nghiên cứu ứng dụng ảnh viễn thám độ phân giải cao các thời kỳ để đánh giá biến động đường bờ sông tiền, sông hậu tại 2 tỉnh an giang, đồng tháp - Pdf 22

BTNMT
TTVTQG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM VIỄN THÁM QUỐC GIA
108 Phố Chùa láng - Quận Đống Đa – Hà Nội
***
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

ĐỀ TÀI CẤP BỘ:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ẢNH VIỄN THÁM ĐỘ PHÂN GIẢI CAO
CÁC THỜI KỲ ĐỂ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ SÔNG TIỀN,
SÔNG HẬU TẠI 2 TỈNH AN GIANG, ĐỒNG THÁP

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: K.S NGUYỄN NGỌC LÂM


NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG ẢNH VIỄN THÁM ĐỘ PHÂN GIẢI CAO
CÁC THỜI KỲ ĐỂ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ SÔNG TIỀN,
SÔNG HẬU TẠI 2 TỈNH AN GIANG, ĐỒNG THÁP Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Hà Nội, ngày tháng năm 2010
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CƠ QUAN CHỦ TRÌ
TRUNG TÂM VIỄN THÁM QUỐC GIA
GIÁM ĐỐC KS. Nguyễn Ngọc Lâm TS. Nguyễn Xuân Lâm

Hà Nội, ngày tháng năm 2010 Hà Nội, ngày tháng năm 2010
HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH THỨC CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TL. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRUỜNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Thúy
Trung tâm UDCNVTMN Thành lập bản đồ hiện trạng, bản
đồ biến động
6. CN. Lâm Thanh Hà Trung tâm UDCNVTMN Thành lập bản đồ hiện trạng, bản
đồ biến động
7. CN. Đặng Thị Ngọc An Trung tâm UDCNVTMN Xử lý ảnh vệ tinh, thành lập bản
đồ hiện trạng, bản đồ biến động
8. KS. Trần Thanh Hiền Trung tâm UDCNVTMN Đ
o khống chế ảnh vệ tinh, điều
vẽ ngoại nghiệp, đo địa hình
lòng sông
9. ThS. Phạm Thị Ngọc
Nhung
Trung tâm UDCNVTMN Thành lập bản đồ hiện trạng, bản
đồ biến động
10. CN. Tạ Thị Nga Trung tâm UDCNVTMN
Thành lập bản đồ hiện trạng, bản
đồ biến động
Các đơn vị tham gia hỗ trợ thực hiện đề tài
1. Phân viện Khoa học Trắc địa Bản đồ
2. Sở Tài nguyên & Môi trường các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp
3. Đài Khí tượng Thủy văn Nam bộ
3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Sông Tiền, sông Hậu nằm trong hệ thống sông Cửu Long có vai trò rất quan trọng,

viễn thám và GIS để thành lập bản đồ biến động đường bờ sông: các nộ
i dung nghiên 4
cứu chủ yếu của đề tài là nghiên cứu tích hợp công nghệ viễn thám và GIS để đưa ra
đánh giá diễn biến đường bờ và xây dựng một quy trình để có cơ sở sử dụng tư liệu ảnh
vệ tinh đa thời gian theo dõi biến động đường bờ sông. Ngoài ra, qua đề tài thiết lập sự
phối hợp giữa cơ quan chuyên ngành viễn thám với các cấp quản lý tại địa phương
nhằm khai thác tư liệu ảnh vệ tinh một cách hữu hiệu, phục vụ cho giám sát, đánh giá
diễn biến đường bờ sông các địa phương.


