Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
ĐA PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC CHƯƠNG
“CẢM ỨNG” (SINH HỌC 11)
BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thái Nguyên - năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thái Nguyên - năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Danh mục chữ cái viết tắt
Danh mục các hình
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lí luận
1.2. Cơ sở thực tiễn
6
13
Chƣơng 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ ĐA
PHƢƠNG TIỆN CHƢƠNG “CẢM ỨNG ” (SINH HỌC 11)
BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0
2.1. Cấu trúc nội dung chương “Cảm ứng ”
2.2. Quy trình thiết kế bài học bằng phần mềm Lecture Maker 2.0
2.3. Quy trình sử dụng
CHỮ VIẾT TẮT
ĐỌC LÀ
BGĐTĐPT
Bài giảng điện tử đa phương tiện
CB
Cơ bản
CNTT
CNTT - TT
Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và truyền thông
ĐC
Đối chứng
ĐV
ĐM PPDH
Động vật
Đổi mới phương pháp dạy học
GAĐTĐPT
Giáo án điện tử đa phương tiện
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
LT
Lý thuyết
NC
Nâng cao
PTDH
PPDH
Phương tiện day học
Phương pháp dạy học
QTDH
Quá trình dạy học
Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khóa VIII Ban chấp hành Trung
ƣơng Đảng cộng sản Việt Nam về định hƣớng phát triển giáo dục và đào tạo
trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã ghi rõ: "Đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào QTDH, bảo đảm điều kiện và thời
gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học" [5].
Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam
lần thứ X tiếp tục đề cập và nhấn mạnh về định hƣớng đổi mới phƣơng pháp
giáo dục: "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức,
cơ chế quản lí, nội dung, phương pháp dạy và học thực hiện chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [6].
Thực hiện Nghị quyết của Trung ƣơng Đảng, chỉ thị của Thủ tƣớng
Chính phủ và Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội, công cuộc đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo đã đƣợc chuẩn bị và triển khai trong cả nƣớc bắt
đầu từ năm học 2001-2002 ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở. Đến năm học
2006-2007 chƣơng trình bậc Trung học phổ thông bắt đầu đƣợc áp dụng [16].
Định hƣớng dạy học hiện nay là lấy ngƣời học làm trung tâm, phát huy
tối đa khả năng tự học của HS dƣới sự hƣớng dẫn của GV. Hƣớng tới học tập
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Tuy nhiên đổi mới phƣơng
pháp dạy học không có nghĩa là gạt bỏ các phƣơng pháp dạy học truyền thống
mà phải vận dụng một cách có hiệu quả các phƣơng pháp dạy học hiện có
theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phƣơng tiện hiện đại.
Thực hiện tinh thần nói trên, Bộ GD – ĐT nƣớc ta cũng đã ra nhiều văn bản,
thông tƣ hƣớng dẫn thực hiện, trong số đó có xác định lấy CNTT là một trong năm
nhiệm vụ trọng tâm.
1.3. Xuất phát từ tính ƣu việt của phần mềm Lecture maker
Phần mềm LectureMaker của hãng Daulsoft - Hàn Quốc. Đây là phần
mềm tạo bài giảng điện tử, trực quan, thân thiện và tƣơng đối dễ dùng.
LectureMaker có các chức năng và giao diện tƣơng tự PowerPoint 2007
(nhƣng khả năng liên kết mạnh mẽ hơn nhiều).
Lecture Maker có khả năng đƣa vào những tâp tin multimedia,
power point, pdf đã sẵn có… Bộ công cụ soạn thảo các câu hỏi trắc
nghiệm đƣợc tích hợp vào chƣơng trình rất hiệu quả. Các nhà CNTT
khẳng định rằng Lecture Maker trong dạy - học là một loại phƣơng tiện
dạy học có khả năng tăng cƣờng tính trực quan rất hiệu quả, nó có tác
dụng kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo của ngƣời học , giúp thực
hiện tốt việc phân hóa, cá thể hóa trong dạy học. Bởi vì: Phần mềm
Lecture Maker là một trong những phần mềm thể hiện đƣợc rất nhiều ƣu
điểm: Giúp tạo đƣợc bài giảng với đầy đủ hình ảnh sinh động kèm theo
âm thanh, các đoạn video clip, tích hợp trắc nghiệm khách quan, có thể
sử dụng những học liệu tin học từ những nguồn cung cấp khác nhau kể
cả những bài soạn cũ trên các phần mềm khác của giáo viên. Lecture
Maker giúp bài giảng trở nên sinh động hơn, logic hơn, ấn tƣợng tốt hơn,
HS dễ hiểu và khắc sâu kiến thức tốt hơn. Cũng vì những lẽ đó Cục
CNTT của Bộ GD – ĐT cho rằng Lecture Maker tuy là con đẻ của Power
point nhƣng trong tƣơng lai gần chính nó sẽ thay thế cho phần mềm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Power point trong soạn thảo bài giảng điện tử đặc biệt là bài giảng điện
tử đa phƣơng tiện.
