Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS - Pdf 22

1. Lý do chọn đề tài
Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo
đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn
bản của Bộ GD&ĐT. Luật giáo dục 2005 đã xác định: “ Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa,
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…" (Điều 23-Luật giáo dục).
Đạo đức có vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục ở nhà trường
XHCN nhằm hình thành và bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan, nhân sinh quan
cộng sản chủ nghĩa.
Như Bác Hồ đã nói “Đạo đức là cái gốc của con người cách mạng”. Đạo đức
cũng là cái gốc để con người phát triển toàn diện mà nhà trường phổ thông có trách
nhiệm đào tạo. Do đó công tác giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức phải giữ vị trí
then chốt trong nhà trường.
Đối với nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay thì hoạt động giáo dục
đạo đức học sinh có ý nghĩa rất đúng, như Bác Hồ đã nói “Có tài mà không có đức là
người vô dụng ” Đặc biệt trong thời kỳ hiện nay xã hội có nhiều tác động đến việc giáo
dục đạo đức học sinh nếu người thầy giáo không xác định rõ ý nghĩa của việc giáo dục
đạo đức học sinh thì sẽ có những định hướng sai lệch về mục tiêu đào tạo con người mới
đòi hỏi phải đảm bảo sự phát triển mạnh mẽ và cân đối hài hoà cả 5 yếu tố nhân cách:
Đức, trí, thể, mỹ, nghề, trong đó coi trọng việc xây dựng phẩm chất trí tuệ và năng lực
nhận thức, đồng thời phải coi trọng việc bồi dưỡng tình cảm. Từ những vấn đề về lý luận
và thực tiễn trên, là một người cán bộ quản lý từ nhiều năm nay tôi luôn trăn trở và chọn
đề tài này với mong muốn để tìm ra những biện pháp sao có hiệu quả nhất để giáo dục
đạo đức cho học sinh.
Hội nhập kinh tế, ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng
ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào
nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói
mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận
1
thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển

người với con người, giữa cá nhân với xã hội.
Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ
giữa con người với con người; con người với cộng đồng xã hội: với tự nhiên và với bản
thân mình.
2.1.2. Khái niệm về quản lý công tác giáo dục đạo đức
Quản lý công tác giáo dục đạo đức là hệ thống những tác động của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý bằng việc thực hiện những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội
mà nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi hoạt động của mình sao cho phù hợp
với lợi ích, hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội.
2.1.3. Vai trò của công tác giáo dục đạo đức
Đạo đức của thế hệ trẻ không chỉ là vấn đề của một đất nước mà là vấn đề
mang tính toàn cầu của thời đại, là điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và
tương lai của loài người.
Giáo dục đạo đức có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhân cách thế hệ
trẻ (cụ thể về mặt đạo đức) tạo cở sở để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của
các nhân với bản thân, với người khác (gia đình, bạn bè, thầy giáo, người lớn tuổi và ít
tuổi) với xã hội làm cho họ nắm được (thể hiện trong nhận thức và hành động) các mối
quan hệ đạo đức mới là các mối quan hệ thể hiện sự hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi
ích của xã hội.
Giáo dục đạo đức giúp học sinh có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp và bền vững,
có được bản lĩnh đạo đức để ứng xử đúng trong các mối quan hệ đạo đức.
Giáo dục đạo đức là một quá trình tác động có mục đích có kế hoạch của nhà giáo
dục đến học sinh nhằm hình thành và bồi dưỡng cho các em thế giới quan khoa học nhân
sinh quan cộng sản chủ nghĩa, hành vi và thói quen đạo đức, những nét tính cách của
con người mới phù hợp với mục tiêu giáo dục.
Giáo dục đạo đức là cơ sở hình thành con người luôn luôn tôn trọng người khác,
luôn luôn phấn đấu, bảo vệ, xây dựng một nền văn hoá giàu tính con người, một xã hội
và một đất nước dân chủ giàu mạnh hạnh phúc và và bình đẳng.
3
Đạo đức là cái gốc của con người mới, là mặt giáo dục rất quan trọng trong nội