I.3. Hiện trạng biến động đường bờ sông Tiền, sông Hậu 255
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH & THÀNH LẬP BẢN
ĐỒ HIỆN TRẠNG, BẢN ĐỒ BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ 311
II.1. Cơ sở lý thuyết 311
II.1.1. Cơ sở lý thuyết về công nghệ viễn thám 311
II.1.2. Cơ sở lý thuyết về công nghệ GIS 377
II.1.3. Khả năng ứng dụng cuả công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
387
II.2 Tư liệu sử dụng 39
II.2.1. Tư liệu bản đồ 39
II.2.2. Tư liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao và ảnh hàng không 39
II.2.3 Đánh giá tư liệu sử dụng 400
II.3 Quy trình công nghệ thành lập bản đồ hiện trạng và bản đồ biến động
đường bờ 411
II.3.1. Thành lập bình đồ ảnh 422
II.3.2. Thành lập bản đồ hi
ện trạng đường bờ của các thời kỳ bằng ảnh vệ tinh
đa thời gian 488
II.3.3. Thành lập bản đồ biến động đường bờ 555
II.3.4. Ứng dụng công nghệ GIS trong phân tích diễn biến đường bờ 600 6
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ SÔNG TIỀN SÔNG HẬU
QUA CÁC THỜI KỲ 1995 – 2003 – 2010 622
III.1. Biến động đường bờ sông Tiền 622
III.1.1. Đoạn 1: ( từ biên giới Campuchia tới ấp Long thị B) 622
III.1.2. Đoạn 2: ( từ ấp Long thị B đến cuối cù lao Long Khánh) 69
III.1.3. Một số khu vực biến động khác 733
III.2. Biến động đường bờ sông Hậu 777

Bảng IV. 2: Quy mô, tốc độ sạt lở tại một số khu vực hai bên sông Cửu Long giai
đoạn từ năm 1966 – 2002 933

Bảng IV. 3: Diễn biến bồi lắng tại một số cù lao, bãi bồi trong lòng sông Tiền, sông
Hậu, giai đoạn từ năm 1966 – 2002 933

Bảng IV. 4: Diễn biến hố xói tại một số khu vực trên sông Cửu Long 944
Bảng IV. 5: Dự báo xói lở bờ khu vực Thường Phước huyện Hồng Ngự 966
Bảng IV. 6: Dự báo xói lở bờ khu vực Tân Châu, huyện Tân Châu, 966
Bảng IV. 7: Dự báo xói lở bờ khu vực thị trấn Hồng Ngự huyện Hồng Ngự tỉnh
Đồng Tháp các giai đoạn 2002, 2005 và 2010 977

Bảng IV. 8: Dự báo xói lở bờ khu vực thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang các
giai đoạn 2002, 2005 và 2010……………………….………………………………977
8
DANH MỤC HÌNH

Hình I. 1: Dải đất phía trước UBND huyện Tân Châu 277
Hình I. 2: Đợt lở bờ sông khu vực UBND huyện Tân Châu – 6/12/2000 277
Hình I. 3: Đợt lở bờ ngày 21/12/2000 ở Tân Châu 288
Hình I. 4: Cơ sở sản xuất gạch đang có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi xói lở 288
Hình I. 5: Đợt sạt lở bờ sông Tiền khu vực thị xã Sa Đéc năm 2000 29
Hình I. 6: Xói lở bờ ngã ba sông Hậu và rạch Bình Ghi đoạn biên giới 300
Hình II. 1: Quy trình thành lập bản đồ hiện trạng và biến động….…………….422
Hình II. 2: Sơ đồ quy trình thành lập bình đồ ảnh vệ tinh 444

Hình II.3: Bình đồ ảnh vệ tinh SPOT4 ( tổ hợp màu giả), chụp năm 1995 455

Hình III. 15: Biến động đường bờ khu vực thị xã Châu Đốc 777
Hình III. 16: Biến động đường bờ khu vực thị trấn An Châu 788
Hình III. 17: Xói lở quốc lộ 91 (xã Bình Mỹ, Châu Phú, An Giang) 79
Hình III. 18: Bản đồ biến động đường bờ sông Tiền, sông Hậu 800
Hình IV. 1: Mặt cắt biến động………………………….………………………….844
Hình IV. 2: Diễn biến mặt cắt sông tại vị trí Tân Châu, sông Tiền 2000-2009 866