Với những lý do trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Thiết kế và
sử dụng bài giảng điện tử đa phƣơng tiện dạy học chƣơng “Cảm
ứng”(Sinh học 11) bằng phần mềm Lecture maker 2.0
6. Giới hạn nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 thiết kế bài giảng điện tử đa
phƣơng tiện chƣơng “Cảm ứng” (Sinh học 11 CB)
- Thực nghiệm sƣ phạm: một số trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
7. Những đóng góp mới của luận văn
7.1. Xây dựng các bài giảng tích hợp TTĐPT trong chƣơng “Cảm ứng” (SGK
Sinh học 11 CB) bằng phần mềm Lecture Maker.
7.3. Tổ chức dạy học theo hình thức thảo luận có sử dụng các bài giảng
7.4. Đánh giá đƣợc nhu cầu và triển vọng sử dụng bài giảng tích hợp TTĐPT
trong dạy học Sinh học 11 CB, kiến thức chƣơng “Cảm ứng” ở trƣờng THPT Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
và Nhà nƣớc rất coi trọng, việc đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phƣơng
tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ
thị của Đảng, Chính phủ, Bộ GD& ĐT đã thể hiện rõ điều này trong các văn
bản: Nghị quyết của Chính phủ về chƣơng trình quốc gia đƣa CNTT vào giáo
dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII, Luật giáo dục, Nghị
quyết 81 của Thủ tƣớng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ GD& ĐT, Chiến lƣợc
phát triển giáo dục 2001 – 2010,…
Trong Nghị quyết Trung ƣơng 2, khoá VIII Đảng và Nhà nƣớc ta khẳng
định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS,…”[28].
Chỉ thị số 29 của Bộ GD& ĐT (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cƣờng
giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 –
2005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”,
nhƣng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy
sự phát triển của CNTT ” [2].
Trong “Chiến lƣợc phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ
GD& ĐT đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bƣớc phát triển giáo dục dựa
trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong
quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người
học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học” [ 2 ].
Đặc biệt, công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày 7/9/2007 của Bộ
GD& ĐT gửi cho các sở giáo dục và đào tạo, các trƣờng đại học, cao đẳng sƣ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
phạm và các khoa sƣ phạm, yêu cầu phải nhanh chóng “đẩy mạnh việc dạy
môn Tin học và ứng dụng CNTT trong giáo dục, góp phần đổi mới phương
Nếu trƣớc kia trong hệ thống giáo dục truyền thống ngƣời ta nhấn
mạnh tới phƣơng pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, GV thƣờng là nguồn
tài liệu duy nhất cho HS học tập, “thầy đọc, trò chép” và học sinh phải đến
trƣờng để học. Thì ngày nay trong hệ thống giáo dục hiện đại, GV đã phải dần
dần trở thành ngƣời hƣớng dẫn HS biết dùng máy tính và Internet để tự tìm
nội dung, hình thành và phát triển cho học sinh các phƣơng pháp học chủ
động, GV đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ khó khăn cho HS,
giúp HS xây dựng tƣ duy.
Ứng dụng CNTT-TT vào việc dạy học có nghĩa là việc đầu tiên mà
ngƣời GV phải thực hiện là có các giáo án điện tử. Giáo án điện tử cần phải
đƣợc hiểu thống nhất nhƣ là một phƣơng pháp dạy học trong đó giáo viên
khai thác tiện ích của CNTT-TT để thiết kế các nội dung học tập nhằm giúp
học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng phát triển tƣ duy, nhận thức
mà còn phát triển cả kỹ năng xử lý thông tin và kỹ năng giao tiếp.
Bài giảng điện tử đa phƣơng tiện là một hình thức tổ chức bài lên lớp
nhằm thực thi giáo án điện tử.
Bài giảng điện tử đa phƣơng tiện là một hình thức tổ chức bài lên lớp
mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều đƣợc chƣơng trình hoá do
GV điều khiển thông qua môi trƣờng multimedia do máy vi tính tạo ra.
Cần lƣu ý BGĐT không phải đơn thuần là các kiến thức mà HS ghi vào
tập mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống sẽ xãy ra
trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của HS.
Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng
đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hƣớng trong tất cả các hoạt
động trên lớp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Các đơn vị của bài học đều phải đƣợc Multimedia hóa. Multimedia
con ngƣời, thực hiện đƣợc những công việc mang tính trí tuệ cao của các
chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau.