sản của nhà trường (trường lớp, bàn ghế, dụng cụ lao động, đồ thí nghiệm ) của nhà
nước (nhà cửa, máy móc, hàng hoá ) các di tích lịch sử, văn hoá, những nơi công cộng,
của người khác (thư từ, đồ đạc )
Quan hệ cá nhân với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, bạo dạn.
Đối với từng chuẩn mực hành vi đạo đức cần giúp học sinh hiểu yêu cầu của
chuẩn mực (Chuẩn mực yêu cầu học sinh phải thực hiện điều gì, làm gì?)
Ý nghĩa tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức (việc thực hiện
chuẩn mực mang lại lợi ích, tác dụng gì? nêu không thực hiện mà làm trái thì có tác hại
gì?)
Cách thực hiện chuẩn mực đó (Để thực hiện chuẩn mực cần làm những công việc
gì, thực hiện như thế nào?)
Những tri thức đạo đức này giúp các em phân biệt được cái đúng, cái sai, cái tốt,
cái xấu, cái thiện, cái ác Từ đó các em sẽ làm theo cái đúng, ủng hộ cái tốt, tán thành
cải thiện và đấu tranh phê phán, tránh cái sai, cái xấu, cái ác. Ý thức đạo đức đúng đắn
có tác dụng định hướng cho thái độ, tính cảm hành vi đạo đức.
2.1.4.2 Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức
Đời sống tinh thần của con người nói chung hay trẻ em nói riêng sẽ trở nên khô
cứng, trống rỗng nếu không biết yêu, biết ghét không có cảm xúc mà ngược lại thờ ơ với
những người xung quanh, với công việc, với thiên nhiên trái lại ở những người có tình
cảm đạo đức chân chính họ rất dễ hoà đồng với những người xung quanh, đời sống, tinh
thần trở nên phong phú, cuộc sống vui tươi hơn, công việc có hiệu quả hơn vì vậy ,
giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh là một nhiệm vụ hết sức quan trọng cũng như
rất khó khăn tinh tế bởi vì phải tác động đến thế giói nội tâm thế giới của những cảm xúc
của trẻ em.
5
Giáo dục thái độ tình cảm đạo đức cho học sinh là thức tỉnh những rung động,
những cảm xúc đối với hiện thực xung quanh ( những người xung quanh, công việc, tập
thể ) làm cho chúng biết yêu biết ghét rõ ràng, có thái độ đứng đắn đối với các hiện
tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể thái độ thờ ơ, lãnh đạm là “sản phẩm”
xấu không mong muốn của giáo dục tình cảm.

hoạt động ngoài giừo lên lớp, việc tổ chức thực hiện các nội quy, quy chế, điều lệ tấm
gương của giáo viên, phối hợp các lực lượng giáo dục.
2.1.5. Biện pháp giáo dục đạo đức
2.1.5.1 Nâng cao nhận thức
Làm cho các lực lượng giáo dục nắm vứng những yêu cầu, nội dung, chỉ tiêu giáo
dục đạo đức cho học sinh cho từng học kỳ của năm học. Những yêu cầu, nội dung chỉ
tiêu được đưa vào nghị quyết của hội đồng nhân dân, hội đồng giáo dục, được thể hiện
và được đưa ra bàn bạc tại hội nghị phụ huynh, tổ chủ nhiệm. Trên cơ sở căn cứ vào
thực trạng chất lượng đạo đức năm học trước thông dục đạo đức, phân cấp và phạm vi
trách nhiệm cho từng lực lược giáo dục nhất là giáo viên chủ nhiệm ở trường và cấp uỷ
chính quyền địa phương nơi trường đóng.
2.1.5.2 Điều tra cơ bản tình hình học sinh và điều kiện giáo dục
* Nội dung điều tra
Điều tra tình hình tư tưởng, đạo đức học sinh.
Điều tra hoàn cảnh sống: gia đình cha mẹ, kinh tế, môi trường giáo dục của học
sinh. Trao đổi tìm hiểu với giáo viên chủ nhiệm năm trước để bổ sung thêm.
* Hình thức phương pháp điều tra
Cho học sinh viết sơ yếu lí lịch.
7
Xem báo cáo chất lượng năm trước.
Thăm gia đình học sinh để thực tế tình hình.
Nắm thêm ở giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cũ.
Điều tra thường được tiến hành đầu năm học và phải được bổ xung kịp thời trong
năm. Điều tra thực chất là thu thập thông tin, thông tin được phản ánh thông qua chủ
quan của người điều tra (giáo viên chủ nhiệm).
2.1.5.3 Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
Nội dung kế hoạch gồm:
Hoàn cảch, đặc điểm của công tác trong năm học mới: Những nét cơ bản về tình
hình và kết quả giáo dục đạo đức trong năm học trước cũng như năm học mới, những
thuận lợi, khó khăn chủ yếu.