Hình IV. 3: Mặt cắt ngang tại trạm Tân châu-sông Tiền 866
Hình IV. 4: Phân bố tốc độ tại mặt cắt Cần Thơ – sông Hậu 888
Hình IV. 5: Diễn biến mặt cắt sông tại vị trí Cần Thơ, sông Hậu 2000-2009 888
Hình IV. 6: Chập ảnh xác định quy luật diễn biến lòng dẫn 922
Hình IV. 7: Quy trình công nghệ dự báo xói bồi lòng dẫn 955
Hình IV. 8: Dự báo biến động đường bờ năm 2020, khu vực cồn Cỏ Gáng 1 988
Hình V.1: Quy trình tổng quát sử dụng ảnh vệ tinh để quan trắc, dự báo biến
động đường bờ sông………………………………………………………………100

Nam, mỗi sông dài khoảng 220-250 km.Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là
sông Lớn, sông Cửu Long. Hình 1: Hệ thống sông ĐBSCL chụp từ vệ tinh
Lưu lượng hai sông này rất lớn, tại Tân Châu ( trên sông Tiền) lưu lượng lớn nhất là
26.000 m³/s, tại Châu Đốc ( trên sông Hậu) lưu lượng lớn nhất 7.680 m³/s, và vận
chuyển rất nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng Nam Bộ.
Sông Hậu đi qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), thành phố Cần Thơ, Sóc
Trăng và đổ ra biển trước khi qua ba cửa: cửa Định An, cử
a Bassac, cửa Trần Đề. Cửa
Bassac vào thập niên 1970 đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển như ngày
nay. 12
Sông Tiền có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu (An
Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp) đến Cái Bè (Tiền Giang) thì chia thành
bốn nhánh sông đổ ra biển qua sáu cửa:
- Sông Mỹ Tho chảy qua thành phố Mỹ Tho và phía nam Gò Công thuộc tỉnh Tiền
Giang qua cửa Đại và cửa Tiểu ra biển.
- Sông Hàm Luông đi qua phía nam tỉnh Bến Tre qua cửa Hàm Luông
- Sông Cổ Chiên là ranh giới tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, đổ ra biển qua cửa Cổ Chiên
và cửa Cung Hầu.
- Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh B
ến Tre, ra cửa Ba Lai. Hiện nay, cửa Ba Lai
có hệ thống cống đập Ba Lai ngăn lại. Hệ thống này nằm trong dự án ngọt hóa vùng
ven biển của tỉnh Bến Tre.
Trong nhiều năm gần đây, quá trình diễn biến lòng sông Tiền, sông Hậu đã dẫn đến
hiện tượng xói, bồi, sạt lở mái bờ sông liên tục, rộng khắp trên toàn tuyến sông và đã
13
Sự cần thiết của đề tài
Việc đưa ra những căn cứ khoa học một cách khách quan trong việc đánh giá diễn
biến hiện tượng sạt lở dọc tuyến sông Tiền, sông Hậu là rất cấp bách trong giai đoạn
hiện nay. Bên cạnh đó việc xây dựng một quy trình giám sát hiện tượng sạt lở, xói mòn
trên toàn tuyến sông Tiền, sông Hậu một cách chính xác, khoa học và kịp thời là rất cần
thiết. Những luận cứ khoa học được đưa ra sẽ là tiền đề cho việc đánh giá và dự đoán
xu hướng biến đổi đường bờ trong thời gian tiếp theo, hỗ trợ cho các cấp lãnh đạo từ
trung ương đến địa phương đưa ra những quyết sách đúng đắn phòng tránh các hậu quả
xấu do hiện tượng sạt lở đường bờ gây nên.
Với những luận đi
ểm nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn mở ra
một ứng dụng kỹ thuật khai thác thông tin từ ảnh vệ tinh độ phân giải cao đa thời gian
kết hợp GIS để phân tích, đánh giá và xây dựng một quy trình giám sát hiện tượng sạt
lở xói mòn đường bờ sông dọc tuyến sông Tiền, sông Hậu nói riêng, hướng tới áp dụng
cho Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
Đề tài được Bộ Tài nguyên & Môi trường giao cho Trung tâm Viễn thám Quốc
gia chủ
trì có tên:” Nghiên cứu ứng dụng ảnh viễn thám độ phân giải cao các thời kỳ
để đánh giá biến động đường bờ sông Tiền, sông Hậu tại 2 tỉnh An Giang, Đồng
Tháp”.
“ THUYẾT MINH ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ “ có tên nêu ở trên có các
nội dung và nhiệm vụ sau :
Mã số đề tài:
Thời gian thực hiện: 5/2009 đến 11/2010
Cấp quản lý: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Kinh phí: 663.36 triệu đồng từ nguồn ngân sách SNKH
Đề tài

