1
ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ:
LỚP: CAO HỌC KHÓA 19, ĐÊM 9
GIẢNG VIÊN: TS.DIỆP GIA LUẬT
HỌC VIÊN: ĐẶNG THỊ THU THẢO
LÊ THỊ THU THÚY
HÀ THANH
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 THÁNG 2010
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ODA TẠI VIỆT NAM.
1.1.GIỚI THIỆU VỀ ODA
1.1.1.ODA là gì
ODA (Official Development Assistance – nguồn hỗ trợ phát triển chính thức)
bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu
đãi của Chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức thuộc
hệ thống liên hiệp quốc, tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và
chậm phát triển. Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang và
chậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt
chẽ với nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức
cần thiết để cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thì cũng khó có thể thu hút
được các nguồn vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng kinh doanh.
Nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn vốn ODA mà không tìm cách thu hút các
nguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng
nhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA.
1.1.2.Đặc điểm của vốn ODA
− ODA mang tính ưu đãi:
Vốn ODA có thời gian cho vay (thời gian hoàn trả) dài, có thời gian ân hạn
dài. Ví dụ, vốn ODA của WB (World Bank), ADB (Asian Development Bank), JICA
(Japan International Cooperation Agency) có thời gian hoàn trả khoảng 40 năm,
Nam, sau Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu
tiên vào năm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị
Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt
Nam từ vị thế là khách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân
hàng Thế giới. Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại
nước tài trợ như tại Pháp, Nhật Bản, sang về tổ chức tại Việt Nam.
Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và
cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việc
cung cấp, sử dụng viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói
giảm nghèo là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời. Ngoài Hội nghị CG
thường niên thường tổ chức vào tháng 12 hàng năm, còn tổ chức Hội nghị CG
giữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài trợ
gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ trợ của họ.
Là diễn đàn đối thoại về chính sách và viện trợ, song không khí chung của
tất cả các Hội nghị CG cho đến nay là dựa trên tinh thần quan hệ đối tác và mang
tính xây dựng, trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốc
gia của Việt Nam trong quá trình phát triển.
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất
nhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương (chính phủ)
và 23 nhà tài trợ đa phương (các định chế tài chính quốc tế và các quỹ, các tổ
chức quốc tế và liên chính phủ) đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Ngoài
các nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC (Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế) còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chức
phi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu
USD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân
tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
1.2.2.Tình hình huy động vốn ODA giai đoạn 1993-2008.
Các nhà tài trợ đã ngày càng quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam và có
cao nhất từ trước đến nay, cho thấy sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của cộng
đồng quốc tế đối với chủ trương, chính sách của Việt Nam.
a) Số liệu huy động, ký kết, sử dụng vốn ODA qua các năm
Năm Số vốn cam kết Số vốn ký kết Số vốn giải ngân
1993
____
0.82 0.41
1994 1.81 2.6 0.72
1995 1.94 1.44 0.74
1996 2.26 1.6 0.9
1997 2.43 1.69 1
1998 2.4 2.4 1.24
1999 2.3 1.37 1.35
2000 2.2 1.8 1.65
2001 2.4 2.59 1.5
2002 2.4 1.94 1.53
2003 2.6 1.92 1.42
2004 2.83 2.7 1.6
2005 3.4 2.6 1.72
2006 3.75 2.9 1.78
2007 4.4 3.7 2.18
2008 5.43 3.95 2.3
Tổng 42.55 36.02 22.04
5
Bảng 1.1: Số liệu vốn ODA của Việt Nam (tỷ USD)
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
Hình 2.1: Biểu đồ vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân tại Việt Nam (tỷ USD)
Lớp CH-K19-D9 Trang 6/39
1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
0
kỳ 1993-2008 phù hợp với những định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA nêu trên.
Hình 1.2: Biểu đồ phân bố vốn ODA theo ngành nghề.