gian và không gian, đi đôi với phương pháp suy nghĩ biện chứng, lô gích tránh lối suy
luận máy móc, thoát ly thực tế. Như bác Phạm Văn Đồng đã nói “ Chúng ta đừng có
tách giữa đạo đức và trí dục đến trình độ nào đó, trí thức với tư tưởng đạo đức với trí
dục là một Trí thức phải đi đến đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết” (Phạm
Văn Đồng - Nghiên cứu giáo dục số 4 - 11 - 1969)
Thông qua việc thực hiện tốt yêu cầu về tính giáo dục đạo đức trong các môn học,
đặc biệt là các môn khoa học xã hội. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong hình thành thế
giới quan khoa học, nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa cho học sinh, làm cơ sở rộng rãi
vững chắc cho đạo đức XHCN ở các em.
Đảm bảo yêu cầu giáo dục đạo đức là một yêu cầu cơ bản tiêu chuẩn đánh giá giờ
dạy đánh giá hoạt động và đánh giá giáo viên.
Chủ động kiểm tra và dựa vào các lực lượng (nhất là tổ trưởng tổ chuyên môn) để
kiểm tra và chỉ đạo kịp thời.
Với giáo viên mới vào nghề đây là yêu cầu cao và khó khi thực hiện, đòi hỏi
người quản lý phải giúp đỡ để họ kịp thời nắm bắt tình hình và thực hiện yêu cầu của
đơn vị mới.
2.1.5.5 Cộng tác với giáo viên chủ nhiệm
9
Cộng tác trong việc điều tra, xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động theo chủ điểm,
dạy theo chuyên đề.
Trao đổi kinh nghiệm giáo dục đạo đức trong nhóm giáo viên chủ nhiệm.
Cùng giáo viên chủ nhiệm xem xét hạnh kiểm và ký duyệt học bạ tay đôi.
Thường xuyên nắm bắt thông tin về học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt từ các
giáo viên chủ nhiệm để có biện pháp kịp thời uốn nắn những sai lệch.
2.1.5.6 Cộng tác với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường
Cộng tác với đoàn thanh niên, chi hội chữ thập đỏ nhà trường, hội cha mẹ học
sinh cùng giáo dục đạo đức học sinh.
Nhanh chòng kiện toàn các tổ chức đoàn, đội sinh hoạt đều đặn theo chủ đề đẩy
mạnh các hoạt động tập thể giáo dục và rèn luyện học sinh.
Tăng cường các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt. Tổ chức ký cam kết trách

Trường THCS
Tập thể đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên dưới sự lãnh đạo của chi bộ đảng là một
tập thể đoàn kết, nhât trí cao trong công việc luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm; đoàn
kết, ý thức phê và tự phê cao.
Đời sống của cán bộ giáo viên ngày một được cải thiện và nâng lên rõ rệt.
Cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường phục vụ cho công tác dạy và học
tương đối đầy đủ.
Tập thể Ban giám hiệu luôn đi đầu trong công tác năng động, sáng tạo được cấp trên
tin tưởng, phụ huynh, giáo viên và học sinh tin yêu.
Môi trường cảnh quan trường lớp học ngày càng khang trang sạch đẹp giúp giáo
viên và học sinh yêu trường, yêu lớp hơn.
* Khó khăn:

11

Đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ tuổi đời và tuổi nghề nên còn thiếu kinh nghiệm trong
công tác giảng dạy.
Nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế chưa hiểu rõ vai trò giáo dục trong
mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội.
2.2.2.Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh trường THCS …
Từ nhiều năm nay nhà trường thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục đạo
đức học sinh, cụ thể là nhà trường đã có những biện pháp quản lý để có được chất lượng
đạo đức.
* Biện pháp
Kết hợp chặt chẽ với GVCN để giáo dục đạo đức học sinh, đặc biệt là học sinh cá
biệt. Làm tốt công tác thi đua khen thưởng, khen chê kịp thời lấy gương người tốt việc
tốt nhân điển hình tiên tiến. Kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm đạo đức người
học sinh như đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, thiếu ý thức
Ngoài hoạt động quyên ủng hộ đồng bào bị thiên tai, nhà trường còn tổ chức hỗ
trợ thường xuyên và đột xuất những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh

Các lớp luôn thực hiện tốt chương trình hoạt động giáo dục đạo đức học sinh theo
quy định như: Sinh hoạt lớp, hoạt động ngoài giời lên lớp, sinh hoạt đội với nội dung
phong phú có chất lượng.
Học sinh đa số có ý thức kỷ luật trật tự, lễ phép, biết vâng lời cha mẹ, thầy cô,
người lớn tuổi và biết kính trọng ông bà, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh công
cộng, biết bảo vệ của công, thực hiện tốt các nội quy, quy định của nhà trường, của lớp
như duy trì tốt các hoạt động 15’ đầu giờ, sinh hoạt đội vào sáng thứ năm hàng tuần, tập
thể dục giữa giờ, đặc biệt là tham gia nhiệt tình các trò chơi dân gian và nhiều hoạt động
khác.
13
Đa số các em học sinh đều ngoan, hiếu học có tinh thần đoàn kết tương thân tương
ái, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong học tập cũng như trong các hoạt động khác của nhà
trường.
Các em hiểu rất rõ tác hại của ma tuý và tránh xa nó. Kết quả không có em nào
mắc vào tệ nạn ma tuý.
Có ý thức tu dưỡng và rèn luyện, có thái độ cư sử đúng mực với bạn bè, tham gia
đầy đủ các hoạt động của nhà trường, hưởng ứng nhiệt tình các hoạt động quyên góp
của các cấp các ngành.
* Hạn chế:
Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động giáo dục đạo đức vẫn còn thể hiện những mặt
yếu kém đó là:
Vẫn còn một số ít học sinh thiếu ý thức kỷ luật chưa vâng lời cha mẹ, thầy cô và
người lớn tuổi chưa có ý thức bảo vệ của công, vô lễ với thầy cô giáo, không thực hiện
đúng các nội quy, quy định của nhà trường, của lớp. Cụ thể còn bỏ giờ, bỏ tiết, trong lớp
chưa chú ý nghe giảng chưa có tinh thần giúp đỡ đồng đội, còn gây gổ đánh nhau hoặc
có quan hệ với một số thanh niên hư hỏng làm ảnh hưởng đến nhân cách của người học
sinh, còn dung túng bao che khuyết điểm cho bạn.
Một số ít các em còn đi sớm về muộn, xa đà vào quán điện tử chưa thực sự thành
khẩn khi có lỗi, chưa hoà nhập vào tập thể, còn mặc cảm với hoàn cảch riêng, chưa thực
sự có ý thức tu dưỡng rèn luyện. Vì vậy chất lượng đạo đức của nhà trường trong năm

Một số ít giáo viên việc giáo dục đạo đức còn mang tính đơn điệu, mới chỉ là
thông qua các tiết học chính khoá mà thôi.
Giữa giáo viên và học sinh chưa có mối quan hệ gần gũi hoặc đối xử chưa thực sự
bình đẳng dấn đến mối quan hệ giữa các em chưa thật sự thân thiết.
Nguyên nhân chủ quan:
15
Nhiều giáo viên chủ nhiệm còn quá trẻ chưa có kinh nghiệm làm công tác chủ
nhiệm, còn số ít giáo viên chưa thực sự yêu nghề còn có một số hành vi chưa chuẩn mực
trước học sinh.
Việc đổi mới phương pháp dạy học còn chậm chưa thực sự huy động các đối
tượng tham gia vào quá trình học tập.
Học sinh còn chưa tự giác học tập, chưa xác định được động cơ học tập, rèn
luyện.
Việc luân chuyển cán bộ giáo viên đã làm cho giáo viên chủ nhiệm lớp và giáo
viên tham gia giảng dạy không ổn định.
Nguyên nhân khách quan:
Nhận thức của một bộ phận phụ huynh học sinh về gáo dục còn chưa đầy đủ mới
chỉ coi trong việc học chưa quan tâm đến việc rèn luyện đạo đức và còn mang nặng
phong tục.
Những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, của xã hội tác động tiêu cực
đến hành vi đạo đức của các em.
Sự kết hợp ba môi trường: gia đình, nhà trường, xã hội chưa tốt.
Cơ sở vật chất trang thiết bị, kinh phí dành cho các hoạt động ngoại khoá còn quá
eo hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu các hoạt động.
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
Trên cơ sở nguyên nhân của những thực trạng trên, ngoài các biện pháp giáo dục
đạo đức học sinh trường THCS …bản thân tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp sau
để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh nhà trường được nâng lên
và đáp ứng với mục tiêu giáo dục hiện nay.
2.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng một tập thể học sinh tốt.

