52]. Nghệ thuật xây dựng hai nhân
vật Tào Tháo và Lưu Bị ít được tác giả này đề cập đến.
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 2, đã
thông qua ngôn ngữ đối thoại, hành động của nhân vật và sự kiện để chỉ ra tính
cách nhân vật trung tâm của tác phẩm như Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh,
Quan Công, Trương Phi; bước đầu khái quát nét cá tính riêng biệt của từng
nhân vật này, qua đó khẳng định phẩm chất anh hùng của từng nhân vật chính

Lưu Bị cũng như nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Khóa luận của chúng tôi
sẽ đi sâu vào những vấn đề đó và tiếp thu có chọn lọc những ý kiến của các thế
hệ đi trước ở tất cả những vấn đề có liên quan.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị trong tác phẩm Tam quốc diễn
nghĩa của La Quán Trung.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự khác nhau giữa hai nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị và một số
biện pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này. Văn bản khảo sát là tiểu thuyết
Tam quốc diễn nghĩa, ba tập, do nhóm dịch giả: Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Lê Huy
Tiêu, Lê Đức Niệm… dịch, NXB Văn hóa thông tin, 2002.
Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến khóa luận cũng được
quan tâm tìm hiểu.
3.3. Mục đích nghiên cứu
Làm nổi bật và khẳng định tài năng sáng tạo nghệ thuật của La Quán
Trung thông qua việc tìm hiểu, phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hai nhân 6
vật Tào Tháo, Lưu Bị và một số biện pháp nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này
trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa.
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ chủ yếu của người nghiên cứu là phân tích, tổng hợp, so sánh, đối
chiếu để làm nổi bật đặc điểm khác nhau của nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị, đồng
thời tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật xây dựng hai nhân vật này của La Quán Trung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát văn bản:
Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại một số dữ liệu cần
thiết, cụ thể để phân tích, chứng minh cho nhận định, đánh giá trong đề tài.

niệm của mình về con người trong cuộc sống. Đồng thời, nhân vật thường hiện
lên trong tác phẩm dưới dạng những tính cách và thông qua một số biện pháp
nghệ thuật tiêu biểu mà tác giả lựa chọn trong quá trình sáng tạo tác phẩm.
Chính vì vậy, trước khi tìm hiểu những điểm khác nhau giữa nhân vật Tào Tháo
và Lưu Bị trong Tam quốc diễn nghĩa chúng ta cần làm sáng tỏ một số vấn đề lí
luận, những khái niệm quan trọng liên quan đến khóa luận như: nhân vật văn
học, nghệ thuật xây dựng nhân vật… Thêm vào đó việc tìm hiểu về tác giả La
Quán Trung và tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, giúp chúng ta hiểu thêm cuộc
đời, sự nghiệp của tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung ý nghĩa và giá trị nghệ
thuật to lớn của tác phẩm cũng như đóng góp của tác giả trong nền văn học
Trung Quốc, giúp cho bạn đọc có cái nhìn sâu, rộng, khách quan và đúng đắn về
tác giả cũng như tác phẩm.
1.1. Tác giả La Quán Trung
La Quán Trung (1330? - 1400?) là nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc,
sống vào giai đoạn cuối Nguyên đầu Minh. Ông tên là La Bản, tự là Quán
Trung, hiệu là Hồ Hải Tản Nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây (cũ) sau
chuyển đến sống ở Tiền Đường thành phố Hàng Châu (Chiết Giang) - một trong
những trung tâm văn hóa thời bấy giờ. Là người học rộng, biết nhiều, trong mỗi
sáng tác của ông người ta đều nhận thấy sự uyên thâm về tri thức và vốn sống
văn hóa của nhiều lĩnh vực. Theo Giả Trọng Minh - bạn của ông cho biết: La
Quán Trung tính tình cô độc, ít hòa hợp với mọi người, đặc biệt những người
thuộc giai cấp thống trị. Vì thời thế nhiễu nhương, nhiều biến loạn nên ông
thường hay ngao du bôn tẩu, phiêu bạt khắp nơi. Chính điều này góp phần tạo
nên chất hiện thực phong phú, sinh động cho mỗi tác phẩm của ông. Đến khi
Minh Thái Tổ thống nhất đất nước Trung Quốc, ông chuyển sang làm công việc
dã sử, Tam quốc chí diễn nghĩa có lẽ được viết vào lúc này. Theo sách của
những người cùng thời ông, La Quán Trung còn là người thiết tha với sự nghiệp
phò vua giúp nước, mưu đồ vương bá nhưng bất đắc chí. Những lý tưởng chính
trị ấy được ông gửi gắm trọn vẹn vào tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thông qua
tập đoàn Lưu - Thục. Ngoài ra, ông từng làm mặc khách trong khởi nghĩa của

La Quán Trung đã từng đến những địa danh lịch sử vùng Ngô - Việt xưa, ông đã
đến Đương Dương thăm cầu Tràng Bản, nơi tiếng thét như sấm rền của người
anh hùng Trương Phi đã làm tướng giặc sợ quá lăn ra chết, quân Tào sợ hãi quay
đầu bỏ chạy. Đặc biệt ông đã nhiều lần đến Xích Bích kề sát núi Nam Bình…
cho nên ông viết về lịch sử với độ chính xác khá cao.