Lớp CH-K19-D9 Trang 7/39
15.7%
21.8%
28.1%
9.2%
8.9%
3.3%
13.1%
NN&PTNN
NLượng & CNghiệp
GTVT & BCVT
Cấp thoát nước & PTĐT
Y tế, GDĐT
Môi trường, KHKT
Khác
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
− Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án ODA ký
kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,7 tỷ USD, trong đó có
nhiều dự án quy mô lớn như Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc,
Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, Dự án phát
triển sinh kế miền Trung, Chương trình cấp nước nông thôn, giao thông nông
thôn và điện khí hóa nông thôn, Chương trình thủy lợi Đồng bằng sông Cửu
Long và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm
nghèo khác, đã góp phần hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải thiện một
bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các
lĩnh vực y tế, giáo dục.
Phòng, Đà Nẵng, hiện đang triển khai thực hiện nhiều dự án ODA phát
triển cơ sở hạ tầng đô thị quan trọng, quy mô lớn như đường sắt nội đô,
thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn,…
Lớp CH-K19-D9 Trang 8/39
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
− Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực ưu
tiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án
đã ký đạt tổng số vốn khoảng 4,4 tỷ USD.
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách
giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo
viên, tăng cường năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung
cấp học bổng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ,
công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế,
khoa học, công nghệ và quản lý.
Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng
58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ USD) đã được sử dụng để tăng
cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xây
dựng bệnh viện và tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện
tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, xây
dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia, , tăng
cường công tác kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS và bệnh
truyền nhiễm như lao, sốt rét; đào tạo cán bộ y tế, hỗ trợ xây dựng chính
sách và nâng cao năng lực quản lý ngành.
Nhiều chương trình và dự án ODA hỗ trợ Việt Nam bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững như các chương trình trồng rừng và phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc; các chương trình và dự án xây dựng và bảo vệ các khu
sinh quyển, rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,
Ngoài ra, hơn 1 tỷ USD vốn ODA còn được sử dụng để hỗ trợ cho ngân
sách thông qua các khoản vay và viện trợ không hoàn lại gắn với chính sách của
1.2.3.Tình hình giải ngân vốn ODA
Mặc dù qua các năm, số vốn ODA cam kết và ký kết dự án đạt được rất
khả quan, nhưng thực tế kết quả giải ngân tương đối chậm. Trên bảng dữ liệu cho
thấy tỷ lệ giải ngân hàng năm chỉ đạt trung bình 50%-60% so với số vốn đã ký kết
trước đó. Mặc dù tốc độ giải ngân được cải thiện nhất là trong 3 năm trở lại đây,
Lớp CH-K19-D9 Trang 10/39
WB
ADB
EU
Korea
US
Other
1.66
1.57
0.89
0.27
0.13
0.49
Dự án triệu USD
Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai 1000.00
Truyền tải điện miền Bắc 360.00
250.00
Xây dựng đường vành đai 3 Hà Nội 245.27
Phát triển CSHT GT KV ĐBSCL 207.00
Cải thiện môi trường nước TP Huế 182.48
Lưới điện nông thôn VN 150.00
Đường cao tốc Bắc Nam (TPHCM – Dầu Giây) 145.43
Đường hành lang ven biển phía Nam
(thuộc tiểu vùng Sông MêKông mở rộng)
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
1997 1.69 1 59.03%
1998 2.4 1.24 51.67%
1999 1.37 1.35 98.40%
2000 1.8 1.65 91.87%
2001 2.59 1.5 57.98%
2002 1.94 1.53 78.70%
2003 1.92 1.42 74.04%
2004 2.7 1.6 59.26%
2005 2.6 1.72 66.15%
2006 2.9 1.78 61.38%
2007 3.7 2.18 58.81%
2008 3.95 2.3 58.23%
Tổng 36.02 22.04 61.18%
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên phát
triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lựu tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước.
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát
triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa
nhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm,
mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên 10% vào
năm 2008.
