khóa luận tốt nghiệp nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5 - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THỊ HÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VỀ VĂN
KỂ CHUYỆN TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô và các em học sinh
trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị - Hà Nam đã tạo điều kiện cho em trong quá
trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên ở bộ phận
thƣ viện Trƣờng Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ em trong quá trình sƣu tầm tài liệu
để hoàn thành khóa luận.
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn sinh viên trong
và ngoài lớp đã động viên, đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ
mình trong những lúc gặp khó khăn.
Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để
khóa luận thêm hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Đinh Thị Hà DANH MỤC VIẾT TẮT

GV Giáo viên
HS Học sinh
SGK Sách giáo khoa
NXBGD Nhà xuất bản giáo dục
NXBĐHSP Nhà xuất bản đại học sƣ phạm
PPDH Phƣơng pháp dạy học

TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 23
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VĂN
KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 24
2.1 Những vấn đề chung của việc dạy văn kể chuyện ở bậc Tiểu học 24
2.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả thƣc hành văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5
25
2.2.1 Bồi dưỡng lòng ham thích kể chuyện, rèn luyện kĩ năng kể chuyện và phát
triển trí tưởng tượng sáng tạo cho HS 25
2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, xây dựng câu chuyện 25
2.2.2.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài 25
2.2.2.2 Hướng dẫn học sinh xây dựng chuyện 26
2.2.3 Biện pháp sắp xếp ý, lập dàn bài văn kể chuyện 31
2.2.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôi kể trong văn kể chuyện 35
2.2.4.1 Giáo viên yêu cầu học sinh xác định rõ ngôi kể và nhất quán trong suốt
truyện 35
2.2.4.2 Hướng dẫn học sinh chuyển đổi ngôi kể 36
2.2.5 Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ ngữ kể chuyện và lựa chọn từ ngữ khi
kể chuyện 37
2.2.6 Biện pháp sử dụng trò chơi 39
2.2.6.1 Trò chơi “Mở ô số” 39
2.2.6.2 Trò chơi “Tuyển chọn biên tập viên” 40
2.2.6.3 Trò chơi “ Thi tìm từ nhanh” 41
2.2.7 Kĩ năng ra đề bài văn kể chuyện của Giáo viên 42
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 43
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 44
3.1 Mục đích thực nghiệm 44
3.2 Đối tƣợng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 44
3.3 Phƣơng pháp thực nghiệm 45
3.4 Nội dung thực nghiệm 45
3.5 Tiêu chí đánh giá 46

này đi vào cuộc sống mà ngay khi còn học ở nhà trƣờng, HS đã luôn luôn vận
dụng văn kể chuyện trong mọi mặt sinh hoạt. Văn kể chuyện dạy cho các em
nắm đƣợc nội dung và phƣơng pháp kể. Luyện cho HS kĩ năng nói và viết
những câu chuyện trong đời sống hàng ngày gần gũi với các em mà các em đƣợc
chứng kiến hoặc đƣợc nghe kể lại.
Văn kể chuyện còn phát triển trí tƣởng tƣợng và năng lực sáng tạo cho HS,
phát huy vốn tri thức, vốn sống của HS tạo điều kiện để sau này các em tập sáng
tác bút kí, hồi kí, truyện ngắn,…Sự hiểu biết về văn kể chuyện còn có tác dụng
lớn đến việc đọc sách, thƣởng thức, phê bình văn học và chuẩn bị cho HS làm
tốt bài nghị luận văn học. Vì thế, có thể nói văn kể chuyện có vị trí quan trọng
trong sáng tác văn chƣơng và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chƣơng trình
Tập làm văn bậc Tiểu học. Văn kể chuyện đƣợc đƣa vào chƣơng trình phổ thông