từ đó để giáo dục các em.
17
2.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng mối quan hệ tình cảm và thân thiện giữa thầy và
trò, giữa trò với trò thông qua thực hiện các cuộc VĐ "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh"; Cuộc VĐ "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực"; Cuộc VĐ “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.
* Mục tiêu
Quán triệt cho CBGV và học sinh hiểu rõ mục đích của các cuộc vận động từ đó
xây dựng được mối quan hệ tốt giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò.
* Nội dung và cách thức thực hiện
Người giáo viên phải có tình thương thực sự với học sinh, phải có lòng độ lượng
và bao dung với học sinh, có tình thương yêu thực sự với học sinh thì mới cảm hoá được
các em và các em sẽ có ý thức tự giác làm theo những điều dạy bảo của giáo viên. Mặt
khác người giáo viên cần xây dựng cho các em mối quan hệ bạn bè chân thành, thông
cảm, thương yêu đoàn kết, giúp đỡ nhau, quan tâm giúp đỡ nhau trong học tập và sinh
hoạt, các em mới thực sự biết giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng tập thể chân chính, coi
nhà trường như nhà của mình: Đó là một tập thể có mục tiêu chung, có hoạt động chung
nhằm phát triển nhân cách.
Người giáo viên phải hiểu được hoàn cảnh gia đình, đời sống tình cảm của học
sinh. Sự tìm hiểu này không chỉ dừng lại ở việc đọc sơ yếu lý lịch của học sinh, vì nếu
chỉ dừng lại ở đó thì sẽ khó lý giải được hoặc lý giải không đúng nhiều biểu hiện hàng
ngày của học sinh, giáo viên sẽ mơ hồ, sẽ sai lầm hoặc không biết những điều kiện cụ
thể của học sinh mình để có biện pháp giáo dục các em có hiệu quả nhất.
* Điều kiện thực hiện
Nhà trường phải thành lập ban chỉ đạo các cuộc vận động tuyên truyền tới toàn thể
CBGV và học sinh.
Ban giám hiệu, giáo viên phải luôn gương mẫu trong lời nói, việc làm, phải luôn
là tấm gương tự học và sáng tạo để tạo lòng tin với các em, có khen chê kịp thời và sử lý
nghiêm các vi phạm. Tất cả các sự việc được sử lý công bằng, không thiên vị hay trù dập
đối với các em học sinh mắc khuyết điểm không thành kiến mà phải có sự động viên

* Nội dung và cách thức thực hiện
19
Tự tu dưỡng là yếu tố quyết định trực tiếp trình độ đạo đức của mỗi học sinh. Sự
hình thành và phát triển đạo đức của mỗi cá nhân thực hiện với bản thân mình nhằm
khắc phục những hành vi trái đạo đức và bồi dưỡng, củng cố những hành vi đạo đức của
mình, thúc đẩy sự phát triển nhân cách. Sự hình thành đạo đức của các em do tác động
giáo dục của nhà trường của tập thể, của gia đình và xã hội sẽ dần dần chuyển thành sự
tự giáo dục mà trong đó sự tự tu dưỡng là yếu tố cơ bản. Sự tự tu dưỡng là một con
đường nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ở mỗi cá nhân học sinh. Tạo cho học
sinh khả năng tu dưỡng là một yêu cầu giáo dục đạo đức trong nhà trường.
Nhà trường cần giúp các em nhận thức được mình, nhận thức về người khác, nhận
thức về tập thể, tập đối chiếu yêu cầu của những người xung quanh với khả năng của bản
thân mình. Kết hợp với quá trình được giáo dục, các em sẽ hình thành những cơ sở đạo
đức của cá nhân, những khái niệm, niềm tin và thói quen đạo đức những vấn đề này sẽ
có vai trò điều chỉnh hành vi đạo đức của các em .
Nhà trường, gia đình cần giúp học sinh thấy được mình thiếu cái gì? Cần phải rèn
luyện thêm những phẩm chất đạo đức nào và con đường vươn tới như thế nào?
Tập thể phải giúp đỡ, dư luận tập thể phải đồng tình và ủng hộ công việc tự tu
dưỡng của mỗi học sinh thì mới có kết quả.
* Điều kiện thực hiện
Giáo viên phải hướng dẫn, đánh giá và uốn nắn thường xuyên giúp các em tự
đánh giá được mình, vì có vậy mới có cơ sở để tự khuyến khích vươn lên và củng cố
lòng tin.
2.3.5. Biện pháp 5: Giáo dục đạo đức học sinh cần phối hợp tốt ba môi trường
giáo dục
* Mục tiêu
Nhằm nâng cao nhận thức làm cho Cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương,
CBGV của trường nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của công tác giáo dục
đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, để từ đó họ có sự thay đổi nhận thức và
có những hành động tích cực đối với công tác giáo dục.