Với sự hỗ trợ của ODA, hệ thống kết cấu hạ tầng đã được phát triển tương
đối hiện đại với mạng lưới điện, bưu chính viễn thông được phủ khắp các tỉnh
thành trong cả nước, nhiều tuyến đường giao thông được làm mới, nâng cấp,
nhiều cảng biển, cụm cảng hàng không cũng được xây dựng mới, mở rộng. Và
đặc biệt, sự ra đời của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã
tạo môi trường hết sức thuận lợi cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trong
nước và góp phần tăng khả năng thu hút vốn từ nước ngoài. Bởi vì, một môi
trường đầu tư thuận lợi sẽ là chất xúc tác cho các nguồn vốn đầu tư khác như vốn
Như vậy, qua việc hợp tác và triển khai các dự án ODA, Việt Nam được tiếp cận
với những quy trình, khoa học kỹ thuật mới, cũng như học hỏi kinh nghiệm điều
hành và quản lý dự án của nước ngoài, nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng quản
lý hiện đại được chuyển giao. Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu phối hợp cùng đối
tác, về phía chính phủ cũng thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
− Phát triển năng lực con người VN qua việc đào tạo, cải thiện chỉ số phát triển
con người
Thông qua các dự án ODA, hàng ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo và
đào tạo lại, cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo có sự tham
gia của những chuyên gia nước ngoài, cử cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài,
tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát
triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp
những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình dự
án. Thông qua những hoạt động này, các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào
viêc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt
Nam và đây mới chính là lợi ích căn bản lâu dài đối với chúng ta.
Tổng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo ước chiếm khoảng 8,5% -
10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cải thiện chất lượng và hiệu
quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nâng
cao chất lượng dạy và học, như các dự án ODA hỗ trợ cải cách giáo dục tiểu học,
trung học và đại học, tự án tạo nghề
Nguồn vốn ODA đã đóng góp cho sự thành công của một số chương trình
quốc gia, ngành có ý nghĩa sâu rộng như chương trình dân số và phát triển,
chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em, chương trình
nước sạch nông thôn, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trình
xoá đói giảm nghèo Nhờ vậy, thứ hạng quốc gia và chỉ số phát triển con người
của nước ta đều được cải thiện hàng năm.
− Thiết lập quan hệ cộng đồng quốc tế, nâng cao vị thế.
Với các biện pháp thu hút nguồn vốn ODA, qua đó Việt Nam thiết lập quan
cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cổ phần hóa, tư nhân hóa, Mặc dù
trong cơ cấu viện trợ, vốn vay ODA ưu đãi chiếm khoảng 80% song Việt Nam vẫn
được các định chế tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng
Thế giới (WB) đánh giá nợ nước ngoài hiện ở trong ranh giới an toàn. Tổng nợ
ODA của Việt Nam hiện chiếm 40% GDP. Mỗi năm Việt Nam dành khoảng 5,5%
GDP cho các khoản dịch vụ nợ.
Và như phân tích ở phần trên, ODA đã mang lại nhiều lợi ích trong quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vay nợ nước ngoài trong đó có
ODA là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho ngân sách nhà nước, đảm bảo
cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết các
vấn đề về an sinh xã hội, đặc biệt là vấn đề xóa đói giảm nghèo, tăng cường và
củng cố thể chế pháp lý, hỗ trợ phát triển năng lực con người, chuyển giao công
nghệ, phát triển quan hệ đối tác chặt chẽ với nước ngoài.
Với nhận thức ODA là một bộ phận của đầu tư công nên phải được quản lý
chặt chẽ và hiệu quả, trong 15 năm qua Chính phủ không ngừng hoàn thiện hệ
thống tổ chức và quản lý nguồn vốn này. Theo tinh thần đó, Chính phủ thống nhất
quản lý nhà nước về ODA trong đó có phân công trách nhiệm và quyền hạn cụ thể
cho từng cơ quan với một cơ chế phối hợp nhịp nhàng, cụ thể Chính phủ giao Bộ
Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối về điều phối, quản lý và sử dụng nguồn
vốn ODA; Bộ Tài Chính thực hiện chức năng quản lý tài chính đối với nguồn vốn
này (là đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước hoặc Chính phủ đối với
các khoản vay nước ngoài nói chung và nguồn vay nợ ODA nói riêng, đồng thời
cũng chính là tổ chức cho vay lại, hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho vay lại với cơ
quan cho vay lại và thu hồi phần vốn cho vay lại của các chương trình, dự án cho
vay lại từ NSNN, quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án …; Ngân hàng
nhà nước chịu trách nhiệm tiến hành đàm phán và ký các điều ước quốc tế cụ thể
về ODA với WB, RMF và ADB v v…; Bộ Ngoại Giao, Bộ Tư Pháp, Ngân hàng
Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, tham gia quản lý nhà nước về ODA theo chức
Lớp CH-K19-D9 Trang 14/39
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
đó vấn đề quản lý vốn đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp.
