nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 16 - Pdf 22

MỤC LỤC
HQ = 16
KQ 16
- Xây dựng định mức lao động, nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc cho từng
người lao động: Nhà quản lý đánh giá thường xuyên và công bằng mức độ hoàn thành
nhiệm vụ của người lao động qua đó giúp người lao động điều chỉnh những hành vi của
mình cho phù hợp với yêu cầu của công ty từ đó giúp họ làm việc tốt hơn 89
- Kích thích vật chất, tinh thần cho người lao động thông qua việc cải tiến quản lý tiền
lương, tiền thưởng và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có môi trường làm việc
tốt 89
7, Tổng quan về kinh tế Việt Nam năm 2012 và dự báo kinh tế vĩ mô năm 2013: Tiến sỹ
Trần Văn Hùng – Báo Giáo dục và thời đại 106
8, Giáo trình Quản trị doanh nghiệp, PGS.TS Ngô Kim Thanh, NXB Đại học kinh tế quốc
dân 2012 106
9, Giáo trình Kinh tế chính trị học hiện đại, GS.TS.VS Trình Ân Phú, NXB Đại học Kinh
tế quốc dân 106
10, Human Resource Management, John M. Ivancevich, NXB Thành phố Hồ Chí Minh
2010 106
11, Quản trị nguồn nhân lực ngành xây dựng, Đinh Tuấn Hải, NXB Khoa học kỹ thuật
2010 106
12, Quản lý nguồn nhân lực xã hội, Học viện hành chính 2011 106
13, Kinh tế vĩ mô Việt Nam 2013: Hội nhập và thách thức, Thời báo kinh tế Việt Nam 106
14, Phân tích kinh tế doanh nghiệp, TS Nguyễn Năng Phúc, NXB Tài chính 2003 106
15, Phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng, Minh Thành ngày 09/01/2013, theo
baoxaydung.com.vn 106
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
USD Đồng đôla Mỹ
LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
BXD Bộ Xây Dựng
BQ Bình quân
TCLĐ Tổ chức lao động

dân 2012 106
9, Giáo trình Kinh tế chính trị học hiện đại, GS.TS.VS Trình Ân Phú, NXB Đại học Kinh
tế quốc dân 106
10, Human Resource Management, John M. Ivancevich, NXB Thành phố Hồ Chí Minh
2010 106
11, Quản trị nguồn nhân lực ngành xây dựng, Đinh Tuấn Hải, NXB Khoa học kỹ thuật
2010 106
12, Quản lý nguồn nhân lực xã hội, Học viện hành chính 2011 106
13, Kinh tế vĩ mô Việt Nam 2013: Hội nhập và thách thức, Thời báo kinh tế Việt Nam 106
14, Phân tích kinh tế doanh nghiệp, TS Nguyễn Năng Phúc, NXB Tài chính 2003 106
15, Phát triển nguồn nhân lực ngành xây dựng, Minh Thành ngày 09/01/2013, theo
baoxaydung.com.vn 106
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu
người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào.
Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ
“dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá đông đảo. Đây là nguồn lực
vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh
tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011.
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn thấp và cần phải được
cải thiện càng sớm càng tốt.
Trong thời kỳ hội nhập tính cạnh tranh của doanh nghiệp càng trở nên gay gắt.
Để tồn tại và phát triển bền vững doanh nghiệp phải biết tận dụng và khai thác mọi
nguồn lực trong đó con người là yếu tố quan trọng nhất, là chủ thể của mọi quá
trình hoạt động trong doanh nghiệp quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm và đầu tư hơn vào
người lao động vì thành công vững vàng nhất của doanh nghiệp là sự gắn bó trung
thành của người lao động. Vi vậy biết sử dụng lao động một cách tối ưu là bài toán
nan giải của bất kỳ nhà quản lý nào trong thương trường ngày nay. Bên cạnh đó,

- Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ
phần đầu tư và xây dựng số 16 giai đoạn từ năm 2007 – 2012, từ đó khẳng định
những kết quả và hạn chế còn tồn tại trong việc sử dụng nguồn nhân lực của công ty.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty Cổ
phần Đầu tư và Xây dựng số 16 đến năm 2017.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là: Hiệu quả sử dụng lao động tại doanh nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: Các nội dung liên quan đến hiệu quả sử dụng lao động
tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 16 trong giai đoạn 2007 – 2012, từ đó
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động của công ty giai
đoạn từ năm 2013 - 2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
2
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn đội ngũ lao động tại công
ty.
+ Dữ liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu,
biểu mẫu và báo cáo đã được công bố các tài liệu, website của công ty và trên các
phương tiện thông tin đại chúng.
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
+ Sử dụng các phương pháp phân tích - so sánh, phân tích thống kê, các bảng
biểu…để phân tích các tài liệu, số liệu, biểu mẫu đã thu thập để sử dụng vào quá
trình viết luận văn.
5. Những đóng góp của luận văn
Phân tích, đánh giá thực trạng của việc sử dụng lao động tại công ty trong
giai đoạn từ năm 2007 – 2012, từ đó rút ra những tồn tại cần khắc phục trong thời
gian tới.
Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc sử dụng lao động tại công ty Cổ phần
đầu tư và xây dựng số 16, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao

như đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty đầu tư xây
dựng số 2 Hà Nộị”. Như vậy ta có thể thấy, tùy thuộc vào mục đích và đối tượng
nghiên cứu tại từng địa điểm và không gian cụ thể mà mỗi đề tài có hướng tiếp cận
và triển khai nội dung khác nhau. Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng của vấn
đề sử dụng nguồn lao động tại các doanh nghiệp nói chung hoặc một công ty cụ thể
nào đó, các tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao
động tại từng doanh nghiệp với mục đích sản xuất kinh doanh khác nhau. Tuy
nhiên, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu vấn
đề sử dụng lao động tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 16.
4
1.2. Xác định nội dung nghiên cứu của luận văn
Dựa trên việc khái quát các công trình nghiên cứu như trên, tác giả đã quyết
định lựa chọn triển khai đề tài theo phương hướng cơ sở đánh giá thực trạng của
việc sử dụng lao động giai đoạn từ năm 2007 – 2012 và mục tiêu phát triển của
công ty trong giai đoạn từ năm 2013 – 2017, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 16.
5
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
2.1. Lao động và vai trò của lao động trong các doanh nghiệp nói chung và
trong các công ty xây dựng nói riêng
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động trong doanh nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của lao động trong các doanh nghiệp
Xã hội muốn tồn tại và phát triển cần phải có lao động. Lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu
cầu của mình. Vì thế mà trong xã hội xuất hiện sự phân công lao động xã hội để
phục vụ cho các đối tượng khác chứ không phải chỉ phục vụ cho riêng mình.
Đối với hoạt động của một doanh nghiệp, quá trình sản xuất muốn tiến hành
được cần phải có ba yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Thực tế ngày nay cho thấy ở nhiều quốc gia, sự giàu có của xã hội không những chỉ

