TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA – KHOA KINH TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
ĐỀ TÀI :
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỂ HẠN CHẾ LẠM PHÁT
TRONG NĂM 2008 - 2012
GIÁO VIÊN HD : TH.S LÊ THÙY LINH
SINH VIÊN TH : NGUYỄN THỊ VÂN
MSSV : 11035253
LỚP : CDTN13TH
THANH HÓA, THÁNG 06 NĂM 2014.
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
1.1. Khái quát về chính sách tiền tệ và lạm phát
1.1.1.Lạm phát
Là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.Trong một
nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng
tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của
một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì
người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một
quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ
trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này
vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với
lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì
được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".
1.1.2. Tác động của lạm phát.
Các hiệu ứng tích cực:
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ
tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ
"dầu bôi trơn" đế miêu tả tác động tích cực của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải
làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm
đi. Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được
tạo thêm. Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
Các hiệu ứng tiêu cực
Đối với lạm phát dự kiến được: Trong trường hợp lạm phát có thể được dự
kiến trước thì các thực thế tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với
nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tốn thất cho xã hội.
Chi phí da giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền
và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 5
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không
đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa
phải. Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân
phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy
chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này.
Nhìn chung, khi lạm phát ở mức cao sẽ có ảnh hưởng xấu tới xã hội. Do
đó, Chính phủ phải có giải pháp khắc phục, kiềm chế và kiếm soát lạm phát. Có
nhiều giải pháp đế kiểm soát lạm phát nhưng ở tiểu luận này tôi chỉ xin phân
tích giải pháp sử dụng chính sách tiền tệ đế kiếm soát lạm phát.
1.2. Chính sách tiền tệ.
Khái niệm:
Là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung
ương đế đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ốn
định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính
sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể
trực tiếp hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, qui định mức dự
trữ bắt buộc, hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối.
1.3. Các công cụ của chính sách tiền tệ.
Công cụ tái cấp vốn: Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương
đối với các Ngân hàng thương mại. Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng
thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo
cơ sở cho Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán
của họ.
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt Buộc: Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô
hiệu hóa trên tống số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toan
(cho vay) của các Ngân hàng thương mại.
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: Là hoạt động Ngân hàng Trung ương
mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về
giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương
dùng tương lai. Do vậy, trong ngắn hạn thắt chặt tiền tệ ảnh hưởng về phía cầu
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 8
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
của thị trường và làm suy giảm sản lượng và giá cả. Do chi phí vốn tăng cao,
nhà sản xuất sẽ cắt giảm vốn đầu tư và tín dụng lưu động đế giảm sản lượng
tương ứng.
Trong trường hợp thắt chặt tiền tệ cần thực hiện từng bước đế đảm bảo
rằng thị trường tiền tệ không bị sốc, đảm bảo sự ổn định hệ thống tài chính và
kiểm tra mức độ chịu đựng của thị trường tiền tệ.
Do chính sách tiền tệ có độ trễ nhất định từ các chính sách (khoảng hai
quý), nên hiệu quả chống lạm phát của chính sách thắt chặt tiền tệ chúng ta chưa
hy vọng có một kết quả ngay.
Thắt chặt tiền tệ không có nghĩa rằng lạm phát gia tăng do chi phí vốn tăng
cao, đẩy giá hàng hóa tăng. Trên thực tế tổng chi phí vốn sẽ giảm do doanh
nghiệp sẽ cắt giảm vốn lưu động và nhân sự và chi phí nói chung để đáp ứng
mức cầu mới yếu hơn.
Điều này có nghĩa rằng, các nhà sản xuất sẽ phải chấp nhận mức tăng giá
cân bằng thấp hơn mức tăng giá trước đây. Điều này hoàn toàn ngược lại với
quan điếm cho rằng lãi suất cao sẽ dẫn tới chi phí vốn doanh nghiệp cao. Một
điều hoàn toàn bình thường là với mức lãi suất cao, doanh nghiệp sẽ ngừng và
giảm vay tiền, tức là điều chỉnh hành vi, chứ không phải là chấp nhận mức chi
phí cao và tiếp tục sản xuất.