quan trắc thuỷ văn để đánh giá tổng quan biến động đường bờ và dự báo xu
hướng biến động đường bờ trong thời gian tiếp theo.
- Đề xuất những giải pháp, quy trình quan trắc hàng năm biến động đường bờ
sông tại khu vực có khả năng có nhữ
ng biến động lớn dựa trên tư liệu ảnh vệ
tinh độ phân giải cao cho thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu:
- Đường bờ sông Tiền, sông Hậu khu vực đầu nguồn tại Việt Nam, tại tỉnh An
Giang, Đồng Tháp.
Phạm vi nghiên cứu :
Qua tìm hiểu và nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học, các báo cáo biễn
biến xói lở bồi đắp sông Tiền, sông Hậu trong hàng chục năm qua, khu vực diễn biến
xói b
ồi mạnh nhất tập trung trên địa bàn tỉnh An Giang, Đồng Tháp. Do đó phạm vi
nghiên cứu của đề tài là:
- Sông Tiền, từ biên giới đến khu vực Cao Lãnh- Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp có độ
dài khoảng 110km.
- Sông Hậu, từ biên giới đến khu vực T.p Long Xuyên, tỉnh An Giang có độ dài
khoảng 95km.

Nội dung nghiên cứu:
+ Thu thập tư liệu, tài liệu.
- Tìm hiểu, thu thập các đề tài, báo cáo trong và ngoài nước về lĩnh vực liên quan
đến đề tài nghiên c
ứu.
- Tiến hành thu thập các tài liệu ảnh vệ tinh độ phân giải cao, ảnh hàng không các
thời kỳ phủ trùm khu vực nghiên cứu. Ảnh Spot 4 chụp năm 1995, Spot 5 các năm
2003, 2009-2010.
- Tiến hành thu thập các loại bản đồ đã có từ trước đến nay trên khu vực nghiên

giải 2.5m – thời điểm năm 2003 và 2010 tại các khu vực trọng điểm trên toàn
tuyến nghiên cứu.
+ Xây dựng bản đồ
biến động đường bờ.
- Chuẩn hoá dữ liệu hiện trạng đường bờ các thời kỳ.
- Sử dụng phần mềm GIS phân tích diễn biến đường bờ qua các giai đoạn, phát
hiện sự biến động thông qua xử lý các lớp thông tin trạng thái.
- Thành lập bản đồ biến động, xử lý đưa ra số liệu biến động.
+ Xử lý số liệu quan trắ
c địa hình, thuỷ văn để đánh giá và dự báo xu hướng
biến động đường bờ.
- Sử dụng các số liệu thủy văn nhiều thời kỳ, tính toán, phân tích những ảnh hưởng
tác động của dòng chảy đối với đường bờ sông.
- Sử dụng các số liệu đo đạc địa hình mặt cắt sông nhiều thời kỳ để phân tích đánh
giá diễn biế
n lòng sông tại khu vực có nhiều biến động và dự báo xu hướng biến
đổi đường bờ trong tương lai.
- Kết hợp số liệu tính toán và bản đồ biến động để thành lập bản đồ dự báo biến 16
động đường bờ sông trong thời gian tiếp theo.
+ Xây dựng quy trình quan trắc biến động đường bờ bằng ảnh vệ tinh.
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đạt được, đề xuất những biện pháp, quy trình
ứng dụng ảnh vệ tinh độ phân giải cao giám sát biến động bờ sông cho thời gian
tới.
+ Báo cáo tổng kết đề tài.