Những truyện kể dân gian về các anh hùng thời Tam quốc được ghi chép
lại trong tác phẩm Tam quốc chí bình thoại (thời cuối Tống đầu Nguyên - chưa rõ
tác giả). Đây là cuốn sách ghi chép truyện dân gian hiện còn bản kể mà những tình
tiết quan trọng trong Tam quốc diễn nghĩa đã có khá đầy đủ trong cuốn sách này. 9
Tất cả những truyền thuyết dân gian, rất nhiều câu chuyện của nhiều tác
giả viết về những sự kiện và nhân vật thời Tam quốc đã trở thành nguồn tư liệu
bổ ích và quý giá cho việc sáng tạo của La Quán Trung. Bằng những cảm nhận
sâu sắc về lịch sử, con người, bằng tài năng sáng tạo bậc thầy, La Quán Trung
đã lựa chọn, sàng lọc, tổ chức lại những nguồn tư liệu dân gian cực kì phong phú
trên thành một tác phẩm nhất quán, nhân vật có tính cách rõ nét, hơn bốn trăm
nhân vật đối lập, bổ sung, soi sáng cho nhau, làm nổi bật lẫn nhau… Sự ảnh
hưởng của truyện kể dân gian khá rõ nét trong Tam quốc ở đặc điểm khắc họa
tính cách nhân vật. Trong truyện dân gian, tính cách nhân vật được bộc lộ qua
hành động và ngôn ngữ, tâm lý, suy nghĩ của nhân vật hầu như không được bộc
lộ. Chịu ảnh hưởng của nguồn gốc dân gian, Tam quốc chủ yếu khắc họa tính
cách nhân vật qua miêu tả hành động và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, tâm lý
của nhân vật ít được miêu tả.
1.2.2. Khái quát về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tam quốc
diễn nghĩa
1.2.2.1. Khái quát về nội dung Tam quốc diễn nghĩa
Với gần trăm năm, không gian trải rộng trên đất nước Trung Hoa rộng
lớn, nội dung Tam quốc diễn nghĩa vô cùng phong phú và đa dạng. Tác phẩm

truyện tuy miêu tả cuộc chiến tranh của ba nước Ngụy, Thục, Ngô nhưng tác giả
giành nhiều bút mực miêu tả cuộc đọ sức của hai phái Ngụy - Thục, còn phái Ngô,
khi thì đứng về phía Thục chống Ngụy, khi thì ngả về phía Ngụy chống Thục.
Trong cuộc chiến tranh giữa ba nước Ngụy, Thục, Ngô, nước Ngô chỉ là đệm. Khi
nào nước Ngô ủng hộ nước Thục thì tác giả ca ngợi nước Ngô, khi nào nước Ngô
ủng hộ nước Ngụy, tác giả phê phán nước Ngô. Tư tưởng của La Quán Trung
trong Tam quốc diễn nghĩa là “ủng Lưu phản Tào”… Là lá cờ mở đường cho tiểu
thuyết lịch sử Trung Quốc, Tam quốc diễn nghĩa đem lại giá trị hiện thực rất lớn,
làm cho quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn về lịch sử tổ quốc mình.
Tác phẩm cung cấp nhiều tin tức về chính trị, là cuốn binh thư sinh động
trong chiến đấu; đồng thời tác phẩm còn cung cấp kinh nghiệm “đào viên kết
nghĩa” để quần chúng đoàn kết, tổ chức chống lại giai cấp thống trị… Những
giá trị hiện thực đó đã đem lại sức sống lâu bền cho tác phẩm.