2
ngay từ các lớp Tiểu học. Tại sao cần cho HSTH học văn kể chuyện? Vì văn kể
chuyện phù hợp với tâm sinh lí tuổi thơ. Các em sống với tuổi thơ của mình
trong thế giới của truyện, các em thích nghe ngƣời khác kể chuyện và cũng thích
kể chuyện cho ngƣời khác nghe. Ở tuổi này các em cũng ƣa khám phá, thích
tƣởng tƣợng, yêu thích các con vật, nhân vật trong truyện…Từ đó, văn kể
chuyện góp phần nuôi dƣỡng phát triển tâm hồn trẻ thơ, khơi gợi ở các em trí tò
mò, ham hiểu biết, lòng yêu cái đẹp, yêu chính nghĩa và tạo khả năng phát triển
ngôn ngữ. Chƣơng trình văn kể chuyện đƣợc dạy từ cấp 1 (từ lớp 1 đến lớp 5). Ở
các lớp 2, 3 kiểu bài này đƣợc đƣa vào chƣơng trình giúp các em làm quen với
văn kể chuyện thông qua các bài học thực hành và chƣa hình thành kiến thức.
Lên lớp 4, kiến thức về văn kể chuyện mới đƣợc đƣa đến HS và làm nền tảng
cho rèn luyện kĩ năng. Đến lớp 5, văn kể chuyện đƣợc thiết kế để ôn tập những
kiến thức cơ bản, làm những đề bài tiêu biểu, đƣợc dạy trong 3 tiết: ôn tập, kiểm
tra và trả bài.
Quá trình dạy học là quá trình tƣ duy sáng tạo, ngƣời GV là một kĩ sƣ tâm
hồn, hơn nữa còn là một nghệ thuật về việc dạy học. Ngày nay dựa trên cơ sở

Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Trong cuốn “Luyện tập văn kể chuyện ở Tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí
đã hƣớng dẫn phƣơng pháp chung đối với từng kiểu bài kể chuyện. Luyện tập
gắn với từng kiểu bài cụ thể. Ở mỗi đề, ngoài phần gợi ý các công việc cần
chuẩn bị, sách còn đƣa ra một số cách kể khác nhau. Qua đó ngƣời đọc thấy
đƣợc sự đa dạng và sáng tạo khi kể chuyện và tự tìm cách kể của riêng mình.
Trong cuốn “ Về văn miêu tả và kể chuyện” các tác giả Vũ Tú Nam - Phạm
Hổ - Bùi Hiển đã đƣa ra những suy nghĩ của mình về văn miêu tả và văn kể
chuyện. Trong đó các tác giả đã đƣa ra những đặc điểm của từng kiểu bài,
hƣớng dẫn làm văn qua các bài viết cụ thể và luôn khẳng định vị trí, vai trò của
văn miêu tả và văn kể chuyện.
Trong cuốn “Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” của tác giả Lê
Phƣơng Nga – Nguyễn Trí, không đi sâu vào đề tài nào nhất định nhƣng đã đƣa
ra nhiều vấn đề cụ thể, nóng hổi đang đặt ra với các nhà giáo và với những
ngƣời quan tâm đến dạy học Tiếng Việt. Mỗi tiểu mục trong chƣơng trình trình

4
bày ý kiến của tác giả về một vấn đề trong đó có khái quát cơ bản nhất về một số
vấn đề dạy và học văn kể chuyện lớp 4, 5.
Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tôi nghiên cứu về đề
tài “ Nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm
văn cho HS lớp 4, 5”
3. Mục đích nghiên cứu
Văn kể chuyện là loại văn có vị trí quan trọng trong chƣơng trình Tập làm
văn bậc Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Song hiệu quả dạy và
học của giáo viên và học sinh đặc biệt là thực hành viết văn chƣa thực sự nhƣ
mong muốn.
Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đề xuất đƣợc một số biện pháp
nhằm nâng cao kết quả thực hành về văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu

học sinh lớp 4,5.
7.3 Phƣơng pháp toán học
Sử dụng thống kê để xử lí thông tin, số liệu
7.4 Phƣơng pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
Kiểm tra đánh giá kết quả của đề tài và những mặt còn hạn chế, rút kinh
nghiệm.
8. Giả thuyết khoa học.
Hiện nay việc dạy và học phân môn Tập làm văn nói chung và học văn kể
chuyện nói riêng trong trƣờng phổ thông gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, đối với
giáo viên việc dạy để học sinh dễ dàng tiếp thu chắc kiến thức qua từng khâu.
Từ việc ra đề, hƣớng dẫn làm bài cho đến khâu chấm bài, trả bài và việc học của
học sinh để đạt kết quả cao đối với phân môn này lại càng khó hơn. Vì vậy, đề
tài “Nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm
văn cho học sinh lớp 4,5 ’’ với các biện pháp đề xuất chứng minh đƣợc tính khả
thi thì sẽ góp phần đổi mới phƣơng pháp và hình thức dạy học, làm cho tiết học
diễn ra nhẹ nhàng và có hiệu quả hơn.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mẫu điều tra, phiếu bài tập, phần nội
dung của đề tài gồm 3 chƣơng :

6
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy và học kiểu bài kể
chuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4, 5.
Chƣơng 2 : Nội dung và một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành về
văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5.
Chƣơng 3 : Thiết kế giáo án và thực nghiệm sƣ phạm.


chuyện. Đến tuổi mẫu giáo nhu cầu cần nghe kể chuyện lại tăng thêm nhiều.
Bƣớc vào tuổi học sinh Tiểu học ( từ 6 đến 11 tuổi ) , nhu cầu nghe kể chuyện
vẫn không hề giảm mà lại tiếp tục tăng thêm, đặc biệt là đối với các loại truyện
cổ dân gian và truyện về đời sống hàng ngày. Tại sao vậy ? Các nhà nghiên cứu
thƣờng trả lời bằng những kiến giải xác đáng mang tính chiêm nghiệm của chính
bản thân họ. Những truyện kể, truyện dân gian là một trong những hình thức
nhận thức thế giới của các em, giúp các em chính xác hóa những biểu tƣợng đã
có về thực tế xã hội xung quanh, từng bƣớc cung cấp thêm những khái niệm mới
và mở rộng kinh nghiệm sống cho các em. Những tác phẩm ấy giúp các em xác
lập một thái độ đối với các hiện tƣợng của đời sống xung quanh. “ Truyện cổ
tích gắn liền với cái đẹp góp phần phát triển các xúc cảm thẩm mĩ mà thiếu
chúng không thể có tâm hồn cao thƣợng, lòng mẫn cảm chân thành trƣớc nỗi bất
hạnh, đau đớn và khổ ải của con ngƣời. Nhờ có truyện cổ tích, trẻ nhận thức
đƣợc thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng trái tim. Và trẻ em không phải
chỉ có nhận thức mà còn đáp ứng lại sự kiện và hiện tƣợng của thế giới xung
quanh, tỏ thái độ của mình với các điều thiện và điều ác. Truyện cổ tích cung cấp
cho trẻ những biểu tƣợng đầu tiên về chính nghĩa và phi nghĩa. Giai đoạn đầu tiên

8
của giáo dục lí tƣởng cũng diễn ra nhờ có truyện cổ tích. Truyện cổ tích là ngọn
nguồn phong phú và không gì thay thế đƣợc để giáo dục tình yêuTổ Quốc” .Đó là
những lí do giúp ta hiểu tại sao trẻ em học sinh Tiểu học lại rất mê truyện.
Học sinh Tiểu học không chỉ thích nghe ngƣời khác kể chuyện, thích đọc
truyện mà các em còn thích kể chuyện cho ngƣời khác nghe bằng trí tƣởng
tƣợng, phong phú và đầy sáng tạo riêng của mình.
Chính vì những cơ sở tâm lí trên mà kiểu bài kể chuyện đã đƣợc đƣa vào
trong phân môn Tập làm văn nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về văn kể
chuyện. Kiểu bài này mang tính sáng tạo cao trong sử dụng ngôn từ và tƣ duy.
Mỗi bài kể cho học sinh là sự thể hiện của việc quan sát tinh tế khả năng ghi
nhớ, cách hành văn khi kể. Tuy nhiên, ở giai đoạn học sinh Tiểu học , các cơ