Nguồn vốn ODA ở một số ban quản lý dự án đã không được sử dụng đúng
mục đích (ví dụ như việc mua sắm tài sản phục vụ cá nhân, cho mượn, cho thuê
tài sản của dự án không đúng nguyên tắc, sử dụng kinh phí không đúng theo cam
kết…). Thậm chí, ở một số dự án tình trạng lãng phí, thất thoát vốn và tham nhũng
đã xảy ra khá nghiêm trọng khiến các nhà tài trợ thiếu tin tưởng và gây mất uy tín
của chúng ta với quốc tế. Một số trường hợp như PMU18 và gần đây là dự án Đại
lộ Đông Tây v.v… khiến cho công luận và Quốc hội đặc biệt quan ngại về việc
quản lý chặt chẽ đồng vốn ODA và hiệu quả của nguồn tài trợ này, đòi hỏi Chính
phủ cần phải có ngay những giải pháp triệt để.
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá tình hình đầu tư ODA chưa đầy
đủ, còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là công tác theo dõi, thống kê, kiểm tra và đánh
giá hiệu quả của công trình sau đầu tư còn bỏ ngõ, ngoại trừ các DA vay lại và
Lớp CH-K19-D9 Trang 15/39
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
đang trong thời gian trả nợ. Kết quả quản lý thường được đánh giá chỉ bằng công
trình (mức độ hoàn thành, tiến độ thực hiện) mà chưa xem xét đến hiệu quả sau
đầu tư một khi công trình được đưa vào vận hành khai thác. Quan điểm và cách
làm này gây khó khăn cho việc đánh giá, định hướng đầu tư từ nguồn ODA tạo
nên sự lãng phí và né tránh trách nhiệm của những bộ phận liên quan.
− Tốc độ giải ngân chậm
Tình hình thực hiện các dự án thường bị chậm ở nhiều khâu: chậm thủ tục,
chậm triển khai, giải ngân chậm, tỷ lệ giải ngân thấp. Do vậy, thời gian hoàn thành
dự án kéo dài làm phát sinh các khó khăn, đặc biệt là vốn đầu tư thực tế thường
tăng hơn so với dự kiến và cam kết; đồng thời cũng làm giảm tính hiệu quả của
dự án khi đi vào vận hành khai thác.
Việc giải ngân chậm sẽ dẫn đến những thiệt thòi về nhiều mặt như: chậm
đưa công trình vào hoạt động đúng tiến độ, các điều kiện ưu đãi giảm sút do rút
ngắn thời gian ân hạn, không những thế còn ảnh hưởng đến uy tín về năng lực
tiếp thu và sử dụng ODA của nước ta trong khi đang có sự cạnh tranh thu hút
lớn đến thực hiện phân cấp và tỷ trọng dự án do địa phương quản lý thậm chí
giảm đi. Đặc thù riêng của ngành và cách thức phân cấp quản lý giữa trung ương
và địa phương trong nội bộ ngành cũng ảnh hưởng tới thực hiện phân cấp ODA.
Lĩnh vực địa phương được phân cấp nhiều hơn thì cơ hội để tiếp cận ODA cho
ngành đó cao hơn, điển hình như giáo dục, y tế, môi trường đô thị.
Từ 1993 đến 2007, sự mất cân đối còn thể hiện ở chỗ Tp.HCM và Hà Nội
thụ hưởng tới 1/3 tổng ODA đã ký kết, gấp 10 lần mức trung bình ở các địa
phương. Phản hồi cụ thể từ các địa phương cũng nêu rõ, thực hiện phân cấp
trong triển khai 1 dự án cụ thể mới gặp nhiều khó khăn, nhất là các dự án đầu tư
xây dựng công trình. Lý do là các địa phương chưa được hoàn toàn tự chủ, phải
xin ý kiến của bộ, ngành và Chính phủ ở nhiều khâu.