1.2.2.2. Khái quát về nghệ thuật Tam quốc diễn nghĩa
Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết hiện thực xuất sắc được xếp vào một
trong tứ đại kì thư Trung Hoa. Tam quốc diễn nghĩa thể hiện tài năng nghệ thuật
của nhà văn thiên tài La Quán Trung. Kết cấu tác phẩm hùng vĩ nhưng mạch lạc
rõ ràng; kể chuyện trăm năm, ghi chép muôn việc nhưng không rối. Tính mạch
lạc thể hiện ở khuynh hướng yêu ghét rõ ràng: ủng Lưu phản Tào, thể hiện ở
quan niệm triết học về lịch sử: hợp lâu tất phân, phân lâu tất hợp. Đọc Tam quốc
người ta thấy có sáu dòng mạch chính được đan cài vào nhau hết sức nhuần
nhuyễn, như diện mạo thực của lịch sử. Đó là sự kết thúc của triều đại Đông
Hán, sự ra đời và kết thúc của nước Ngụy, nước Thục và nước Ngô, và hai tuyến
về nhân vật “Tam kết nghĩa” Lưu, Quan, Trương từ hồi mở đầu đến khi Lưu Bị
người cuối cùng của ba anh em bị chết, một tuyến nữa là nhân vật Khổng Minh,
từ khi xuống núi phò tá Lưu Bị đến khi dâng sao ở gò Ngũ Trượng. Sáu dòng
mạch lớn này chẳng những đan xen vào nhau, còn kéo theo không biết bao nhiêu 11

tạo ra được sức hấp dẫn lôi cuốn của tác phẩm… Vận dụng nhiều thủ pháp độc đáo
trong việc khắc họa tính cách nhân vật, La Quán Trung đã tạo cho nhân vật trong
tác phẩm của mình có được sức sống lâu bền trong lòng độc giả.
Tóm lại, Tam quốc diễn nghĩa là bộ truyện dài đầu tiên trong lịch sử Trung
Quốc, là bộ tiểu thuyết lịch sử mở đầu cho một trường phái văn học mới mẻ, đưa
Trung Quốc trở thành nước có số lượng tiểu thuyết phong phú nhất trên thế giới 12
thời bấy giờ. Tam quốc diễn nghĩa ra đời kéo theo sự xuất hiện của nhiều tác
phẩm cùng thể loại, có thể kể đến: Đông tây Tấn diễn nghĩa, Tiền hậu Đường
diễn nghĩa, Nam bắc Tống diễn nghĩa, Thanh sử diễn nghĩa, Tam quốc ngoại
truyện… Tuy nhiên không tác phẩm nào trong số đó có thể sánh ngang tầm với
Tam quốc cả về giá trị nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm vì thế được đông đảo
mọi người tìm đọc và có giá trị lâu bền. Sức hấp dẫn của tác phẩm đã vượt qua
ranh giới của một nước, đi vào đời sống văn hóa nhiều dân tộc, nhất là ở vùng
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
1.3. Một số vấn đề lý luận
1.3.1. Nhân vật văn học
Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học. Dù là tác phẩm tự
sự, trữ tình hay kịch, dù gián tiếp hay trực tiếp thì văn học đều miêu tả con
người. Nhân vật văn học là “con người được miêu tả trong văn học bằng các
phương tiện văn học” [14, 277]. Có thể nói, con người tồn tại trong cuộc sống đa
dạng và phức tạp bao nhiêu thì nhân vật trong tác phẩm văn học cũng đa dạng và
phức tạp bấy nhiêu.
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn
học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng: Thúy Kiều, Kim Trọng, Mị, A Phủ,
Chí Phèo, Lục Vân Tiên, anh Pha, chị Dậu… cũng có thể xuất hiện với tên
chung chỉ nghề nghiệp: người đưa tin, thằng bán tơ, phu xe, phu gạo, thẳng mõ,
con sen, bác nông dân, anh thợ cạo, chị hàng nước… xuất hiện với tên chung chỉ

nhất nó với con người có thật trong cuộc sống, thường mang những dấu hiệu để
ta dễ nhận ra. Đó có thể là tên gọi: Trạch Văn Đoành, Trương Rự, Chí Phèo,
Lãm, Nguyệt… đến các dấu hiệu tiểu sử nghề nghiệp hoặc đặc điểm riêng như:
chàng mồ côi, hai anh em sinh đôi, thằng ngốc, chú lính… dự báo trước tương
lai nhân vật cũng như diễn biến câu chuyện.