miêu tả nhân vật và diễn biến của chúng sao cho ngƣời nghe hình dung đƣợc
diễn biến đó và ý nghĩa của nó”.
Sách Tiếng Việt 4 thì định nghĩa: “Kể chuyện là kể lại một chuỗi sự việc có
đầu có cuối, liên quan đến một hay một số nhân vật. Mỗi câu chuyện cần nói lên
một điều có ý nghĩa”.
Nhƣ vậy, kể chuyện là một thuật ngữ đƣợc dùng với ý nghĩa kể một câu
chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có một hình thức hoàn chỉnh đƣợc in trong
sách, trên báo. Kể chuyện là một trong những phƣơng thức biểu đạt để nói lên
điều mình muốn nói thông qua câu chuyện. Vì vậy, khi một ngƣời nào đó kể
chuyện thì phải xác định mục đích rõ ràng. Dƣới góc độ giao tiếp, kể chuyện là
một hoạt động giao tiếp có ngƣời phát, ngƣời nhận, nội dung là những sự việc
xảy ra trong đời sống hàng ngày và diễn ra trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Ở góc độ Giáo dục và Văn học, chúng ta còn nghe đến “Văn kể chuyện”.
Vậy thế nào là Văn kể chuyện?
Theo tác giả Chu Huy trong cuốn “ Dạy Văn kể chuyện ở trường Tiểu
học”: Văn kể chuyện là một loại văn mà học sinh phải đƣợc luyện tập diễn đạt
bằng miệng hoặc viết thành bài theo những quy tắc nhất định. Vì tính chất phổ
biến và ứng dụng rộng rãi của loại văn này nên nó trở thành loại hình cần đƣợc
rèn kĩ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghi luận.
Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng
Việt” cho rằng: Văn kể chuyện là loại văn viết ra nhằm trình bày những sự việc,

10
những chuyện xảy ra trong đời sống xã hội. Sự đánh giá đó không chỉ dừng lại ở
một sự việc đơn lẻ nào mà là sự phản ánh và đánh giá có bắt đầu, có kết thúc.
Nhƣ vậy, văn kể chuyện đƣợc hiểu là một văn bản nghệ thuật. Trong đó,
ngƣời viết trình bày vấn đề dƣới dạng một câu chuyện. Câu chuyện này cần có
“chất truyện” và “chất văn”. Nghĩa là nó phải trình bày sự việc từ đầu đến cuối,
mang một thông điệp nào đó và phải mang tính thẩm mĩ, tính hình tƣợng, tính
riêng về phong cách cá nhân.

vật….cung cấp cho ngƣời đọc vô vàn thông tin về cuộc sống.
Ví dụ:
+ Đọc truyện “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bƣởi(TV4, Tập1, Trang15). Ngƣời
đọc sẽ hiểu thêm về xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, lúc xã hội đang chuyển
mình sang hình thái kinh tế mới, lúc hình thành nền kinh tế thị trƣờng.
+ Truyện “Người tìm đường lên các vì sao” (TV4,Tập1,Trang 25). Ngƣời
đọc sẽ hiểu đƣợc những vất vả, gian nan, lòng kiên nhẫn của các nhà khoa học
và công việc nghiên cứu khoa học.
- Cần có cách kể hấp dẫn lôi cuốn ngƣời nghe, ngƣời đọc. Kể chuyện mang
dấu ấn cá nhân khá rõ. Ngƣời ta thƣờng cho rằng chỉ những ngƣời có năng khiếu
thì kể chuyện mới hay mới hấp dẫn. Điều này không sai nhƣng không có nghĩa
là chúng ta không thể rèn luyện cho mình một phong cách kể chuyện lôi cuốn
ngƣời khác. Cách kể chuyện hay do nhiều yếu tố tạo nên. Sắp xếp các tình tiết,
cách mở đầu, kết thúc câu chuyện; cách lựa chọn ngôi kể, biết hóa thân nhập vai
vào nhân vật; biết thắt nút mở nút đúng lúc sao cho có kịch tính; giọng điệu,
phong cách, cử chỉ, nét mặt….Biết xử lí tốt các yếu tố trên thì việc trở thành một
ngƣời kể chuyện có duyên là điều có thể làm đƣợc.
1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học
* Văn kể chuyện,một kiểu bài quan trọng trong chương trình Tập làm
văn ở tiểu học
Đã từ lâu văn kể chuyện đƣợc đƣa vào chƣơng trình Tiểu học và trung học
cơ sở. Hiện nay ở Tiểu học, văn kể chuyện bắt đầu dạy từ lớp 3. Học sinh tiểu
học cần sớm học văn kể chuyện vì đây là phƣơng thức tự sự đã ổn định đƣợc sử
dụng nhiều trong đời sống, trong nhà trƣờng và trong văn học. Từ thuở còn thơ,