với điều kiện của sản xuất trong từng thời kỳ nhất định của đất nước. Để giải quyết
các mối quan hệ này đòi hỏi người nhân viên vừa phải có trình độ khoa học kỹ thuật
nhất định, hiểu biết quy trình công nghệ ,tính năng tác dụng của sản phẩm, vừa phải
có trình độ giác ngộ chính trị xã hội phải có kiến thức cuộc sống, hiểu biết tâm lý
người tiêu dùng, phải biết thiết lập các mối quan hệ xã hội và có khả năng chi phối
được các mối quan hệ này.
Lao động thường mang tính chất thời vụ cao. Tính chất thời vụ này không
những thể hiện giữa các mùa trong năm mà còn thể hiện rõ giữa các ngày trong
tháng, thậm chí giữa các giờ lao động trong ngày. Đặc điểm này ảnh hưởng đến số
lượng và cơ cấu lao động, đến vấn đề tuyển dụng và sử dụng lao động trong các
doanh nghiệp ,vấn đề bố trí thời gian bán hàng,ca kíp làm việc trong doanh nghiệp.
Để sử dụng lao động tốt, các doanh nghiệp phải kết hợp hài hoà giữa lao động
thường xuyên và lao động tạm thời, giữa lao động tuyển dụng suốt đời với lao động
hợp đồng, giữa lao động trong danh sách với lao động theo ngày công, giữa số
lượng lao động và thời gian lao động của người lao động trong từng ngày, từng mùa
vụ. Trong doanh nghiệp cùng một lúc có 3 loại lao động:
7
- Lao động biên chế: Đây là bộ phận lao động cứng của doanh nghiệp, là
những người lao động có trình độ chuyên môn cao và được đào tạo một cách có
hệ thống. Đội ngũ này sẽ nắm những khâu chủ chốt của kinh doanh và quản lý
doanh nghiệp.
- Một số lớn lao động của doanh nghiệp có thể tiếp nhận làm việc trong một số
thời gian nhất định. Với đặc thù trong các doanh nghiệp về xây dựng, những người
này phần đông là nam giới vì một số lý do nào đó mà không thể làm trọn thời gian
như những người bình thường khác. Họ thường được doanh nghiệp gọi đi làm vào
những mùa vụ có nhu cầu lao động cao, hoặc có thể thay phiên nhau làm việc một
số ngày trong tuần, một số giờ trong ngày. Đây là bộ phận lao động mềm có tính co
giãn thể hiện tính linh hoạt của doanh nghiệp trong quá trình quản lý kinh doanh.
- Lao động theo ngày công: Số lao động này không nằm trong danh sách lao
động của doanh nghiệp mà được doanh nghiệp tuyển dụng theo nhu cầu lao động

trường khắc nghiệt và mức độ an toàn thấp
Đối với các công trình đòi hỏi người lao động thường xuyên có mặt ở ngoài
trời thì việc chịu ảnh hưởng của những điều kiện thời tiết khắc nghiệt cũng là
nguyên nhân tác động tiêu cực tới sức khỏe của người lao động. Do đặc thù của các
công ty xây dựng yêu cầu người lao động phải làm việc trong môi trường mà khí
hậu độc hại, cả những ngày mưa nắng trở trời. Hơn nữa, hiện trạng ngoài công
trường là sự hỗn tạp của rất nhiều các loại chất hóa học và khí độc hại, nếu tiếp xúc
thường xuyên và liên tục sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe và an toàn của người lao động. Do đó đòi hỏi công ty cần phải có những
khoản chi phí nhằm đầu tư trang thiết bị bảo hộ lao động, giúp cho việc tăng năng
suất và nâng cao hiệu quả sử dụng người lao động. Đánh giá về hiệu quả xã hội thì
khoản đầu tư này là cần thiết và hợp lý.
2.1.2.4. Lao động thường xuyên phải di chuyển hoặc làm việc tại địa điểm không ổn
định
Với tính chất đặc thù của công việc là thường xuyên phải đi theo công trình
xây dựng nên việc điều chuyển lao động từ công trình này đến công trình khác là
bắt buộc. Đối với cả lao động trực tiếp và gián tiếp, tùy theo từng vị trí và chuyên
9
môn của các bộ phận đòi hỏi người lao động phải đi lại nhiều vì vậy cũng ảnh
hưởng tới công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty.
2.1.2.5. Lao động trong các công ty xây dựng thường khó tập hợp và ý thức chấp
hành kỷ luật còn hạn chế
Làm việc trong môi trường thường xuyên phải di chuyển nên việc tập hợp
người lao động còn gặp nhiều khó khăn do việc truyền tải thông tin không được liên
tục và thống nhất. Bên cạnh đó, lao động trong các công ty xây dựng chỉ được tuyển
dụng khi cần thiết và chủ yếu là lao động thời vụ. Do những đối tượng này chỉ đảm
nhận công việc một cách tạm thời nên các nội quy lao động của công ty họ sẽ không
chú trọng. Trong trường hợp này thì người quản lý sẽ chịu trách nhiệm giám sát tại
hiện trường và kịp thời an ủi động viên người lao động để họ yên tâm làm việc, thúc
đẩy việc tuân thủ và chấp hành kỷ luật lao động.