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng đƣợc kết nối với
nhau cùng với ngƣời sử dụng qua mạng máy tính kể cả Internet … có thể
đƣợc khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi cho HS học tập
trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, HS sẽ độc
lập tiếp thu đƣợc hệ thống kiến thức cơ bản một cách thuận lợi nhất.
- Những thí nghiệm, tài liệu đƣợc cung cấp bằng nhiều kênh: kênh
hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, hứng thú, dễ tiếp
thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất,
những quy luật mới. Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin,
truyền thông trong quá trình đổi mới phƣơng pháp dạy học. Có thể khẳng
định rằng, môi trƣờng CNTT – TT chắc chắn có tác động tích cực tới sự
phát triển trí tuệ của HS, điều này làm nảy sinh những phƣơng pháp học tập
mới.
- Nếu trƣớc kia ngƣời ta nhấn mạnh tới phƣơng pháp dạy sao cho HS
nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay mỗi GV phải đặt trọng tâm là dạy sao để cho HS
hứng thú, chủ động, sáng tạo có phƣơng pháp học tâp. Nếu trƣớc kia ngƣời
ta thƣờng quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ
năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo
của HS. Nhƣ vậy, việc chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS
làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn.
1.1.3. Ƣu điểm của phần mềm Lecture Maker 2.0 trong thiết kế BGĐTĐPT
[13], [23], [27]
Lecture Maker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử đa phƣơng tiện, sản
phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com). Với Lecture Maker, bất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
13
Phần mềm cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày. Nhiều dạng bài giảng e-
learning sống động với sự kết hợp các mẫu trình bày đƣợc cung cấp nhƣ của
PowerPoint, hay kết hợp giữa video với text, hay âm thanh với text,… có thể
đƣợc tạo ra một cách dễ dàng.
- Nút tƣơng tác
Các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang đƣợc sử dụng trong
soạn thảo bài giảng nhằm định hƣớng nội dung bài học cũng nhƣ làm tăng
khả năng tƣơng tác học tập.
- Bài giảng sinh động
Với việc sử dụng webcam, microphone, chức năng bảng điện tử, khả
năng tự ghi lại giúp bài giảng có thể đƣợc soạn thảo một cách hiệu quả và
sáng tạo bằng cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng. Kết quả thu đƣợc
là một bài giảng sinh động với đầy đủ các hoạt động trên lớp mà qua đó ngƣời
học hoàn toàn tự học đƣợc.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học, thuận lợi và thách thức
a, Thuận lợi
Ƣu điểm nổi bật của PPDH bằng CNTT so với phƣơng pháp giảng dạy
truyền thống là.
- Môi trƣờng đa phƣơng tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera …
với âm thanh, văn bản, biểu đồ … đƣợc trình bày qua máy tính theo kịch bản
vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tƣợng
trong tự nhiên, xã hội trong con ngƣời mà không thể hoặc không nên để xảy
ra trong điều kiện nhà trƣờng.
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con ngƣời, thực hiện
những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên
những lĩnh vực khác nhau.
“slide” nhƣ khi dạy trên máy tính điện tử. Những mạch kiến thức “ vận dụng”
đòi hỏi GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phƣơng pháp dạy học
truyền thống mới rèn luyện đƣợc kĩ năng cho học sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn
chế, chƣa đủ vƣợt ngƣỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh. Mặc
khác, phƣơng pháp dạy học cũ vẫn còn nhƣ một lối mòn khó thay đổi, sự uy
quyền, áp đặt vẫn chƣa thể xoá đƣợc trong một thời gian tới. Việc dạy học tƣơng
tác giữa ngƣời - máy, dạy theo nhóm, dạy phƣơng pháp tƣ duy sáng tạo cho HS,
cũng nhƣ dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định
mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các PPDH
đồng thời phát huy ƣu điểm của PPDH này làm hạn chế những nhƣợc điểm của
PPDH truyền thống. Điều đó làm cho CNTT, dù đã đƣợc đƣa vào QTDH, vẫn
chƣa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó.
- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ, dẫn
đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó.
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chƣa
xác định hƣớng ứng dụng CNTT trong dạy học. Chính sách, cơ chế quản lý
còn nhiều bất cập, chƣa tạo đƣợc sự đồng bộ trong thực hiện. Các phƣơng
tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phƣơng pháp dạy học bằng phƣơng
tiện chiếu projector, … còn thiếu và chƣa đồng bộ và chƣa hƣớng dẫn sử
dụng nên chƣa triển khai rộng khắp và hiệu quả.