Câu hỏi đặt ra là mức thắt chặt như thế nào là đủ?
Không thế có một câu trả lời chính xác, nó tùy thuộc vào niềm tin của thị
trường với hiệu quả của chính sách tiền tệ. Nhiều người cho rằng, thị trường
chưa tin chính sách kiểm soát lạm phát với bằng chứng giá cả tăng ngay sau khi
tỷ giá và giá xăng tăng, phớt lờ tuyên bố kiềm chế lạm phát của Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, đó chỉ là bề nối và thực tế cho thấy đây là một phản ứng bình
thường của thị trường với một số hàng thiết yếu chứ không phải với nhiều mặt
Có thể nói rằng, năm 2008 là năm mà nền kinh tế trong nước có những biến
động rất lớn. Năm 2008, thị trường ngân hàng trong nước đã trải qua những biến
động chưa từng có về lãi suất, tỷ giá Thực hiện chính sách tài chính tiền tệ linh
hoạt, hiệu quả, lúc thắt chặt, lúc nới lỏng. Việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới
lỏng dần cuối năm đã tạo nên tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có
trong lịch sử.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 11
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, trong vòng 3 tuần đầu của tháng
2 năm 2008 NHTM đã thực hiện đồng thời 4 biện pháp thắt chặt tiền tệ của
NHN
Thứ nhất : Quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11 % đồng thời
mở rộng thêm phạm vi tiền gửi dự trữ bắt buộc.
Thứ hai : Phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc. Ba NHTM
nhà nước lớn nhất, mỗi ngân hàng phải mua 3000 tỷ đồng.Các loại tín phiếu
trước đây được giao dịch trên thị trường mở với NHNN thì giờ NHNN nói rõ là
không được vay tái cấp vốn
Thứ ba : Từ tháng 2/2008 các loại lãi suất chủ đạo của NHNN tăng hơn
trước
Thứ tư : NHNN ban hành quỵết định sổ 03/2008/ỌĐ-NHNN ngày
1/2/2008 về sửa đổi chỉ thị về cho vay chứng khoán. Quyết định 03 còn thắt chặt
về cho vay chứng khoán hơn Chỉ thị 03 trước.
Với 4 quyết định được coi là cứng rắn và kiên quyết nói trên trong điều hành
CSTT của NHNN đã gây ra các tác động sốc và phản ứng tiêu cực tức thì của thị
trường tiền tệ và của NHTM. Có thế nói đây là một cú phanh gấp trong quá trình
tụt dốc của nền kinh tế nhằm ngăn chặn vật giá leo thang và lạm phát.
Như vậy, trên đây là điều chỉnh mở rộng nghiệp vụ thị trường mở của
NHNN nhằm thu hồi lượng tiền mặt quá lớn đồng thời thắt chặt tín dụng của các
NHTM
Lãi suất: Lãi suất biến động mạnh và liên tục tăng cao trong những tháng
hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ
tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.
Giai đoạn 2 (từ 26/03 - 16/07): Tăng với tổc độ chóng mặt tạo cơn sốt
USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa
tháng 6, đỉnh điêm lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600
đồng so với mức trần. Tâm lý hoang mang cộng với động thái đầu cơ của giới
buôn ngoại tệ trên thị trường tự do đẩy USD cùng với giá vàng tăng mạnh lên
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 13
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
gần 19 triệu đồng/lượng.Tỷ giá lên đỉnh ngày 18/06, sau đó giảm dần. Ngày
27/06, NHNN tăng biên độ USD/VND từ 1% lên 2%.
Nguyên nhân USD tăng mạnh trong giai đoạn này chủ yếu do tâm lý bất
ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng thái
găm ngoại tệ của giới đầu cơ. Nhu cầu mua ngoại tệ trả các khoản nợ của cả DN
xuất và nhập khấu đến hạn cao; Tăng nhập khấu vàng do chênh lệch lớn giữa giá
vàng trong nước và quốc tế.
Nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc bán Trái
phiếu chính phủ khi lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản
thấp trên thị trường thế giới đấy nhu cầu mua USD chuyến vốn về nước lên cao
(bán ròng 0,86 tỷ USD).
Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với
doanh nghiệp xuất khấu (theo quyết định sổ 09/2008/ỌĐ, NHNN không cho
phép vay đề chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuất
khẩu) giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên thị
trường.
Giai đoạn 3 (từ 17/07 - 15/10): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.
Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã được chặn đứng,
tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịch
bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 - tháng 11. Nhận
tiền gửi bằng ngoại tệ từ 11% xuống 7%.
Như vậy, năm 2008 là năm hệ thống Ngân hàng Việt Nam phải đối mặt
với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đoi
mới.Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước trong 6 tháng
đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những phản ứng kịp thời,
sử dụng đồng bộ và quyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm
kiềm chế lạm phát có hiệu quả và ôn định kinh tế vĩ mô. Các công cụ chính sách
tiền tệ được điều hành linh hoạt đế hút tiền từ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính
thanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷ giá theo túi hiệu thị trường.
Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 15
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
thị trường ngoại hối và của các tô chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tín dụng
quá nóng có thê gây mất an toàn hệ thống của các tô chức tín dụng. Đen cuối
năm 2008, đe chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắt chặt
được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng. Chính sách ten tệ chưa thể
nói là cực chuẩn nhưng có thể nói là thành công.
Tuy nhiên, do Chính phủ không dự đoán được tình hình khủng hoảng xảy
ra nên việc áp dụng CSTT của NHNN được thực hiện trong bị động và tình hình
căng thẳng, Việc thắt chặt CSTT đột ngột trong giai đoạn đầu sẽ tạo ra cú sốc
lớn và gây ra các phản ứng tiêu cực tức thời của thị trường tiền tệ và của
NHTM. Thêm vào đó, sự mâu thuẫn giữa các mục tiêu trong ngắn hạn sẽ khiến
cho nền kinh tế trong ngắn hạn không thể thực hiện được tất cả các mục tiêu của
chính sách tiền tệ.
2.1.2. Năm 2009.
Tình hình kinh tế: Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp
nhiều khó khăn, thách thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn
trong năm 2008 đã đây kinh tế thế giới vào tình trạng suy thoái, làm thu hẹp
đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thị trường lao động và tác động
tiêu cực tới nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội khác của nước ta. chính sách tiền tệ
USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +1-5% so với tỷ giá bình
quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ
trên thị trường như bán ngoại tệ hồ trợ nhu cầu nhập khấu các mặt hàng thiết yếu
đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hòa ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ
trên ngân hàng.
Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại
tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số doanh
nghiệp nhập khâu lớn chuyên từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; phối hợp
chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiêm soát nhập siêu và đáp ứng các nhu
cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế.
Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như
phối hợp với các bộ, ngành kiêm tra, xử lý vi phạm đổi với các hành vi quảng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 17
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng
cường kiêm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại và
hoạt động của các đại lý đối ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm.
Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của
các doanh nghiệp và người dân như đấy mạnh công tác tuyên truyền và công bố
công khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các
NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho
vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009
và giảm tiếp xuổng mức không quá 3%/năm kê từ ngày 01/6/2009, lãi suất huy
động giảm xuống mức không quá 1,5%/năm kế từ ngày 01/6/2009).
Đồng thời đề nghị Hiệp hội Ngân hàng yêu cầu các NHTM cô phần đồng
thuận giảm lãi suất huy động và cho vay bằng ngoại tệ như các NHTM nhà nước
ke từ ngày 8/6/2009. Các biện pháp trên đã có tác động giảm áp lực thiếu cung
ngoại tệ trên thị trường, giữ được thị trường ổn định.
Tuy nhiên, diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là thách
thức cho thực thi CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện
Bên cạnh đó, các tô chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở
xuống lại được NHNN bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng
cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khấu, đặc biệt ưu
tiên những mặt hàng nhập khấu phục vụ sản xuất.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi suất
chỉ đạo lên thêm 1%. Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù họp với tình hình
thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời
chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước mắt ốn định thị trường ngoại hối.
