LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thùy Trang
Học viên lớp: 19 MT
Ngành: Khoa học Môi trường
Trường: Đại học Thủy Lợi
Tôi xin cam đoan quyển luận văn này được chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Đặng Thị Thanh Huyền và TS. Bùi Quốc Lập với đề tài nghiên
cứu trong luận văn “Đánh giá hiệu quả hoạt động của một số nhà máy xử lý
nước thải sinh hoạt đô thị ở Việt Nam và đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu
quả hoạt động”.
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không giống với các đề tài luận văn nào trước
đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào. Nội dung của luận văn
được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư liệu nghiên cứu và sử dụng
trong luận văn đều được trích dẫn nguồn.
Nếu xảy ra vấn đề gì với nội dung luận văn này, tác giả xin chịu hoàn toàn
trách nhiệm theo quy định./.
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN Nguyễn Thị Thùy Trang
MỤC LỤC
33TMỞ ĐẦU33T 1
33TCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 3
33T1.1. Nước thải sinh hoạt đô thị và tác động của nó đến môi trường và con
người
33T 3
33T1.1.1. Giới thiệu chung về nước thải sinh hoạt đô thị33T 3
33T1.1.2. Tác động của nước thải sinh hoạt đến môi trường và con người33T 5
33T1.2. Phương thức xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam33T 8
33T1.2.1. Xử lý nước thải phân tán. 8
33T1.2.2. Xử lý nước thải tập trung. 10
33T1.3. Giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đang được áp
dụng ở Việt Nam
33T 12
33T1.3.1. Xử lý nước thải bằng bể tự hoại 12
33T1.3.2. Xử lý nước thải bằng công nghệ JOHKASOU 15
33T1.3.3. Xử lý nước thải bằng công nghệ AAO 17
33T1.3.4. Xử lý nước thải bằng bể lọc sinh học nhỏ giọt 18
33T1.3.5. Xử lý nước thải bằng mương oxy hoá 20
33T1.3.6. Xử lý nước thải bằng bể lọc sinh học có vật liệu lọc ngập trong nước
(Bể Bioten)
21
33T1.3.7. Xử lý nước thải bằng bể SBR 23
33T1.4. Các tiêu chí đánh giá để đánh giá công nghệ xử lý nước thải33T 28
33T1.4.1. Nhóm tiêu chí kỹ thuật 29
33T1.4.2. Nhóm tiêu chí về môi trường 29
33T1.4.3. Nhóm tiêu chí về kinh tế 30
33T1.4.4. Nhóm tiêu chí xã hội 30
33TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ33T 95
33T1. Kết luận33T 95
33T2. Kiến nghị33T 95
33TTÀI LIỆU THAM KHẢO33T 97
33TPHỤ LỤC33T 99 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt Nguyên gốc
1 A2O Bể kị khí, bể hiếm khí, bể sục khí
2 BOD Nhu cầu ôxy sinh học
3 BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
4 BXD Bộ xây dựng
5 COD Nhu cầu ôxy hóa học
6 D Đường kính
7 DO Oxy hòa tan
8 HTTN Hệ thống thoát nước
9 LCR Lưới chắn rác
10 N Nitơ
11 NM Nhà máy
12 OCO Mương ôxy hóa
13 P Photpho
14 QCXDVN Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam
15 SBR
Aeroten hoạt động gián đoạn theo mẻ
(Sequencing Batch Reactors)
33THình 2.3: Một số hình ảnh của trạm XLNT Kim Liên33T 44
33THình 2.4: Kết quả phân tích mẫu nước trại trạm XLNT Kim Liên33T 47
33THình 2.5: Khu vực thu nước đầu vào tại NMXLNT Yên Sở33T 52
33THình 2.6: Sơ đồ quy trình xử lý Nhà máy XLNT Yên Sở33T 55
33THình 2.7: Khu xử lý nước và bùn tại NMXLNT Yên Sở33T 59
33THình 2.8: Hiệu quả xử lý BODR
5
RNMXLNT Yên Sở33T 64
33THình 2.9: Hiệu quả xử lý COD NMXLNT Yên Sở33T 64
33THình 2.10: Hiệu quả xử lý cặn TSS NMXLNT Yên Sở33T 65
33THình 2.11: Hiệu quả xử lý cặn nitơ NMXLNT Yên Sở33T 66
33THình 2.12: Kết quả phân tích mẫu nước tại NMXLNT Yên Sở33T 66
33THình 2.13: Hình ảnh tổng thế nhà máy xử lý nước thải Bắc Giang33T 69
33THình 2.14: Một số hình ảnh NMXLNT Bắc Giang33T 73
33THình 2.15: Nồng độ COD ở đầu vào và đầu ra từ 2011 đến 201333T 75