sinh ký cam kết trách nhiệm tay ba (nhà trường, gia đình và học sinh) để giúp các em
21
thấy rõ hơn mức độ vi phạm của mình để từ đó giúp các em thấy được mình phải sửa
chữa, rèn luyện, phấn đấu tốt hơn.
* Điều kiện thực hiện:
Ban giám hiệu xây dựng kế hoạch về công tác phối hợp, vận động tuyên tryền gia
đình và chính quyền địa phương theo từng giai đoạn, có thông tin hai chiều, chú ý tham
mưu với chính quyền địa phương về công tác xã hội hoá giáo dục nói chung công tác
giáo dục đạo đức nói riêng. Xây dựng môi trường nhà trường và xung quanh trường lành
mạnh.
Gia đình phụ huynh phải có ý thức tự giác, có tinh thần trách nhiệm cùng với nhà
trường chăm lo việc học hành và giáo dục đạo đức cho học sinh.
Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho các hoạt đông phong trào, ngoại
khoá, các cuộc thi.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua một năm áp dụng đề tài, chất lượng giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường có sự
chuyển biến rõ rệt. Hiện tượng học sinh vô lễ với giáo viên, số học sinh bỏ học chơi điện
tử giảm đi đáng kể, các em đối xử với nhau thân thiện, chan hoà hơn, yêu trường mến
lớp hơn. Số đối tượng học sinh cá biệt tuy vẫn còn nhưng ít hơn so với năm học trước.
Vì vậy, số học sinh có hạnh kiểm trung bình, yếu giảm đi so với năm chưa triển khai áp
dụng đề tài. Điều đó được thể hiện khi so sánh với kết quả của năm 200-200 ở Bảng 1:
Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh năm học 200-20 với bảng số liệu sau:
Khối TSHS
Năm học 2009 - 2010
Tốt % Khá % T.Bình % Yếu %
6
7
8
9
Tổng

phương pháp và kỹ năng tác động trong dạy học và giáo dục hợp lý, hiệu quả và sáng
tạo, gương mẫu về mọi mặt
6. Thường xuyên phối kết hợp ba môi trường giáo dục, đặc biệt phải có thông tin
kịp thời bằng nhiều hình thức trực tiếp, gián tiếp với phụ huynh học sinh để giáo dục các
em thực sự là con ngoan, trò giỏi của nhà trường, gia đình và xã hội.
7. Phải xây dựng được môi trường sư phạm vì khung cảnh nhà trường nề nếp công
tác, sinh hoạt, phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người với công việc, những
mối quan hệ đó càng mẫu mực thì nề nếp ở nhà trường càng tốt. Môi trường sư phạm tốt
có tác động tới việc giáo dục đạo đức học sinh. Trong tình hình xã hội có nhiều biến
động hiện nay có nhiều vấn đề tiêu cực tác động đến việc giáo dục đạo đức học sinh.
Mặt khác điều kiện kinh tế xã hội cũng có nhiều khó khăn, quan niệm của xã hội về giáo
dục còn nhiều điểm chưa thoả đáng, chưa đúng mức nên việc đầu tư kinh tế, tài chính,
thiết bị cho giáo dục còn ít ỏi, đời sống giáo viên còn khó khăn dẫn đến chất lượng
giáo dục chưa cao. Trong tình hình đó hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động giáo dục
đạo đức học sinh nói riêng lại càng khó khăn phức tạp.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status