Như vậy, có thể nói những khó khăn nhất đã qua, năm 2009 mặc dù phải
đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình thực thi CSTT, nhưng với sự
điều hành linh hoạt, sự ứng phó kịp thời với những biến động của tình hình, về
cơ bản CSTT đã đạt được mục tiêu của năm 2009 là kiềm chế lạm phát từ mức
19,98% năm 2008 xuống còn 6,52%, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 5,2% và
CSTT đã góp phần quan trọng vào ôn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, nền kinh tế
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 19
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và đòi hỏi CSTT của NHNN phái có phản ứng
kịp thời để ngăn chặn.
2.1.3. Năm 2010
Tình hình kinh tế: Trong giai đoạn 2010 nền kinh tế thế giới phục hồi sau
khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế 4,8%, thương mại tăng 11,4%. Năm
2010, theo đánh giá của Chính phủ, kinh tế nước ta tiếp tục đà phục hồi và tăng
trưởng khá. Kinh tế trong nước tăng trưởng cao (6,78%) nhờ động lực đầu tư
(vốn đầu tư toàn xã hội tăng 12,9%), xuất khấu (25,5%) và tiêu dùng (tông mức
bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 24,5%); các cân đối lớn của nền kinh tế và an
sinh xã hội cơ bản được đảm bảo.
NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận trọng,
phù hợp với Nghị quyết Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và bám sát tình hình
thực tế, góp phần quan trọng đê thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, thể hiện
cụ thể là:
Điều chỉnh tỷ giá mua - bán ngoại tệ của các TCTD tăng 5,52%; thực hiện
các biện pháp ôn định thị trường ngoại tệ, như kết hối ngoại tệ đối với 7 tập
đoàn, tổng công ty nhà nước, quy định trần lãi suất tiền gửi của tổ chức kinh tể
bằng USD 1%/năm, bán ngoại tệ cho nhập khấu mặt hàng thiết yếu, chỉ đạo các
TCTD hạn chế cho vay nhập khấu mặt hàng không thiết yếu và không khuyến
khích. Thị trường ngoại tệ và tỷ giá tương đối ôn định trong hơn 9 tháng đầu
năm; từ tháng 10, tỷ giá thị trường tăng phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô.
Thực hiện các giải pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng ngay từ đầu
năm. Đóng cửa sàn giao dịch vàng và chấm dứt kinh doanh vàng trên tài khoản
ở nước ngoài; điều hành xuất - nhập khấu vàng phù hợp với nhu cầu thị trường;
ban hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010 thu hẹp huy động và
cho vay bằng vàng; phối hợp với các bộ, ngành chống đầu cơ, buôn lậu vàng.
Giá vàng trong nước tăng bám sát giá thế giới, hiện tượng tâm lý đám đông và
đầu cơ có xu hướng giảm.
Giám sát chặt chẽ diễn biến thị trường tiên tệ và thực hiện các giải pháp
đảm bảo an toàn hệ thống. Hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM, ban hành quy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 21
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
định mới phù hợp với thông lệ, chuấn mực quốc tế và điều kiện thực tế của hệ
thống TCTD nước ta về tỷ lệ an toàn, cấp giấy phép thành lập và hoạt động
NHTM cổ phần, sáp nhập, họp nhất, mua lại TCTD, quản trị kinh doanh của
NHTM; giãn tiến độ tăng vốn điều lệ của các TCTD theo Nghị định
141/2006/NĐ-CP đến cuối năm 2011; Cơ quan Thanh tra giám sát, NHNN chi
nhánh tỉnh, thành phố tăng cường thanh tra, kiểm tra các TCTD. Năm 2011, tài
sản có của hệ thống TCTD tăng 28%, tỷ lệ an toàn kinh doanh phù họp với quy
định của NHNN, tỷ lệ nợ xấu khoảng 2,5%; tình hình thanh khoản và lãi suất thị
trường tiền tệ trong nửa cuối tháng 12 tương đối ổn định.