33THình 2.16: Nồng độ COD ở đầu vào và đầu ra năm 2013 (Sau 3 năm hoạt động)33T 75
33THình 2.17: Hàm lượng N-NHR
3
R và N-NOR
3
R đầu ra năm 201133T 76
33THình 2.18: Hàm lượng Phosphorous đầu ra năm 201133T 76
33THình 2.19: Chất lượng nước thải tại nhà máy XLNT Bắc Giang tháng 5/201333T 77
33THình 2.20: Sơ đồ dây chuyền công nghệ có thể áp dụng cho mục đích tái sử dụng
năng lượng
33T 93
vững thì phải chú ý giải quyết vấn đề cung cấp nước sạch, thoát nước, xử lý nước
thải vệ sinh môi trường một cách hợp lý nhất.
Hiện nay, nước ta đang trên con đường phát triển, các khu dân cư đô thị mới
và khu công nghiệp đang được quy hoạch và phát triển mạnh mẽ. Tốc độ công
nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng
nặng nề đối với tài nguyên nước. Hầu hết nước thải sinh hoạt cũng như nước thải
công nghiệp chưa được xử lý hoặc không được xử lý triệt để nhưng vẫn xả trực tiếp
vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước ngầm, gây mất
cảnh quan đô thị, tác động xấu đến điều kiện vệ sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ cộng đồng và tác động tiêu cực tới nhịp độ phát triển kinh tế của cả nước. Luật
Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 đã nêu rõ: “Các đô thị và khu dân cư phải
có hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước
mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn,…”
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp và các ngành
liên quan đến bảo vệ môi trường đã có nhiều cố gắng trong việc kiểm soát ô nhiễm
bằng nhiều biện pháp. Điển hình là xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước
thải sinh hoạt cho các khu đô thị lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai,
Thành phố Hồ Chí Minh,… Tuy nhiên, các nhà máy xử lý đã xây dựng có công suất
nhỏ và còn nhiều bất cập nên chưa đáp ứng được yêu cầu xử lý cho toàn thành phố.
Vì vậy, đề tài tập trung “đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhà máy xử
lý nước thải sinh hoạt đô thị và đề xuất biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động” nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, thiết kế và xây dựng cho các nhà máy xử lý
mới là hết sức cấp thiết và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn to lớn. 2. Mục đích của đề tài
Đánh giá hiện trạng xử lý nước thải sinh hoạt (hiệu quả xử lý và vận hành)
1.1. Nước thải sinh hoạt đô thị và tác động của nó đến môi trường và con người
1.1.1. Giới thiệu chung về nước thải sinh hoạt đô thị
Nước thải sinh hoạt là nước đã được sử dụng cho các mục đích ăn uống, sinh
hoạt, tắm rửa, vệ sinh nhà cửa,…của các khu dân cư, công trình công cộng, cơ sở
dịch vụ,… Như vậy, nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt
của con người. Một số các hoạt động dịch vụ hoặc công cộng như bệnh viện, trường
học, nhà ăn,… cũng tạo ra các loại nước thải có thành phần và tính chất tương tự
như nước thải sinh hoạt (Trần Đức Hạ, 2006).
Ở Việt Nam hiện nay, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang
tạo nên một sức ép lớn đối với môi trường. Trong sự phát triển kinh tế xã hội, tốc độ
đô thị hoá ngày càng gia tăng. Tính đến năm 2012, cả nước có 762 đô thị từ loại đặc
biệt đến loại V, tổng số dân trên 28 triệu người (bằng 31% dân số cả nước) với tổng
lượng nước thải đô thị khoảng 3.080.000 m
P
3
P/ngày. Tuy nhiên chỉ 10% lượng nước
thải này được thu gom và xử lý còn 90% lượng nước thải này được xả trực tiếp vào
nguồn nước sông, hồ và biển ven bờ (Nguyễn Việt Anh, 2013). Mức độ ô nhiễm
nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng trầm trọng.