Cách tiếp cận:
- Mục tiêu của đề tài là sử dụng ảnh vệ tinh độ phân giải cao đa thời gian để xây

diễn biến tiếp theo của xu hướng biến động là rất cần thiết do vậy các số liệu quan trắc
thuỷ văn, địa hình đáy sông thu thập được cần phải đảm bảo độ tin cậy cao. 17
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu, đánh giá kết quả của các đề tài, chương trình thành lập bản đồ hiện
trạng đường bờ sông đã được thực hiện trước đây trong khu vực;
Thu thập nghiên cứu đánh giá kết quả của các đề tài trong và ngoài nước thực hiện
về lĩnh vực đánh giá biến động đường bờ biển, bờ sông. Tổng hợp và kế
thừa kết quả
nghiên cứu từ các công trình đã có.
Nghiên cứu lý thuyết ứng dụng ảnh viễn thám đa thời gian để xác định biến động
địa hình, địa vật.
Nghiên cứu các phần mềm và phương pháp phân tích thông tin không gian dùng
trong công nghệ GIS để xác định các giá trị biến.
Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp xử lý ảnh vệ tinh độ chính xác cao kết hợp
các tài liệu bản đồ thu thập được củ
a các thời điểm trước để xác định đường bờ sông
các thời kỳ tương ứng.
Tổ chức các nhóm công tác kết hợp với cán bộ chức năng của địa phương để khảo
sát điều tra hiện trạng sạt lở, xói mòn tại các khu vực trọng điểm.
Ứng dụng các phương pháp thành lập bản đồ chuyên đề để xây dựng cơ sở dữ
liệu
biến động đường bờ.
Nghiên cứu những ảnh hưởng của dòng chảy tác động tới sự biến động của đường
bờ sông.

Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm tạo ra

STT Tên sản phẩm Yêu c
ầu khoa học
1 2 3
- Bình đồ ảnh vệ tinh và bản đồ hiện trạng đường
bờ các thời kỳ tương ứng.
Sản phẩm có độ chính xác cao,
phản ánh đúng hiện trạng đường
bờ các thời kỳ.
- Bản đồ biến động và dự báo biến động đường
bờ.

Đầy đủ, chính xác, ứng dụng
được trong thực tiễn.
- Quy trình quan trắc đường bờ sông bằng ảnh
viễn thám.
Ứng dụng vào thực tiễn.
- Báo cáo tổng kết đề tài

Được hội đồng khoa học nghiệm
thu
Tại các Quốc gia công nghiệp phát triển việc xây dựng các kế
hoạch hành động
nhằm cải thiện quá trình sạt lở đường bờ trên một đoạn sông cho một khu vực nhất định
đã được thực hiện từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20. Cho đến nay, hệ thống phương
pháp luận, cách tiếp cận trong hoạch định kế hoạch hành động ngày càng được hoàn
thiện nhờ tiến bộ lớn trong khoa học, kỹ thuật và công nghệ
thông tin. Với phương
pháp tiếp cận công nghệ Viễn thám và GIS đã cho phép rút ngắn thời gian trong việc
đánh giá biến động đường bờ.
Mới đây, công nghệ GIS và Viễn thám đã giúp người Mỹ chủ động phòng chống và
đối phó khá hiệu quả với việc sạt lở đường bờ. Nhờ các công nghệ này, tất cả chúng ta
đều có thể gần như giám sát được quá trình diễn biến.
Nhiều nước trong khu vực Đ
ông Nam Á cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về sự biến
động đường bờ như Thái Lan. Malaysia, Singapore, Indonesia…[14][15][16][17]
Thái Lan cũng là một trong những quốc gia phải chịu thiệt hại rất nhiều do sạt lở
đường bờ gây ra, và cũng đã sử dụng công nghệ này để xây dựng hệ thống cảnh báo
sớm. Các kỹ thuật đã được ứng dụng để dự báo tình trạng sạt lở tại các đị
a phương và
lưu lượng dòng chảy trong sông. Dự báo này có thể được sử dụng để xây dựng chiến
lược điều hành giảm sạt lở về phía hạ lưu.
Theo nội dung của đề tài, tác giả của đề tài và các cộng sự đã đến thăm và học hỏi
kinh nghiệm, tham dự hội thảo về ứng dụng công nghệ viễn thám tại :
Cơ quan Phát
triển Công nghệ Vũ trụ và Địa-Tin học GISTDA của Thái Lan. Một trong các nghiên 20
cứu của Thái Lan đã nêu ra :” Đồng bằng sông Chao Phraya mở rộng về phía vịnh
ThaiLan với tốc độ trung bình là 1.5 km2/ năm, trong vòng 2000 năm qua. Nhưng