người lao động có tay nghề và chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu của doanh
nghiệp và hoàn thành chỉ tiêu đúng tiến độ. Đặc thù của các công ty xây dựng, mỗi
người lao động sẽ là một kỹ sư và phụ trách một giai đoạn nhất định trong cả quá
trình thiết kế xây dựng công trình. Mục đích của việc phân loại này nhằm tính toán,
sắp xếp, và bố trí lao động theo từng nghiệp vụ chuyên môn, xác định cơ cấu lao
động hợp lý từ đó có phương pháp trả lương và kích thích lao động đối với từng đối
tượng lao động. Trong công ty xây dựng , lực lượng này thường bao gồm:
- Kỹ sư xây dựng
- Kiến trúc sư
- Kỹ sư máy xây dựng
- Kỹ sư kinh tế
- Kỹ sư điện nước
- Kỹ sư thủy lợi
- Công nhân lành nghề (chính thức và không chính thức)
-
2.1.2.3. Theo trình độ chuyên môn của người lao động
Dù là doanh nghiệp hay các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng,
thường thì trình độ chuyên môn của người lao động được phân loại theo các chỉ tiêu
sau:
- Một là, lao động trực tiếp bao gồm:
11
+ Thợ bậc 1 và bậc 2 phần lớn gồm lao động phổ thông, chỉ được đào tạo tay
nghề ở mức độ sơ cấp.
+ Thợ bậc 3 và bậc 4 bao gồm những nhân viên đã qua một quá trình đào tạo.
+ Thợ bậc 5 trở lên là những lao động lành nghề của doanh nghiệp, có trình
độ chuyên môn cao.
- Hai là, lao động gián tiếp bao gồm: Nhân viên, chuyên viên, chuyên viên
chính, chuyên viên cao cấp. Những đối tượng này sẽ được đánh giá qua bằng cấp và
trình độ: Trên đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp và sơ cấp.
Tóm lại, việc phân loại lao động trong các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng

phương pháp có thể phân chia thành các nhóm phương pháp:
2.1.3.1. Phương pháp kinh tế
Phương pháp này tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế để
cho đối tượng bị quản trị tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong
phạm vi hoạt động của mình dựa trên mục tiêu của doanh nghiệp. Sự tác động thông
qua các lợi ích kinh tế tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động làm
việctích cực. Động lực đó càng lớn nếu nhận thức đầy đủ và kết hợp đúng đắn các
lợi ích tồn tại khách quan trong doanh nghiệp. Mặt mạnh của phương pháp này
chính là tác động vào lợi ích kinh tế của cá nhân hoặc tập thể người lao động, xuất
phát từ đó mà họ lựa chọn phương án hoạt động , bảo đảm lợi ích chung cũng được
thực hiện. Đặc điểm của phương pháp này là nêu mục tiêu nhiệm vụ đạt được, đưa
ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương thức vật chất có thể huy
động để kích thích người lao động thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đã đặt ra. Với
một biện pháp kinh tế đúng đắn, các lợi ích được thực hiện thoả đáng thì tập thể
người lao động trong doanh nghiệp sẽ hăng hái làm việc và nhiệm vụ chung sẽ được
giải quyết nhanh chóng và hợp lý. Đây là phương pháp quản trị tốt nhất để thực
hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.
2.1.3.2. Phương pháp hành chính
Phương pháp này tác động vào mối quan hệ tổ chức hệ thống quản lý và kỹ
thuật của doanh nghiệp. Các phương pháp hành chính là các tác động trực tiếp của
13
chủ doanh nghiệp lên tập thể người lao động dưới quyền bằng các quyết định dứt
khoát, mang tính bắt buộc đòi hỏi người lao động phải chấp hành nghiêm ngặt nếu
vi phạm sẽ bị xử lý thích đáng kịp thời.
Vai trò của các phương pháp hành chính trong việc quản trị rất to lớn vì nó
xác định trật tự kỷ cương làm việc trong doanh nghiệp, là khâu nối các phương
pháp quản trị khác lại với nhau và giải quyết các vấn đề đặt ra trong doanh nghiệp
rất nhanh chóng, tạo ra nội quy và văn hóa chung của doanh nghiệp đòi hỏi mỗi
người lao động phải tuân thủ.
Các phương pháp hành chính tác động vào người lao động theo hai khía cạnh