Bảng 1.1: Số lượng đô thị ở Việt Nam năm 2012
Số đô thị
Thành phố
Loại
đặc
biệt
Loại I Loại II
Loại
III
Loại
IV (WHO) công bố cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong do điều
kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn và thấp kém. Còn theo thống kê của Bộ Y tế,
hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước. Người dân ở
cả nông thôn và thành thị đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trường
nước đang ngày một ô nhiễm trầm trọng.
Hiện nay, hầu hết nước thải sinh hoạt từ các hộ dân, cùng với nước thải tại
các nhà máy, khu công nghiệp, bệnh viện, làng nghề, khu chăn nuôi gia súc, gia
cầm ở đô thị đều xả trực tiếp vào hệ thống thoát nước mà không qua bất kỳ khâu xử
lý nào. Nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là
một nguyên nhân chính gây nên tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng
càng ngày càng xấu đi. Theo các nhà khoa học, cứ 1m
P
3
P nước thải lan toả làm ô
nhiễm 40-60m
P
3
P nước sạch. Nếu không có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời
nước thải sẽ gây ô nhiễm môi trường sống, lãng phí nguồn nước mặt, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khỏe của con người.
Tại các đô thị lớn, hệ thống thoát nước dùng chung cho thoát nước mưa,
nước thải sinh hoạt, công nghiệp. Do hệ thống thoát nước không bảo đảm, vào mùa
mưa thường bị ngập lụt, nước bẩn tràn lên đường phố, chảy vào các hộ gia đình, ảnh
hưởng đến sức khoẻ, môi trường sống của người dân. Các thành phố lớn đa phần
chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hầu hết nước thải sinh hoạt từ các đô thị
ở khu dân cư, nhà hàng; nước thải của các cơ sở y tế, cơ sở công nghiệp và tiểu thủ
Sông Kim Ngưu có màu đen và hôi thối. Sông Nhuệ chịu ảnh hưởng nước thải của
thành phố Hà Nội có các loại độc chất như: phenol hàm lượng cao gấp 10 lần so với
tiêu chuẩn nước ăn uống sinh hoạt; hàm lượng chất hữu cơ, có vi khuẩn gây bệnh
cao; oxy hoà tan thấp Có thể nói nước sông Nhuệ đoạn thuộc Hà Nội – Hà Tây là
không bảo đảm chất lượng cấp nước cho ăn uống sinh hoạt.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố với gần 5 triệu dân, tổng lượng nước thải
sinh hoạt khoảng 600.000 m
P
3
P/ngày đêm, trong đó chỉ có 60% được xử lý sơ bộ. Nước
thải sinh hoạt cùng với nước thải từ các khu công nghiệp xả trực tiếp ra các kênh Nhiêu
Lộc, kênh Tân Hoà lan tỏa đi các sông Sài Gòn - Đồng Nai, Nhà Bè, Chợ Đệm, sông
Tranh… Hiện nay, lưu vực sông Sài Gòn - Đồng Nai bị ô nhiễm trên diện rộng với
mức độ tăng dần từ thượng lưu đến hạ lưu, chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ, vi sinh vật và bị
axit hoá, một số khu vực hạ lưu bị ô nhiễm nặng. Qua các kết quả phân tích chất lượng
nước năm 2006 cho thấy, chất lượng nước tại các trạm đầu nguồn sông Sài Gòn - Đồng
Nai bị ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt là ô nhiễm dầu và vi sinh.
/Nguồn: Epe.ede.vn/
1.1.2. Tác động của nước thải sinh hoạt đến môi trường và con người
1.1.2.1. Tác động của nước thải sinh hoạt tới môi trường
a. Gây ô nhiễm môi trường không khí
Các hợp chất hữu cơ, vô cơ độc hại trong nước thải thông qua vòng tuần hoàn
nước, theo hơi nước vào không khí làm cho mật độ bụi bẩn trong không khí tăng lên.