Mặt khác, địa phương chưa được chủ động trong đàm phán với nhà tài trợ,
dẫn đến nhiều nội dung thay đổi do không phù hợp với thực tiễn địa phương. Các
tồn tại cũng diễn ra ở chính sách phân cấp trong đấu thầu, nhất là ở cấp huyện
khi cán bộ địa phương khó đáp ứng việc lập hồ sơ mời thầu, cấp tỉnh thì ít có
thẩm quyền xử lý vốn đối ứng ở các dự án được cấp phát từ ngân sách Nhà
nước.
Đó là chưa kể trong quản lý, mỗi địa phương thực hiện một cách khác nhau
khi chưa có mô hình tổ chức thực hiện quản lý ODA chung cho tất cả các tỉnh,
thành phố. Ở cấp ban quản lý dự án ở địa phương, tình trạng yếu kém được phản
ánh là sự thiếu quyền hạn, thụ động hoặc trách nhiệm chưa được quy định rõ.
1.4.NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ
1.4.1.Về phía nhà tài trợ:
ODA là nguồn vốn từ nước ngoài nên khi vào Viêt Nam sẽ gặp phải những
sự khó khăn do khác biệt về nhiều mặt như: ngôn ngữ, tập quán, thói quen làm
việc, các quy định về thủ tục, giấy tờ, quy trình…làm mất nhiều thời gian để giải
quyết công việc.
Mặt khác, bản thân các nhà tài trợ cũng đặt ra nhiều thủ tục phức tạp,
rườm rà. Qúa trình phê duyệt qua nhiều bước, hồ sơ bị lưu giữ lâu tại văn phòng
các nhà tài trợ ở Việt Nam (do văn phòng đại diện có ít thẩm quyền thường phải
thủ tục rườm rà làm cho thời gian kéo dài, dẫn đến việc khi dự án đi vào thực hiện
có nhiều khác biệt so với ban đầu, do đó phải bổ sung và điều chỉnh dự án nhiều
lần.
Khi phân cấp về địa phương, thời gian xem xét, cấp phép và thực hiện dự
án thực sự không ngắn hơn. Cán bộ cấp tỉnh không quen đưa ra quyết định. Ở
nhiều ban, cơ chế xem xét rất phức tạp, đặc biệt trong đánh giá dự án để cấp
phép. Ở các nước, quy trình xem xét, phê duyệt và cấp phép dự án có thể dự
đoán được, ví dụ phải mất 10 năm, phải gặp người này, phải có những thủ tục
nào Nhưng ở Việt Nam, quy trình quá phức tạp, không biết ai chịu trách nhiệm.
Do đó, một khi dự án chậm, không thể biết nguyên nhân từ khâu nào, ai chịu trách
nhiệm. Ở các nước, các quy trình xem xét ở các cấp được tiến hành song song,
đồng thời. Tất cả các bên cùng xem xét tại một thời điểm. Nhưng tại VN, mỗi cấp
xem xét theo một quy trình riêng, tuần tự từ thấp lên cao, từ bước này sang bước
khác. Mỗi cấp không có quyền tiến hành nếu không có những điều kiện cụ thể.
Mô hình tổ chức triển khai dự án nơi thì rườm rà, qua nhiều cấp trung gian,
phân công trách nhiệm không rõ ràng, nơi thì lại độc quyền và lạm quyền quyết
định từ khi bắt đầu dự án đến khi kết thúc. Tất cả đều dẫn đến hậu qủa là làm
chậm giải ngân vốn, chậm tiến độ thực hiện dự án và thất thoát vốn đầu tư.