2.2.1.1. Khái niệm về hiệu quả
- Hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã
được xác định với chi phí bỏ ra để đạt đựoc mục tiêu đó. Để hoạt động, doanh
nghiệp thương mại phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó
có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh
nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất.
- Hiệu quả kinh tế là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động
kinh doanh. Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt
được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Thực chất của hiệu quả kinh tế là
thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, nó biểu hiện trình độ sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đã xác định. Nó quyết định
động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã
hội và nâng cao đời sống của loài người qua mọi thời đại.
Chúng ta có thể khái quát mối tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ ra
để có lợi ích đó bằng hai công thức sau:
- Một là: Hiệu quả là hiệu số giữa kết quả và chi phí
HQ = KQ - CF (1)
Trong đó: HQ là hiệu quả đạt được trong một thời kỳ nhất định
KQ là kết quả đạt được trong thời kỳ đó
CF là chi phí đã bỏ ra để đạt kết quả
15
Đây là hiệu quả tuyệt đối, mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức
chênh lệch giữa kết quả và chi phí, mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng
cao.
+ Ưu điểm: Cách so sánh này đơn giản và dễ tính toán
+ Nhược điểm: Có một số nhược điểm cơ bản như sau:
• Không cho phép đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
• Không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh
nghiệp với nhau.

kinh doanh và được thể hiện qua năng suất lao động và sức sinh lời bình quân của
lao động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu việc bố trí lao động hợp lý và
phù hợp với trình độ chuyên môn sẽ đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao
của doanh nghiệp, tạo cơ sở cho việc tăng năng suất lao động, công việc đạt hiệu
quả cao và lao động được sử dụng một cách hợp lý. Mặt khác, nâng cao hiệu quả sử
dụng lao động là điều kiện đảm bảo không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống
của cán bộ công nhân viên, tạo điều kiện nâng cao trình độ tay nghề, khuyến khích
năng lực sáng tạo của người lao động, thúc đẩy người lao động cả về mặt vật chất
và tinh thần.
Tóm lại muốn sử dụng lao động có hiệu quả thì người quản lý phải tự biết
đánh giá chính xác thực trạng tại doanh nghiệp mình, từ đó có những biện pháp
chính sách đối với người lao động thì mới nâng cao được năng suất lao động và việc
sử dụng lao động mới thực sự có hiệu quả.
2.2.2. Hệ thống tiêu chuẩn, chỉ tiêu và công cụ đánh giá hiệu quả sử dụng lao
động tại các doanh nghiệp
2.2.2.1. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra luôn thay đổi theo thời gian, đồng thời cũng
thay đổi cả các nhìn nhận và quan điểm đánh giá hiệu quả. Nhưng chìn chung tất cả
các mục tiêu đều nhằm đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững của doanh
nghiệp. Do vậy để đánh giá được hiệu quả sử dụng lao động thì phải dựa vào kết
quả kinh doanh hay dựa vào lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong thế ổn định
và phát triển bền vững. Mặc dù vậy không phải lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt
được càng cao thì có nghĩa là hiệu quả sử dụng lao động tốt vì nếu việc trả lương
17
cũng như các đãi ngộ khác chưa thoả đáng thì sử dụng lao động chưa mang lại hiệu
quả tốt. Vì vậy khi phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp,
cần phải đặt nó trong mối quan hệ giữa lợi ích của người lao động với kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả sử dụng lao động về bản chất là nâng cao năng suất lao động và tiết
kiệm nguồn lực một cách tối ưu và thường được phản ánh thông qua các chỉ tiêu