Tiếp tục hỗ trợ lãi suất đổi với các khoản vay được giải ngân năm 2009 và
các khoản cho vay năm 2010 theo Quyết định số 2072/QĐ-TTg ngày
11/12/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009; cuối tháng 12, dư
hàng đã thực hiện đồng thuận lãi suất huy động VND không vượt quá 14%/năm;
lãi suất cho vay bình quân 15,27%/năm.
Thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã dần ổn định, nguồn cung ngoại tệ
được cải thiện đáng kể, tỷ giá diễn biến phù hợp với mục tiêu khuyến khích xuất
khấu, góp phần hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Giá
vàng trong nước diễn biến tương đối sát với giá vàng thế giới, chênh lệch giá
vàng trong nước và thế giới đã được thu hẹp.
Từ thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ năm 2010 và các năm gần đây,
NHNN rút ra một sổ kinh nghiệm cho điều hành năm tới:
Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và thận
trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là ôn định kinh tế vĩ mô; sử dụng đồng bộ, hài
hòa các công cụ vận hành theo cơ chế thị trường, kết hợp với các quy định quy
phạm pháp luật đe ôn định thị trường tiền tệ, kiểm soát tín dụng và tông phương
tiện thanh toán gia tăng ở mức hợp lý.
Hai là, tạo điều kiện cho các TCTD huy động vốn trong và ngoài nước, đi
đôi với chuyên dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng tín dụng đê tập trung vốn cho
lĩnh vực sản xuất, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 23
Bài tiểu luận môn Nghiệp vụ ngân hàng Trung ương
Ba là, thông tin ra thị trường một cách công khai, minh bạch, kịp thời và
nhất quán về điều hành chính sách tiền tệ, đê củng cổ lòng tin và sự đồng thuận
của cộng đồng doanh nghiệp, dân cư, các nhà đầu tư ở trong và ngoài nước.
Bốn là, tiếp tục cơ cấu lại hệ thống TCTD phù hợp với các chuấn mực an
toàn, hiệu quả của thông lệ quốc tế, với các bước đi thích họp; đảm bảo kỷ
cương trong điều hành.
Năm là, phối hợp ngay từ đầu năm kế hoạch các giải pháp cụ thế trong điều
hành chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
2.1.4. Năm 2011.
Tình hình kinh tế : về những giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều
mức lãi suất chỉ đạo như vừa qua, và nếu NHNN tiếp tục tăng các loại lãi suất
này, chắc chắn sẽ tác động trực tiếp tới lãi suất huy động và cho vay trên thị
trường của các ngân hàng.
2.1.5. Năm 2012.
Tác động của việc thắt chặt CSTT trong năm 2011 vẫn có tác động mạnh
đến nền kinh tế 2012. Đứng trước nguy cơ giảm phát và suy thoái kinh tế, trong
năm 2012 CSTT đã được điều hành khá thận trọng để có thể khôi phục lại nền
kinh tế trên nguyên tắc kiểm soát và kiềm chế lạm phát. Mục tiêu hàng đầu của
CSTT trong giai đoạn này là giảm lãi suất; đảm bảo mức dư nợ và cơ cấu tăng
trưởng hợp lý. Cụ thể:
Về lãi suất :Trong những tháng đầu năm 2012 trước xu hướng giảm của
CPI và lạm phát kỳ vọng, NHNN đã bắt đầu kéo giảm đồng loạt các lãi suất chính
sách và trần lãi suất huy động. Tình hình thanh khoản ở một số ngân hàng dần được
cải thiện. Tình từ đầu năm 2012 đến thời điểm cuối năm, lãi suất tái cấp vốn
giảm từ 15%/năm xuống còn 10%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm
xuống còn 8%/năm; trần lãi suất huy động kỳ hạn ngắn ngày giảm từ 14%/năm
xuống còn 9%/năm. Song song với động thái kéo giảm trần lãi suất huy động;
Ngân hàng NN cũng áp dụng giảm trần lãi suất cho vay (duy trì ở mức
13%/năm) đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn; sản xuất kinh
doanh hàng xuất khẩu; phục vụ sản xuất kinh doanh của DNVNH; phát triển
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Vân – MSSV: 11035253 Trang 25