Không những vậy, các hơi nước này còn là giá bám cho các vi sinh vật và các loại khí
bẩn công nghiệp độc hại khác. Một số chất khí được hình thành do quá trình phân
hủy các hợp chất hữu cơ trong nước thải như SO
R
2
R gây ra hiện tượng nước phèn dẫn đến đóng thành váng trên mặt
đất (đóng phèn)
+ Canxi, magie và các ion kim loại khác trong đất bị nước chứa axit cacbonic rửa
trôi thì đất sẽ bị chua hóa.
Khi các chất ô nhiễm từ nước thấm vào đất không những gây ảnh hưởng tới
đất mà còn ảnh hưởng đến các sinh vật đang sinh sống trong đất:
+ Các ion Fe
P
2+
P và MnP
2+
P ở nồng độ cao là các chất gây hại đối với thực vật.
+ Đồng (Cu) trong nguồn nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp thải ra tuy ở nồng
độ trung bình nhưng cũng gây độc với các cây cối.
c. Tác động đến sinh vật trong nước
Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh vật trong nước, đặc biệt là
vùng sông, do nước chịu tác động của ô nhiễm nước nhiều nhất. Nhiều loại thủy
sinh do hấp thụ các chất độc trong nước với thời gian lâu ngày gây biến đổi cơ thể,
một số trường hợp gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới, một số trường hợp khác
làm cho nhiều loài thủy sinh chết.
1.1.2.2. Tác động của nước thải sinh hoạt tới con người
Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước do nước thải xả ra môi trường
bừa bãi là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như
viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng. Người dân sinh sống quanh
khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh nghi vấn là do dùng nước bẩn
trong sinh hoạt. Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành
sản xuất kinh doanh, các hồ nuôi trồng thủy sản….
Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, việc xả thải nước thải độc hại chứa
kim loại nặng hoặc nước thải giàu nitơ và nhiều vi sinh vật có ảnh hưởng lớn đến
sức khoẻ con người:
bộ máy tuần hoàn, phổi, ngộ độc nặng và tử vong.
Nồng độ nirat trong nước cao
Nồng độ nirat trong nước cao có thể do phân hủy chất hữu cơ hoặc do ảnh hưởng
của chất thải ô nhiễm. Trong nước chứa hàm lượng nirat trên 10mg/l có thể gây bệnh
tím tái ở trẻ em. Người ta thấy hàm lượng mthemoglobin trong máu cao với cả trẻ em
và người lớn khi dùng nước có hàm lượng nirat cao hơn giới hạn cho phép.
Vi khuẩn trong nước thải: Vi khuẩn có hại trong nước bị ô nhiễm có từ chất thải sinh hoạt của con
người và động vật như bệnh tả, thương hàn và bại liệt.
Bảng 1.2 : Các bệnh lây lan qua đường nước thải sinh hoạt
Bệnh
1995
1996
1999
2000
2001
2002
Tả
4.886
491
219
176
16
317
Thương hàn
31.529
293.016
257.793
185.629
/ Nguồn: www.doko.vn/
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm
môi trường nước, ô nhiễm nước thải nói chung và nước thải sinh hoạt nói riêng trở
thành vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Vấn đề ô nhiễm nước thải sinh hoạt là loại ô
nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con
người cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Ô nhiễm nước thải sinh hoạt
ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, ngoài ra chúng còn ảnh hưởng đến hệ sinh
thái, môi trường. Từ những ảnh hưởng, thành phần, tính chất, của nước thải sinh
hoạt mà ta tìm ra các phương pháp công nghệ xử lý phù hợp, khắc phục tình trạng ô
nhiễm nước thải sinh hoạt hiện nay.
1.2. Phương thức xử lý nước thải đô thị ở Việt Nam
Hiện nay có hai xu hướng xử lý nước thải, đó là xử lý tập trung và xử lý
phân tán. Mỗi xu hướng đều có những ưu điểm riêng, tùy thuộc vào đặc điểm của
từng địa phương mà có thể lựa chọn hình thức xử lý cho phù hợp.