12
trẻ em đã sớm học và tập dùng văn kể chuyện. Tại các lớp mẫu giáo nhỡ và lớn,
các em đƣợc nghe đƣợc tập kể chuyện. Ở trƣờng tiểu học, có nắm đƣợc văn kể
chuyện học sinh mới có cơ sở hiểu rõ hơn các bài tập đọc trích từ truyện ngắn,
truyện dài, viết dựa trên phƣơng thức tự sự.

Đây là kiểu bài kể truyện nhƣng ở mức độ thấp vì cốt truyện, nhân vật, tình
tiết, chi tiết và cả ngôn từ đã có trong văn bản truyện. Ngƣời kể chỉ cần nhớ lại
sau khi đọc và nghe kể. Tuy nhiên khi kể lại, không phải ngƣời kể chỉ làm
nhiệm vụ đọc thuộc lòng câu chuyện, không sai một chữ, một dấu phẩy là đƣợc.
Họ phải dựa vào cốt truyện, nhân vật, chi tiết thậm chí đến cả một vài ngôn từ
của truyện rồi dùng lời của mình để kể. Mục đích của họ là giúp ngƣời nghe biết
đƣợc câu chuyện, nắm đƣợc ý nghĩa của truyện. Ví dụ: Kể lại truyện “ Cây tre
trăm đốt” đừng lạc thành truyện “ Tấm Cám”; kể lại truyện “Dế Mèn phiêu lưu
kí” đừng đƣa nhân vật Sọ Dừa vào. Đây là điều bắt buộc. Vì thế, biết bao thế hệ
ông bà đã kể cho con cháu nghe nhƣng truyện “Tấm Cám” vẫn là truyện “Tấm
Cám”, truyện “Cây tre trăm đốt”, “Sọ Dừa”… cũng vậy.
Yêu cầu khi kể lại truyện đã nghe, đã đọc:
+ Khi kể lại, ngƣời kể phải giữ đúng ý nghĩa câu chuyện, kể trung thành cốt
truyện, nhân vật, chi tiết quan trọng nhƣng lại có thể dùng lời lẽ khác nhau, cách
nhấn mạnh hay lƣớt qua, cách sử dụng giọng điệu khác nhau để kể.
+ Khi kể lại, ngƣời kể có thể thay đổi ngôi kể. Câu chuyện “Cây tre trăm
đốt” có thể kể lại bằng lời của anh trai cày, lúc đó câu chuyện sẽ bắt đầu bằng
lời tự giới thiệu: “Tôi là anh trai cày đi ở cho phú ông trong làng…”. Kể lại
bằng lời anh trai cày khiến câu chuyện đã nghe quen mà lạ, mới mẻ.
+ Sự sáng tạo của ngƣời kể lại chuyện đã nghe, đã đọc không phải không
có nhƣng nó không đƣợc vi phạm cốt truyện, không đƣợc làm ngƣời nghe hiểu
lầm hoặc hiểu sai ý nghĩa câu chuyện.
Hai loại ngôi kể khi kể lại truyện đã đọc, đã nghe.
+ Kể theo lời ngƣời dẫn truyện: Các truyện cổ tích, nhiều truyện ngắn,
truyện dài đã viết theo cách này. Khi đọc hoặc nghe kể đoạn mở đầu truyện
Thạch Sanh: “Ngày xửa ngày xưa, ở một khu rừng nọ, có gia đình một người
tiều phu”, có bao giờ ta tự hỏi: Ai đang kể câu chuyện này đây nhỉ? Rõ ràng đây
không phải là lời Lí Thông, không phải lời Thạch Sanh, cũng không phải lời
công chúa Quỳnh Nga… Nếu là lời Thạch Sanh thì Thạch Sanh phải xƣng “tôi”