khu vực đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ cho việc cải tạo và khai thác các tuyến
đường giao thông thủy.
Theo hướng này, trong các năm 2000-2002, Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL đã
khảo sát và nghiên cứu tình trạng xói lở, bồi lắng bờ sông Hậu tại Cần Thơ. Cụ thể, đã
xác định được cấu trúc dòng chảy trên toàn mặt cắt ướt ngang sông và giúp xác định
các khuynh hướng phát triển tổ
ng thể hình thái mặt cắt (ngang, đứng), cũng như xác
định các đoạn xung yếu bị tác động tập trung của dòng chảy, các đặc trưng dòng chảy
áp mái tại các điểm xung yếu để đánh giá sức kháng xói của vật liệu mái bờ (kết hợp
với kết quả phân tích thành phần vật liệu, cấu trúc, đặc tính cơ lý ) và nguy cơ biến
dạng mái bờ. 21
Chương trình Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã
sớm sử dụng ảnh viễn thám vào công tác điều tra cơ bản. Khai thác các ảnh vệ tinh
LANDSAT, SOYOUZ và SPOT vào các thời điểm khác nhau, kết hợp với bản đồ và
ảnh hàng không tỉ lệ lớn, vào giữa thập niên 1980, Chương trình đã khảo sát diễn biến
của đường bờ sông Tiền tại thị
xã Sa Đéc, nơi có xói lở khá mạnh, vùng các cửa sông
Tiền và sông Hậu, vùng bị xói lở ở cửa Bồ Đề, vùng bãi bồi ở Mũi Cà Mau trong một
trăm năm, từ năm 1885 đến 1985, nhằm chỉ ra những vùng địa mạo không ổn định và
mức độ không ổn định.
Từ năm 1965 đến 1996 trường Đại học thủy lợi đã tiến hành giải đoán thông tin
nhằm đánh giá hiệ
n trạng đoạn hạ lưu sông Thu Bồn thông qua phần mềm xử lý ảnh và
hệ thống thông tin địa lý. Dựa trên kết quả này, có thể đưa ra một số định hướng nhằm
hạn chế xói lở và biến đổi lòng sông.
Trong báo cáo nghiên cứu tình trạng biến đổi dòng sông Cửu Long, các tác giả
Phạm Bách Việt & Lâm Đạo Nguyên đã sử dụng tư liệu ảnh viễn thám Mos-1b,

22
đường bờ sông còn hạn chế. Việc giám sát và dự đoán xu hướng biến đổi đường bờ
sông chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến việc phòng tránh thiên tai từ hiện tượng
sạt lở, xói mòn không mang lại hiệu quả cao.
I.2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên
I.2.1. Điều kiện khí hậu
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, ấm áp quanh
năm, lượng mưa khá lớn. Trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ Tháng Năm
đến Tháng Mười Một, thịnh hành gió mùa Tây Nam, có nhiều mưa ẩm ướt. Mùa khô từ
Tháng Muời Hai đến cuối Tháng Tư, thịnh hành gió mùa Đông Bắc, ít mưa khô hạn
.
I.2.1.1. Nhiệt độ không khí
Có nền nhiệt độ cao và tương đối đồng đều. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,4
– 27,3
o
C. Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất 3 –
4
o
C. Dao động nhiệt độ ban ngày và ban đêm 7 – 8
o
C.
I.2.1.2. Nắng và bức xạ
Bức xạ mặt trời rất dồi dào và tương đối ổn định, số giờ nắng trung bình trong
ngày cao: 7,2 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ ổn định lớn: bình quân khoảng 150,8
Kcal/cm
2
/năm.
I.2.1.3. Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trung bình năm biến đổi theo mùa và theo vùng khoảng 85%
trong mùa mưa và khoảng 70-80% trong mùa khô.