− Nhận thức chưa đúng về ODA, thiếu nhân lực giám sát hiệu quả và quản lý
chuyên nghiệp
Một số giới lãnh đạo của Chính phủ, của chính quyền địa phương và chủ
đầu tư có quan điểm nhìn nhận chưa đúng về nguồn vốn tài trợ ODA. Đúng là
trong nguồn vốn ODA có một phần là viện trợ không hoàn lại, song phần này chỉ
chiếm khoảng 20-30%, phần còn lại là vốn vay. Do thời hạn vay dài, thời hạn ân
hạn dài, lãi suất thấp, áp lực trả nợ chỉ phát sinh sau thời gian dài sau này nên dễ
tạo nên sự chủ quan trong quyết định, lựa chọn nguồn tài trợ ODA. Ngoài ra, cơ
quan đàm phán trực tiếp với nhà tài trợ thường là các bộ, ngành trong Chính phủ
nên chủ đầu tư chưa thấy hết tác động của những điều kiện khó khăn mà nhà tài
trọ ràng buộc.
Lớp CH-K19-D9 Trang 18/39
Từ thực trạng như đã nêu, để có thể hình dung những định hướng và giải
pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA cần thống nhất một số quan điểm cơ
bản sau:
− Về khả năng thu hút vốn ODA trong các năm tới, do Việt Nam sẽ trở thành
quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu
người đạt khoảng 1.200 USD nên một số nhà tài trợ, đặc biệt các nhà tài trợ
song phương châu Âu sẽ điều chỉnh chính sách cung cấp ODA. Khi đó các
nhà tài trợ sẽ giảm tài trợ, viện trợ không hoàn lại, tập trung nhiều hơn vào
cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, chuyển từ cho vay ưu đãi chuyển sang cho vay
thương mại với lãi suất cao hơn. Liên quan đến vấn đề này, các chuyên gia
nước ngoài cũng đã cảnh báo về bẫy thu nhập trung bình mà Việt Nam có
thể mắc phải, khi phải cân nhắc giữa việc một nước nghèo nhưng nhận
được nhiều viện trợ ưu đãi và một nước tiến lên mức thu nhập trung bình
nhưng bị cắt giảm các khoản viện trợ này.
Lớp CH-K19-D9 Trang 19/39
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
− ODA không phải là nguồn vốn dễ kiếm, không phải là khoản cho không, nó
phải được nhìn nhận như 1 bộ phận của ngân sách nhà nước. Các cấp
quyết định, cơ quan chủ quản và chủ đầu tư các dự án ODA phải chịu trách
nhiệm trước toàn dân - không chỉ với thế hệ hôm nay mà cả mai sau - về
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. Hơn nữa, nguồn vốn ODA là không chắc
chắn. Vì vậy, quốc gia tiếp nhận vốn ODA không nên quá kì vọng vào nguồn
vốn này.
Vai trò của ODA là nguồn lực bổ trợ và xúc tác cho quá trình phát triển.
Nhận thức đúng đắn này sẽ khắc phục tư tưởng thụ động, trông chờ vào viện trợ
và giúp phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong phát triển.
1.5.2.Giải pháp thu hút vốn ODA
− Mở rộng các quan hệ phi nhà nước. Viện trợ phát triển chính thức bao gồm
ba phương thức: viện trợ không hoàn lại (song phương), cho vay với điều
kiện ưu đãi( song phương) và các hiệp định đa phương. Nếu như phần cho
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
chương trình, dự án tầm cỡ quốc gia, có nguồn thu và khả năng trả nợ chắc chắn
như xây dựng các nhà máy điện, kể cả các nhà máy điện nguyên tử; phát triển
các tuyến đường cao tốc thu phí, kể cả trong các thành phố lớn; phát triển hệ
thống vận tải bánh sắt quy mô vận tải lớn như tầu điện ngầm, đường sắt trên cao
ở các thành phố lớn…; các cảng hàng không; cảng biển; các hệ thống thông tin
liên lạc viễn thông ; các công trình sản xuất có hàm lượng công nghệ và kỹ thật
cao, có sức lan tỏa thúc đẩy phát triển một ngành, một địa bàn lãnh thổ, Những
dự án này phải xây dựng được phương án thu hồi vốn cũng như biện pháp trả nợ
qua các thời kỳ, nghĩa là không được sử dụng hết tất cả các khoản thu nhập ròng
đã có, cần phải giữ một phần để hoàn trả lại vốn, lãi kịp thời nhằm đảm bảo uy tín
quốc tế, đảm bảo nguồn vốn đầu tư sẽ không trở thành khoản nợ xấu trong tương
lai
Ngược lại, các nguồn vốn ưu đãi hơn tập trung vào các lĩnh vực an sinh xã
hội, giáo dục, môi trường.