- Việc kết nối và sử dụng Internet chƣa đƣợc thực hiện triệt để và có
chiều sâu; sử dụng không thƣờng xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đƣờng
truyền. Công tác đào tạo, công tác bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng đội ngũ GV chỉ
mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên GV chƣa đủ kiến thức, mất nhiều thời
gian và công sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả.
- Trang bị thêm phòng đa năng và đầu tƣ đồng bộ nhƣ: máy chiếu, máy
quay, máy chụp, nối mạng, … và hƣớng dẫn sử dụng, (vị trí đặt máy chiếu,
đèn chiếu, độ sáng cũng cần xem xét) , dự phòng kinh phí cho sửa chữa nâng
cấp phần cứng, phần mềm giáo dục, có phụ cấp cho cán bộ phụ trách phòng
này để khắc phục sự cố và bảo quản sử dụng lâu dài;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
- Sở giáo dục cần có văn bản chỉ đạo, hƣớng dẫn các trƣờng triển khai
ứng dụng CNTT trong dạy học (triển khai từ đâu và triển khai nhƣ thế nào?),
Mỗi năm cần tổ chức hội thi “Giáo viên sử dụng công nghệ Giỏi” hay giải “
Bàn phím vàng”, để kích thích lòng đam mê sáng tạo phục vụ cho sự nghiệp
giáo dục.
- Các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục sớm đƣa ra tiêu chí đánh giá
tiết dạy có sử dụng CNTT, chuẩn BGĐT để có cơ sở thẩm định, tạo ra ngân
hàng BGĐT có chất lƣợng.
1.2.2. Sơ bộ đánh giá hiệu quả giảng dạy của một số phần mềm thiết kế
BGĐTĐPT ở trƣờng THPT [11], [12], [22], [24], [32]
Từ năm học 2003 đến nay, GAĐT đã đƣợc đƣa vào sử dụng trong giảng
dạy ở nhiều môn học trong trƣờng THPT. Tại địa bàn tỉnh Bắc Giang,
chúng tôi cũng đã có những điều tra nghiên cứu để đánh giá thực trạng và
hiệu quả của GAĐT trong công tác dạy và học, xác định xem liệu GAĐT
với những tính chất trên có thể đóng góp tốt hơn so với dạy học truyền
thống hay không?
- Về phía GV:
Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra gồm 09 câu hỏi tham vấn ý kiến của
77 GV, phân tích kết quả cho thấy
+ Có tới 95,6% GV sử dụng máy vi tính và màn chiếu slide trong giảng
dạy bằng phần mềm MS powerpoint hoặc Violet, tuy nhiên việc sử dụng còn
chứ chƣa phục vụ cho việc học. Cá biệt có tới 12,5% HS sử dụng Internet trên
8 tiếng một tuần cho việc chơi game online. Đây cũng là điều GV và các bậc
phụ huynh nên quan tâm để điều chỉnh các em đầu tƣ nhiều thời gian hơn cho
việc học.
+ Có 72,1% HS ở các lớp TN có máy tính nối mạng tại nhà. Đây là
điều kiện hết sức thuận lợi cho GV khi muốn triển khai hình thức dạy học từ
xa hoặc cung cấp kiến thức cho HS qua mạng Internet.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
+ Hầu hết các em đều hứng thú với hình thức thảo luận, và muốn đƣợc
cung cấp nhiều hơn các tƣ liệu minh họa sinh động của bộ môn. 100% HS
thấy hiểu bài và dễ nhớ hơn khi đƣợc học tập môn Sinh học có sử dụng TT-
ĐPT.
1.2.3. Sơ bộ đánh giá thực trạng sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0
trong dạy học sinh học ở trƣờng THPT [25], [26]
Phân tích ƣu nhƣợc điểm của các phần mềm đƣợc sử dụng phổ biến hiện
nay ở trƣờng phổ thông dựa trên các tiêu chí mà GV chọn lựa khi sử dụng để
thiết kế bài giảng điện tử, chúng tôi thu đƣợc kết quả bảng 1.1 dƣới đây
Bảng 1.1. Đáp ứng của phần mềm với yêu cầu của GV
Tiêu chí mong muốn
Khả năng đáp ứng của phần mềm
Microsoft
Powerpoint
Microsoft
Frontpage
Violet
CHM
Editor
X
Tạo chuẩn SCORM
X X
X
Tƣơng tác tốt với bảng
điện tử
X
X
Trình chiếu tốt
X
X X
Đáp ứng dạy học từ xa
X
học cũng là vấn đề cần phải đƣợc làm sảng tỏ. Đây chính là hƣớng mà chúng
tôi muốn nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài “Thiết kế và sử dụng bài
giảng điện tử đa phƣơng tiện dạy học chƣơng “Cảm ứng”(Sinh học
11) bằng phần mềm Lecture maker 2.0”