15
c) Kiểu bài kể chuyện sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng
- Khái niệm
Kể chuyện bao giờ cũng sử dụng nhiều yếu tố tƣởng tƣợng. Song với từng
kiểu bài kể chuyện, yếu tố tƣởng tƣợng đƣợc huy động ở các mức độ khác nhau.
Chẳng hạn khi kể lại câu chuyện đã đọc, đã nghe, ngƣời kể huy động trí nhớ là
chủ yếu, kết hợp với trí tƣởng tƣợng để nhớ lại câu chuyện đó và kể lại. Kể
chuyện ngƣời thật, việc thật cũng đòi hỏi ngƣời kể sử dụng trí tƣởng tƣợng
nhƣng ở mức độ đơn giản hơn. Lúc này, ngƣời kể dùng trí tƣởng tƣợng để hình
dung ngƣời và sự việc trong câu chuyện định kể, lƣợc bớt những chi tiết thừa,
sắp xếp để làm nổi lên những chi tiết chủ yếu, cốt lõi, làm nổi rõ ý nghĩa câu
chuyện. Còn khi kể lại câu chuyện ngƣời viết tự sáng tạo ra, yếu tố tƣởng tƣợng
đƣợc huy động ở mức độ cao hơn, phức tap hơn so với khi làm bài kể câu
chuyện ngƣời thật, việc thật. Ngƣời kể phải dựa vào vốn hiểu biết đời sống của
mình, kết hợp với yếu tố tƣởng tƣợng để xây dựng cốt truyện, sáng tạo ra số
phận và cuộc sống của nhân vật, tƣởng tƣợng ra kết thúc của một truyện.
Kể chuyện sử dụng nhiều yếu tố tƣởng tƣợng (kể chuyện tƣởng tƣợng) là
một trong những kiểu bài của văn kể chuyện. Kiểu bài này đòi hỏi ngƣời làm bài
có nhiều sáng tạo hơn so với kiểu bài khác.
- Đối tượng và yêu cầu của kiểu bài kể chuyện sử dụng nhiều yếu tố tưởng
tượng
Nếu hai kiểu bài kể chuyện: Kể lại câu chuyện đã đọc, đã nghe và kể
chuyện ngƣời thật, việc thật là nội dung học tập của tất cả HSTH thì kiểu bài kể
chuyện sử dụng nhiều yếu tố tƣởng tƣợng lại là nội dung bồi dƣỡng cho học sinh
giỏi, học sinh có năng khiếu về văn tiếng Việt.
Kiểu bài này đòi hỏi ngƣời kể phải tự sáng tạo ra cốt truyện, tự sáng tạo ra
nhân vật, các chi tiết, cũng nhƣ tự sáng tạo ra ý nghĩa câu chuyện.
- Các loại đề bài thuộc kiểu bài kể chuyện sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng

* Kể tiếp một câu chuyện có trƣớc
Một số đề bài;
- Em hãy tưởng tượng và kể chuyện ông Gióng trở về
- Cháu của Trâu, của cọp, của Người gặp nhau. Chuyện gì sẽ xảy ra. Hãy
kể lại