− Cho vay lại vốn ODA
Để nâng cao trách nhiệm của nơi sử dụng vốn, thiết nghĩ chính phủ nên
hướng tới cho các bộ ngành, địa phương vay lại vốn ODA với lãi suất ưu đãi. Thứ
nhất, giúp cho việc phân bổ ODA đúng mục đích, đưa vốn về đúng với nơi cần
vốn, thiếu vốn hơn vì khi đó cơ quan chủ quản sẽ cân nhắc rất kỹ mục đích sử
dụng, mức độ cần thiết của dự án trước khi quyết định đi vay. Thứ hai, mặc dù lãi
suất nhỏ, tuy nhiên với áp lực trả nợ của một khoản đi vay, chắc chắn trong quá
trình xây dựng dự án, sử dụng vốn và giám sát công trình, phía đi vay sẽ phải
đảm bảo hiệu quả dự án và khả năng trả nợ. Thứ ba, đây cũng tạo ra thêm nguồn
thu cho chính phủ bù đắp các chi phí phát sinh trong quá trình huy động và quản
lý nguồn vốn ODA.
Như vậy, chính phủ nên ban hành qui chế chung cho vay lại các nguồn vốn
vay nước ngoài, khuyến khích sự tham gia của các ngành, các địa phương, các
cơ sở vào khai thác nguồn vốn ODA nhằm khắc phục tình trạng lộn xộn hiện nay
trong xác định các điều kiện cho vay lại.
ngân giữa hai phía, làm giảm sự phức tạp, rườm rà về thủ tục của các nhà tài trợ
và kiến nghị các nhà tài trợ tăng cường quyền hạn cho các văn phòng đại diện tại
Việt Nam.
Mặc dầu đã có những nỗ lực nhất định từ phía các nhà tài trợ trong vấn đề
thống nhất thủ tục, nhưng khó có thể hình thành một hệ thống thủ tục chung của
các nhà tài trợ trên phạm vi toàn cầu. Do vậy, đối với các dự án ODA, Chính phủ
nên hình thành qui định hệ thống thủ tục trong nước theo kiểu “khung“, các vấn đề
chi tiết cho phép áp dụng thủ tục và hướng dẫn của nhà tài trợ.
Về chính sách cũng cần hài hòa giữa lợi ích trong nước và lợi ích của các
nhà tài trợ, như: dỡ dần hàng rào thuế quan bảo hộ nền công nghiệp non trẻ trong
nước, tiếp tục miễn thuế thu nhập cho cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài thực
hiện dự án ODA, cho phép đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế hoặc có khả năng
sinh lời cao…
Bên cạnh đó cần có cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp thực hiện giữa
chính phủ và các nhà tài trợ để có sự gặp nhau giữa kế hoạch phát triển kinh tế-
xã hội, chiến lược phát triển và những chính sách ưu tiên của Việt Nam với mục
đích và điều kiện tài trợ, cũng như trong việc giám sát và chống tham nhũng ở các
chương trình, dự án có sử dụng nguồn vốn ODA.
1.5.5.Chính sách:
− Hoàn thiện môi trường pháp lý: phù hợp, tạo điều kiện, quản lý và giám sát
chặt chẽ.
Phải tiến hành xây dựng chính sách tổng thể về quản lý, giám sát vay và
trả nợ nước ngoài, được hoạch định trong mối tương quan chặt chẽ với các chính
sách và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô và vi mô, việc quản lý vay
và trả nợ nước ngoài phải tính đến các chỉ tiêu cơ bản về nợ nước ngoài như khả
năng hấp thụ vốn vay nước ngoài (tổng nợ nước ngoài/GDP), chỉ tiêu khả năng
vay thêm từng năm, chỉ tiêu khả năng hoàn trả nợ (tổng nghĩa vụ trả nợ/thu nhập
xuất khẩu).