1.3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật tức là nói đến các phương thức
biểu hiện nhân vật và các biện pháp thể hiện nhân vật. Văn học đa dạng đến đâu,
các phương thức, phương tiện thể hiện nhân vật đa dạng đến đó.
Trước hết “nhân vật được miêu tả bằng chi tiết. Đó là những biểu hiện
mọi mặt của con người mà người ta có thể căn cứ để cảm biết về nó. Hêghen
xem chi tiết như những con mắt trổ những cửa sổ để người ta nhìn vào nhân
vật” [14, 291]. Chi tiết miêu tả đôi mắt của Maria (Chiến tranh và hòa bình - L.
Tônxtôi) đã thể hiện thế giới nội tâm của nàng. Chi tiết Chí Phèo gặp Thị Nở là
một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển thay đổi cuộc đời Chí (Chí
Phèo - Nam Cao).
Nhân vật được miêu tả qua những nét cụ thể: chân dung, ngoại hình, tả
hành động và tâm trạng, thể hiện những quá trình nội tâm. Những chi tiết quan
trọng về ngoại hình giúp ta nhận biết về tính cách nhân vật. Ví dụ: Thông qua
ngoại hình của nhân vật Phượng Thư trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng của Tào
Tuyết Cần ta nhận ra sự sắc sảo, thông minh, giỏi giang nhưng cũng ẩn chứa đầy
sự nham hiểm, độc ác của cô. 14
Ngoại hình nhân vật có thể được miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua cảm nhận của nhân vật khác. Đó có thể là ngôn ngữ trực tiếp của nhà văn
khi miêu tả nhân vật như khi Nam Cao miêu tả Lang Rận: “Anh chàng có cái
mặt trông dơ dáng thật. Mặt gì mà nặng chình chĩnh như mặt người phù, da như
da con tằm bủng, lại lấm tấm những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, lại gồ lên.

đây là ngôn ngữ nhân vật tự nói với mình một cách thầm kín, chân thực. Thông
qua lời độc thoại tính cách của nhân vật hiện lên chân thực và khách quan, có 15
tính độc lập tương đối. Ví dụ: Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao
qua dòng độc thoại nội tâm thể hiện tấm lòng nhân hậu, thương con của lão.
Nhân vật còn được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. Các mâu
thuẫn, xung đột bao giờ cũng tác động làm cho nhân vật bộc lộ phần bản chất
sâu kín của nó. Chẳng hạn nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim
Lân được đặt vào tình huống gay gắt để bộc lộ những mâu thuẫn nội tâm: Ông
Hai yêu làng, tự hào về cái làng Chợ Dầu của mình. Khi nghe tin làng theo giặc
ban đầu ông sững sờ chưa tin nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không
được, ông xấu hổ lảng ra về. Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gằm mặt xuống
mà đi. Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lý tủi nhục được trút bỏ,
ông Hai tột cùng vui sướng và càng tự hào về làng Chợ Dầu.
Sự thể hiện nhân vật bao giờ cũng nhằm khái quát nội dung đời sống xã
hội và một quan điểm sâu sắc, một cảm hứng tình điệu tha thiết với cuộc đời. Vì
vậy, sự thể hiện nhân vật phải được xem xét trong sự phù hợp với kiểu loại nhân
vật. Phương thức, biện pháp thể hiện đối với nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân
chính diện, nhân vật phản diện không giống nhau.Yêu cầu thể hiện nhân vật mặt
nạ (nhân vật chức năng), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
mỗi lúc một khác. Và sự thể hiện này luôn luôn gắn liền với phương thức sáng
tác, truyền thống văn học dân tộc, phong cách nhà văn và đặc trưng thể loại.