17
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trường Tiểu học
Phân môn Tập làm văn là một phân môn khó, mang tính chất tích hợp cao
của các phân môn khác. Nó có vai trò rất quan trọng nhằm cung cấp cho HS
những kiến thức, kĩ năng để xây dựng một văn bản nói hoặc viết. Vì vậy để tiến
hành có hiệu quả công tác dạy học nói chung và nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy
học phân môn Tập làm văn nói riêng ở lớp 4, 5 đòi hỏi ngƣời Giáo viên phải có
năng lực, hiểu biết sâu rộng, nắm vững tri thức và sử dụng từ và câu một cách
phù hợp, khoa học. Bên cạnh đó GV cũng cần nắm vững nội dung, chƣơng trình
SGK và các tài liệu hƣớng dẫn đối với môn học mà mình đảm nhiệm.
Qua trao đổi với một số thầy cô trực tiếp giảng dạy bộ môn này ở khối 4, 5
và một số GV khác trong trƣờng về sự ra đời của văn kể chuyện trong phân môn
Tập làm văn cũng nhƣ ý nghĩa và sự tác động của nó trong việc dạy học môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, tôi thấy đa số GV đều
cho rằng sự ra đời của văn kể chuyện đối với phân môn Tập làm văn là rất cần
thiết. Văn kể chuyện giúp HS đi sâu khám phá kiến thức và đúc rút ra đƣợc bài
học, kinh nghiệm sống từ những câu chuyện. Hơn thế nữa, nó còn khơi gợi ở HS
lòng đam mê đọc truyện, phát huy trí tƣởng tƣợng phong phú và óc sáng tạo của
HS. Từ đó HS đƣợc hoàn thiện và nâng cao dần trong việc tạo lập văn bản (bài
nói, bài viết) và vận dụng vào việc ứng xử, giao tiếp hằng ngày.
Qua thực tế khảo sát, kiểm tra, tôi nhận thấy:
- Trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị luôn quan tâm, chỉ đạo thực hiện công tác
chuyên môn có hiệu quả nâng cao nghề cho giáo viên.

học, việc sử dụng đồ dùng trực quan có vai trò, ý nghĩa quan trọng. Đồ dùng
trực quan không chỉ là hình ảnh minh họa mà nó còn cung cấp kiến thức, tác
động đến xúc cảm đạo đức, trí tuệ và thẩm mĩ ở học sinh. Nhƣ vậy, việc sử
dụng đồ dùng trực quan là rất quan trọng. Khi trao đổi với các giáo viên chúng
tôi thấy những đồ dùng trực quan mà giáo viên sử dụng thƣờng là bảng phụ,
phiếu học tập, tranh ảnh minh họa. Tuy nhiên một số GV chƣa khai thác triệt
để đƣợc kiến thức mà đồ dùng trực quan mang lại, chƣa sử dụng hợp lí, đúng
lúc đúng chỗ.

19
- Việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm cho việc
tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng bớt đi vẻ khô khan, bài học trở nên sinh
động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh có hứng thú học tập. Nhờ đó quá trình dạy học
đạt hiệu quả hơn. Tuy nhiên, để đạt đƣợc hiệu quả dạy học phải biết bố trí thời
gian chơi hợp lí, phải thu hút đông đảo HS tham gia. Đa số các GV chƣa thực
hiện tốt đƣợc điều này.
- Trong quá trình dạy học, GV đã sử dụng rất nhiều PPDH khác nhau nhƣ
phƣơng pháp trực quan, phƣơng pháp thực hành luyện tập, phƣơng pháp thảo
luận, nêu vấn đề…nhƣng GV chƣa biết cách kết hợp linh hoạt các phƣơng pháp
đó hoặc cách kết hợp linh hoạt các PPDH đó của GV chƣa đƣợc tốt dẫn đến
chƣa mang lại hiệu quả cao trong dạy học.
- Ở một số giáo viên vẫn còn tồn tại tình trạng dạy văn kể chuyện đơn điệu,
phụ thuộc nhiều vào SGK , sách thiết kế, ít sáng tạo, bài giảng chƣa thực sự
sinh động và lôi cuốn HS - Vì cho đây là loại văn dễ đối với các em. Đồng
thời, vốn từ ngữ của GV chƣa phong phú, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu hƣớng
dẫn HS mở rộng phát triển vốn từ. Vì vậy, việc GV hƣớng dẫn làm văn chƣa
đạt hiệu quả cao.
Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một phần do trình độ nhận thức, năng
lực sƣ phạm của giáo viên, cũng có thể chính ngay trong giáo viên cũng thiếu tri
thức khoa học, cũng nhƣ vốn sống thực tế. Một nguyên nhân nữa là “bệnh thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status