Đẩy mạnh công tác chống tham nhũng bằng cách cụ thể hóa Luật phòng
Lớp CH-K19-D9 Trang 22/39
hội, chính trị, môi trường… và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án và
do đó ảnh hưởng đến tốc độ giải ngân vốn ODA nhưng đây cũng là khâu thường
xuyên có vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án.
Vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư cần được coi là một bộ
phận quan trọng trong kế hoạch thực hiện dự án ODA, vấn đề này không chỉ liên
quan đến lợi ích thiết thân, cuộc sống hiện tại cũng như lâu dài của người dân mà
còn liên quan đến luật pháp, chính sách của nhà nước, chính sách của nhà tài trợ.
Trong đền bù luôn gặp tính hợp pháp của tài sản và việc xử lý vấn đề này không
dễ dàng trong tình trạng xây dựng trái phép, lấn chiếm đất đai phổ biến như hiện
nay. Đồng thời việc áp dụng chính sách tính hợp pháp của tài sản trên thực tế
nhiều khi lại mâu thuẫn với chính sách đảm bảo đời sống của người bị ảnh hưởng
bởi dự án sau khi thực hiện tái định cư không tồi hơn địa điểm cũ của nhà tài trợ.
Để tháo gỡ vấn đề này cần phải có sự phối hợp từ nhều phía ở phía Việt Nam và
nhà tài trợ cũng cần xem xét lại việc điều chỉnh các chính sách của mình cho phù
Lớp CH-K19-D9 Trang 23/39
Tiểu luận Lý thuyết TCTT: Tìm hiểu ODA và FDI tại Việt Nam
hợp với thực tiễn của Việt Nam.
Ngoài ra, có một vấn đề đã nhiều lần được đưa ra đó là chính phủ nên ban
hành khung giá đất đền bù linh hoạt và thỏa đáng trong công tác giải phóng mặt
bằng, nhưng cũng cương quyết xử lý đối với những trường hợp đã được đền bù
thỏa đáng nhưng không chịu di dời. Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
ban quản lý dự án và chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt
bằng.
1.5.7.Con người
Tất cả các vấn đề nêu trên chỉ mang lại hiệu quả khi vấn đề mấu chốt vẫn
luôn là con người vì con người là chủ thể xây dựng nên những biện pháp và thực
hiện các biện pháp ấy. Rõ ràng với cơ chế mở cửa và sự tham gia vào các dự án
ODA cùng đối tác nước ngoài, trình độ của đội ngũ nhân lực chúng ta đã có
những tiến triển tốt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở một bộ phận nhỏ các cán bộ chủ
chốt trên trung ương hoặc chính quyền tỉnh, thành phố. Chúng ta có thể thu hút
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình thức
đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết
lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm
quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
2.1.2.Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo luật đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại nước ta được
thể hiện chủ yếu dưới 03 hình thức:
− Hợp đồng hợp tác kinh doanh
− Doanh nghiệp liên doanh
− Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
− Các chủ trương, chính sách:
Chính sách tiền tệ: thể hiện qua chế độ tỷ giá. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng
cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của các
nhà đầu tư;
Chính sách thương nghiệp: có ý nghĩa đặc biệt đối với đầu tư trong lĩnh
vực làm hàng xuất khẩu thể hiện qua công cụ thuế quan và hạn ngạch
xuất nhập khẩu, và các hàng rào thương mại khác;
Chính sách thuế và các ưu đãi;
Chính sách kinh tế vĩ mô ổn định sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài. Chẳng hạn nếu
không có biện pháp hữu hiệu kiềm chế lạm phát thì các doanh nghiệp khó
tiên định kết quả kinh doanh và do đó khó thu hút được các dòng vốn
quốc tế.
− Hệ thống pháp luật: yếu tố này có thể làm cản trở hoạt động của các công ty
nước ngoài trên thị trường bản địa. Ở Việt Nam, luật đầu tư nước ngoài triển
khai còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế bởi mức độ khuyến
khích, ưu đãi còn hạn chế và chưa nhất quán.
− Các nhân tố khác:
Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa như: quy mô thị