Tiểu kết
Nhân vật văn học là trung tâm, là linh hồn của tác phẩm. Thế giới nhân
vật càng phong phú, đa dạng càng thể hiện tài năng sáng tạo của tác giả. Với số
lượng hơn bốn trăm nhân vật, La Quán Trung đã để cho những đứa con tinh thần
của mình hiện lên vô cùng sinh động và hấp dẫn. Tác phẩm không chỉ thành
công trong việc xây dựng nhân vật, mà còn thành công ở mặt nội dung và nhiều

giả. Sau đây chúng tôi sẽ chỉ ra những điểm khác nhau cơ bản của nhân vật Tào
Tháo và Lưu Bị ở các phương diện: Nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, tính cách
và tài năng.
2.1. Nguồn gốc xuất thân
“Tào Tháo tự xưng là Mạnh Đức. Cha Tào Tháo là Tào Tung, vốn xưa họ
Hán Hầu nhận làm con nuôi quan trung thường thị Tào Đằng, nên đổi theo họ
Tào” [27, I, 39]. Như vậy, Tào Tháo không phải là dòng dõi vương giả nhà Hán.
Nguồn gốc xuất thân có ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của con người: “Tào
Tháo vốn dòng thế phiệt, cha là Tào Tung đã từng làm quan to. Nếp sống của
một gia đình có địa vị quan cách đã tạo cho ông một bản tính bướng bỉnh,
phóng đãng, bộc lộ, hoạt động sôi nổi” [21, 47].
Lưu Bị là con cháu của nhà Hán thuộc “dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương
Lưu Thắng, cháu năm đời vua Cảnh Đế nhà Hán” [27, I, 32]. Tác giả La Quán
Trung giới thiệu kĩ càng về nguồn gốc xuất thân của nhân vật Lưu Bị: “Ngày
trước con cháu Lưu Thắng là Lưu Trinh, về đời vua Hán Vũ, được phong làm
Trác lộc Đình hầu, sau vì tội góp thiếu tiền cúng tế bị mất chức vì vậy còn sót
một ngành ở Trác quận. Ông của Huyền Đức là Lưu Hùng, cha là Lưu
Hoằng. Hoằng thi đỗ hiếu liêm, đã từng làm quan, nhưng mất sớm. Huyền
Đức mồ côi cha, thờ mẹ rất hiếu, nhà nghèo, phải làm nghề đóng dép dệt
chiếu kiếm ăn” [27, I, 32]. Nguyễn Tử Quang trong Tam quốc bình giảng
cũng đã bình luận về nguồn gốc xuất thân của Lưu Bị như sau: “Lưu Bị chỉ là 17
lưu dân thành thị. Nếu bảo rằng ông là dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương,
nhưng đến đời phụ thân ông thì đã phá sản. Lúc thiếu thời, ông phải “cùng
với mẹ dệt chiếu, thắt giày độ nhựt”. Đời sống đã tạo cho ông một bản tính
thuần hậu, kín đáo, khiêm tốn” [21, 47].
Như vậy, Tào Tháo và Lưu Bị có nguồn gốc xuất thân, gia cảnh khác
nhau. Tào Tháo không xuất thân từ dòng dõi vương giả nhà Hán nhưng lại được


18
đòng, mâu; tinh kỳ, áo, ngựa chiến theo năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen;
mỗi đội dùng một màu lấp lánh chói lòa, rất là hùng tráng” [27, II, 567].
La Quán Trung chủ yếu miêu tả ánh mắt, nét mặt, điệu bộ, cử chỉ của nhân vật
Tào Tháo. Ở Tào Tháo ánh mắt và nét mặt thường xuyên thay đổi trong những hoàn
cảnh cụ thể. Những lúc Tào Tháo giận dữ thường biểu hiện qua ánh mắt và nét mặt:
“Tháo trợn mắt lên nhìn vua, nét mặt hầm hầm bỏ ra” [27, II, 492].
Khi miêu tả ngoại hình nhân vật trong Thủy hử, Thi Nại Am cũng đặc
biệt chú ý miêu tả đôi mắt của nhân vật. Đôi mắt của người anh hùng Lỗ Trí
Thâm khi gặp biến cố được tác giả miêu tả: “mắt trừng lên”, “đôi mắt tròn
xoe”, “đôi mắt ốc nhồi nảy lửa”, “đôi mắt chói ngời như muốn nảy lửa”… Tác
giả lặp lại nhiều lần chi tiết miêu tả ánh mắt qua đó biểu hiện tính cách nóng nảy
của Lỗ Trí Thâm.
Trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung đã chú ý miêu tả kĩ
lưỡng các điệu cười của Tào Tháo. Đổng Thừa cùng những người trung nghĩa
bày mưu giết Tào Tháo nhưng không thành. Tào Tháo biết được âm mưu đó,
đến phủ của Đổng Thừa, hỏi: “Quốc cữu có biết việc Cát Bình không? Thừa nói
không biết, Tháo cười mát nói: sao Quốc cữu lại không biết?” [27, I, 456].
Ngoài điệu cười mát, Tào Tháo còn có điệu cười sằng sặc. Khảo sát Tam quốc
diễn nghĩa của La Quán Trung, chúng tôi thấy tác giả đặc biệt chú ý miêu tả
điệu cười sằng sặc của nhân vật Tào Tháo. Ở hồi năm mươi, tác giả ba lần nhắc
đến điệu cười sằng sặc của Tào Tháo. Tác giả lặp lại nhiều lần chi tiết miêu tả
điệu cười sằng sặc qua đó bộc lộ tính cách ngoan cường của Tào Tháo đó là
không nao núng tinh thần, không nản chí trước thất bại; đồng thời cũng nói lên
bản tính kiêu căng, chủ quan của Tào Tháo.
Lưu Bị hiện lên trong tác phẩm với những đặc điểm bề ngoài giống với
những ông vua huyền thoại: “Mình cao bảy thước rưỡi, hai tai chảy xuống gần
vai, hai tay buông khỏi đầu gối, mắt trông thấy được tai, mặt đẹp như ngọc, môi
đỏ như son” [27, I, 32]. Hình ảnh những cánh tay dài “buông khỏi đầu gối”, đôi

chuốt, trưng diện trước mặt người khác mà khi ở nhà Phượng Thư cũng xuất
hiện với vẻ đẹp hết sức lộng lẫy: “Phượng Thư ở nhà thường đội mũ Chiêu
Quân lông điêu sắc tía, chung quanh có dây giắt hạt châu, mặc áo hoa màu
hồng điều, khoác áo choàng bằng da chuột, viền chỉ đỏ màu thạch thanh, mặc
quần nền lụa đại hồng, phấn son lộng lẫy” [3, I, 109]. Như vậy, dù trong hoàn
cảnh nào, ở nhà hay xuất hiện trước mặt mọi người Phượng Thư đều hiện lên
với vẻ ngoài đẹp đẽ, trang trọng và quý phái. Đối lập với vẻ đẹp cầu kì và lộng
lẫy của Phượng Thư, Bảo Thoa hiện lên với vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc và đơn
giản. Bảo Thoa không thích trang điểm, cô hiện lên với vẻ đẹp hoàn toàn tự
nhiên, không tô vẽ: “Tóc đen nhánh, môi không tô mà vẫn đỏ, mày không kẻ mà
vẫn xanh”, sự mộc mạc còn thể hiện ở trang phục của Bảo Thoa: “Tất cả đồ
mặc đều rung rúc, giở cũ giở mới, nhìn không có vẻ xa hoa mà lại thêm nhũn
nhặn” [3, I, 131]. Trang phục đơn giản, mộc mạc của Bảo Thoa gợi lên vẻ đẹp
phúc hậu, cũng như tính cách nhu mì của cô, nó khác hẳn vẻ đẹp sắc sảo của
Phượng Thư.
Như vậy, La Quán Trung đã đem hết tài năng, bút lực điêu luyện của một
nhà văn để khắc họa hình tượng nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị. Ngoại hình của 20
hai nhân vật đã phần nào gợi cho chúng ta biết về tính cách, con người của họ
sau này.
2.3. Tính cách
Nói đến tính cách là nói đến vấn đề thuộc bản chất, phần bên trong của
con người. Tính cách nhân vật càng phong phú, đa dạng thì nhân vật hiện lên
càng sinh động, hấp dẫn và chân thực. Việc miêu tả nhân vật cũng như tính cách
nhân vật văn học ở mỗi thời kì, theo khuynh hướng khác nhau lại có cách xác
định khác nhau. Ở chủ nghĩa cổ điển con người đề cao tính chất “phi ngã”, thiếu
cá tính hóa trong việc xây dựng hình tượng. Vì vậy con người hiện lên đơn điệu
một chiều và mang tính công thức. Nhưng sang chủ nghĩa hiện thực nguyên tắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status