động để tạo ra khối lượng sản phẩm trong doanh nghiệp.
Nếu Q tính bằng đơn vị tiền tệ thì trong kết quả tính toán sẽ cho mức năng
suất lao động tính bằng đơn vị tiền tệ. Việc sử dụng đơn vị tiền tệ để tính kết quả
sản xuất kinh doanh sẽ tổng hợp được khối lượng thành phẩm mà doanh nghiệp đã
tạo ra trong kỳ, bao gồm cả thành phẩm, bán thành phẩm và sản phẩm dở dang
2.2.2.2.2. Mức sinh lời bình quân của lao động
Lợi nhuận bình quân của một người lao động trong doanh nghiệp là một trong
những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả khi doanh nghiệp đó tạo ra nhiều doanh thu,
lợi nhuận. Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao động tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong 1 kỳ tính toán xác định.
Chỉ tiêu này có thể được xác định theo công thức sau:
NV
LN
HQ
LN
NV
=
Trong đó:
LN
NV
HQ
là khả năng sinh lời của một nhân viên
LN : lợi nhuận thuần của doanh nghiệp
NV: số nhân viên bình quân
Chỉ tiêu này nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. khi
chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng lao động càng cao và ngược lại.
2.2.2.2.3. Chỉ tiêu tiền lương
Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp thì tiền lương cũng
là một chỉ tiêu phản ảnh hao phí lao động. Nó phản ánh giá cả của sức lao động trên

QL
LN
HQ
LN
QL
=
Trong đó:
LN
QL
HQ
: là hiệu suất tiền lương
LN: là lợi nhuận thuần trong kỳ
QL : là tổng quỹ lương
20
Chỉ tiêu này cho ta biết là một đồng tiền lương bỏ ra thì đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Hiệu suất tiền lương tăng lên khi lợi nhuận thuần tăng với nhịp độ
cao hơn nhịp độ tăng của tiền lương.
2.2.2.2.4. Thời gian sử dụng lao động
Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp, một trong các chỉ
tiêu về tình hình sử dụng thời gian lao động cũng được nhắc đến và các hệ số sử
dụng theo ngày làm việc.
Một số chỉ tiêu đánh giá thời gian sử dụng lao động được xác định theo công
thức sau:
Độ dài ngày làm việc theo quy định
L =
Hệ số làm thêm giờ
H
LT
=
Việc bố trí và sắp xếp lao động làm việc hợp lý đóng vai trò vô cùng quan

xã hội bao gồm:
- Dân số và hộ gia đình
- Đặc điểm nhân khẩu học và vị trí địa lý
- Việc làm và vấn đề phát triển việc làm.
2.3.2. Môi trường ngành
2.3.2.1. Đối tượng hưởng lợi
Đối tượng hưởng lợi có thể là khách hàng cá nhân hoặc một tổ chức công ty
nào đó. Họ là người ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tồn tại và phát triển của công ty.
Khách hàng có thể là người kinh doanh, người buôn bán, người tiêu dùng hoặc chỉ
phục vụ cho lợi ích của nhóm cộng đồng. Tuỳ theo hành vi của những đối tượng
này mà doanh nghiệp sẽ có những chiến lược phát triển hợp lý qua đó điều phối đội
ngũ lao động phục vụ cho mục tiêu phù hợp với từng mặt hàng, ngành hàng và từng
22

Trích đoạn Vài nét sơ lược về Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số Cơ cấu bộ máy quản trị Thực trạng quản lý và sử dụng lao động tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 16 từ năm 2007 – Công tác đãi ngộ nhân sự ở công ty Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng lao động của công ty qua 5 năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status