1.2.1. Xử lý nước thải phân tán
Trong các đô thị lớn do khó khăn và không kinh tế trong việc xây dựng các
tuyến cống thoát nước quá dài khi địa hình bằng phẳng và mực nước ngầm cao,
người ta thường quy hoạch thoát nước thải thành hệ thống phân tán theo các lưu vực
sông, hồ. Do đặc điểm địa hình và sự hình thành các kênh hồ trong các đô thị nước ta, hệ thống thoát nước thường phân tán ra các lưu vực nhỏ và độc lập. Do vậy thoát
nước phân tán sẽ là hình thức phù hợp đối với đa số đô thị nước ta. xử lý khác nhau. Việc kiếm soát, quản lý và vận hành chúng khá phức tạp. Tìm
kiếm đất đai cho việc xây dựng trạm XLNT trong nội thành thường rất khó khăn.
Ở Việt Nam hình thức xử lý nước thải phân tán cho nước thải đô thị chưa
phổ biến do đặc điểm dân cư tập trung đông đúc.
1.2.2. Xử lý nước thải tập trung
Khi thoát nước tập trung, nước thải từ các tuyến cống cấp 2 (tuyến cống lưu
vực) đưa về tuyến cống chính (tuyến cống cấp 1), sau đó bơm về trạm xử lý nước
thải tập trung. Như vậy nước thải sẽ được dẫn ra khỏi khu vực đô thị, xử lý đến mức
độ yêu cầu, sau đó xả ra nguồn nước mặt có khả năng tự làm sạch lớn.
Ưu điểm: Đảm bảo cho môi trường có độ an toàn cao, ít bị ô nhiễm, dễ kiểm
soát và quản lý.
Nhược điểm: Việc đầu tư thoát nước thải tập trung rất tốn kém do việc xây
dựng các tuyến cống chính lớn, dài và sâu, số lượng trạm bơm chuyển bậc nhiều…
Mặt khác khi đô thị phát triển không đồng bộ theo không gian và thời gian, việc xây
dựng trạm xử lý nước thải (XLNT) tập trung và tuyến cống chính sẽ không phù
hợp. Việc đầu tư kinh phí lớn ngay từ ban đầu cho các công trình này rất khó khăn.
/Nguồn: Trần Đức Hạ, 2006/
Ở Việt Nam, do việc bảo vệ môi trường đang là vấn đề ưu tiên, số lượng nhà
máy XLNT tập trung đang ngày càng tăng. Tính đến năm 2011, nước ta có khoảng
18 nhà máy XLNT đang hoạt động (Bảng 1.3) và 31 nhà máy XLNT đô thị đang
trong giai đoạn chuẩn bị xây dựng và đang xây dựng. Các nhà máy XLNT hiện tại
chỉ xử lý được khoảng 284.000 m
P
3
P/ngày trên tổng lượng nước thải đô thị 3.080.000
m
Công nghệ
xử lý
Thiết kế
Vận
hành
1 Kim Liên
Hà Nội
2005 3,700 3,700 Chung A2O (AS)
2 Trúc Bạch 2005 2,500 2,500 Chung A2O (AS)
3 Bắc Thăng Long 2009 42,000 7,000 Chung AO
4 Yên Sở 2012 200,000 120,000 Chung SBR
5 Bình Hưng
Thành
phố Hồ
Chí
Minh
2009 141,000 141,000 Chung CAS
6 Bình Hưng Hòa 2008 30,000 30,000 Chung
Hồ ổn định
(AP,FP,MP)
7
Canh Doi (Phú
Mỹ Hưng)
2007 10,000 10,000 Riêng OD
8
Nam Viên (Phú
Mỹ Hưng)
2009 15,000 15,000 Riêng A2O (AS)
9 Sơn Trà
Đà
18 Phan Rang
Ninh
Thuận
2011 5,000 5,000 Chung
Hồ ổn định
(AP,FP,MP)
/ Nguồn: NHTG. 2012 và Trần Đức Hạ, 2012/
Hình 1.1: Một số hình ảnh về các nhà máy XLNT ở Việt Nam (Nguyễn Việt Anh, 2013)
1.3. Giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đang được áp dụng
ở Việt Nam
1.3.1. Xử lý nước thải bằng bể tự hoại
Bể tự hoại là công trình xử lý nước thải bậc I (xử lý sơ bộ) đồng thời thực
hiện hai chức năng: lắng nước thải và lên men cặn lắng. Bể tự hoại có thể được chia
làm 2 hoặc 3 ngăn. Nước thải vào thời gian lưu lại trong bể từ 1 đến 3 ngày.
Trong bể tự hoại diễn ra quá trình lắng cặn và lên men, phân hủy sinh học kỵ
khí cặn lắng. Các chất hữu cơ có trong nước thải và bùn cặn đã lắng, chủ yếu là các
hydrocacbon, đạm, béo.v v. được phân hủy bởi các vi khuẩn kỵ khí và các loài nấm men. Nhờ vậy cặn lên men, bớt mùi hôi, giảm thể tích. Chất khoáng không tan
chuyển thành chất tan và chất khí (chủ yếu là CH
Xử lý nước thải bằng bể tự hoại 3 ngăn đã được ứng dụng tại khu đô thị mới
đồng bộ hạ tầng kỹ thuật Xuân La, Hà Nội.
* Xử lý nước thải bằng bể tự hoại cải tiến BASTAF
Cấu tạo: 5-6 ngăn: gồm 1 ngăn chứa và 2-3 ngăn mỏng dòng hướng lên, tiếp
theo là 2 ngăn lọc kỵ khí (lọc ngược).
Nguyên tắc làm việc: Nước thải được đưa vào ngăn đầu của bể, có vai trò làm
ngăn lắng – lên men kỵ khí, đồng thời điều hòa lưu lượng và nồng độ chất bẩn trong
dòng nước thải. Nhờ có các vách ngăn hướng dòng ở những ngăn tiếp theo, nước thải
được chuyển động theo hướng từ dưới lên trên, tiếp xúc với các vi sinh vật kỵ khí trong
lớp bùn hình thành ở đáy bể trong điều kiện động. Các chất bẩn hữu cơ được các vi
sinh vật hấp thụ và chuyển hóa làm nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển của chúng.
Cũng nhờ các vách ngăn này, công trình trở thành một dãy bể phản ứng kỵ khí được bố
trí nối tiếp. Cơ chế tạo dòng chảy hướng của bể tự hoại cải tiến bảo đảm hiệu suất sử
dụng thể tích tối đa và sự tiếp xúc trực tiếp của dòng nước thải hướng lên và lớp bùn
đáy bể - nơi chứa quần thể các vi khuẩn kỵ khí, cho phép nâng cao hiệu suất xử lý rõ
rệt. Các ngăn lọc kỵ khí phía sau, với vật liệu lọc do IESE chế tạo, cho phép nâng cao
hiệu suất xử lý của bể và tránh rửa trôi bùn cặn theo nước.
Ưu điểm: Đạt hiệu suất xử lý cao, ổn định hơn so với bể tự hoại truyền thống.
Nhược điểm: Giá thành cao hơn so với bể tự hoại truyền thống 20-30% và
hút cặn khó khăn do bể có nhiều ngăn.
Phạm vi áp dụng: Thường áp dụng cho nhóm hộ gia đình (>10 hộ trở lên).
Hiện nay xử lý nước thải bằng bể tự hoại cải tiến BASTAF đã được áp dụng
ở một số khu đô thị ở Việt Nam như khu đô thị mới Xuân Mai. Ưu điểm:
- Dễ lắp đặt, chi phí vận hành thấp
- Tiết kiệm tài nguyên nước: có thể tái sử dụng lại nước cho các công trình công
cộng, dịch vụ.
- Không tốn diện tích đất vì được chôn ngầm.
- Bùn lắng được thu gom triệt để.
Nhược điểm: Phụ thuộc nhiều vào điện năng
Công nghệ Johkasou đã được ứng dụng trong xử lý nước thải tại nguồn ở nhiều khu
đô thị mới như khu đô thị khu đô thị Dịch vọng, Cầu Giấy Hà Nội có hiệu quả cao.
1.3.3. Xử lý nước thải bằng công nghệ AAO Hình 1.5: Sơ đồ XLNT bằng công nghệ AAO