sông bện tết, phân đôi. Lòng dẫn của sông cắt qua các trầm tích bờ rời, với 2 tậ
p trầm
tích: tập trên là sét bột hoặc bột sét pha cát, dày 18-21m; tập dưới là cát dày 18-25m.
Tập cát là tầng chứa nước tương đối, có áp và có quan hệ thủy lực với nước sông. Khi
chế độ dòng chảy sông thay đổi, tầng nước ngầm trong cát cũng sẽ thay đổi, các hạt cát
bị xáo động, được sắp xếp lại. Biến đổi này có thể phát sinh hiện tượng cát chảy dẫn
đến sạt lở bờ. Khi bị tác động tr
ực tiếp của dòng chảy với lưu tốc lớn (0.5-3m/s), do
vận tốc cho phép xói thấp, các tập cát này bị rửa xói nhanh hơn các tập sét ở phía trên,
tạo nên các hàm ếch ngầm, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở bờ, tai biến địa chất. Tập sét bột hoặc
bột sét pha cát cũng có tính ổn định cơ học thấp: dễ bị mất liên kết trong môi trường
nước do tính tan rã cao và dễ nhạy cảm vớ
i các tác động bên ngoài vì có tính xúc biến.
Với đặc điểm như vậy, lòng dẫn dễ bị thay đổi, biến hình khi có tác dụng của dòng
chảy. [8]
Vùng An Giang-Đồng Tháp là vùng đồng bằng bị chia cắt dọc ngang bởi nhiều con
kênh và các con sông. Sự dịch chuyển uốn khúc là đặc trưng địa mạo động lực của
đồng bằng này. Các dấu vết uốn khúc cho thấy bán kính khúc uốn của sông Tiền và
sông Hậu khá lớn, tại Sa Đ
éc là 2,5 km, Hồng Ngự là 5 km, Khánh An là 3 km, Long
Xuyên là 2,5 km. Địa hình bằng phẳng của đồng bằng và vật liệu cấu tạo bờ chủ yếu
với các tầng đất yếu, là tiền đề cho các đai uốn khúc mở rộng.
Khu vực nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu có địa hình lòng máng dốc từ hai
phía sông vào giữa. Khu vực ở hữu ngạn sông Hậu ở các huyện An Phú, Châu Phú,
Châu Thành, thị xã Châu Đốc, thành phố Long Xuyên có địa hình hơi nghiêng, thấ
p
dần về phía Tây – Tây Nam .
Do chịu tác động trực tiếp của dòng chảy lũ thượng nguồn, chế độ triều Biển Đông,
cùng chế độ mưa vùng đồng bằng làm cho sông Tiền – sông Hậu xảy ra sự xói lở, hình
thành các bãi bồi, do vậy địa hình địa mạo khu vực diễn biến rất phức tạp.

Chế độ thủy triều biển đông ảnh hưởng và chi phối rất mạnh mẽ và rộng khắp đến
chế độ dòng chảy sông Cửu Long, đặt biệt trong mùa kiệt. Biên độ thủy triều vùng cửa
sông rất lớn (trên 3m) đã làm thay đổi mực nước trong sông, làm ứ nước sông và tạo ra
dòng chảy ngược. Thời gian triều rút ngắn hơn triều dâng khoảng 2 lần ( cách cửa sông
khoảng 140-150km). Vào tháng kiệt nhấ
t (tháng 4) sóng triều có khả năng truyền lên
thượng lưu và làm dao động mực nước ở khoảng cách 380-410km làm dòng chảy
ngược lên tới phạm vi cách biển 260-280km ( tại Ba Nam). Khi lưu lượng thượng
nguồn tăng lên, ảnh hưởng của thủy triều giảm đi. Trong tháng lũ lớn nhất ( tháng 10),
song triều vẫn truyền lên thượng nguồn tại nơi cách xa biển 140-150km và dòng chảy
ngược vẫn xảy ra ở cách biển 80-100km. Biên độ triề
u vẫn đạt tới 0.2m ở cách biển
200km, 0.5m ở cách biển 150km, và 1m ở cách biển 100km.[7]
Sông Tiền và sông Hậu chảy ra Biển Đông nên chịu ảnh hưởng của chế độ bán-
nhật-triều của Biển Đông (trong 24 giờ ngày – đêm có 2 lần mực nước lên và 2 lần mực
nước xuống). Trong một ngày có 2 đỉnh (1 thấp, 1 cao) và 2 chân triều (cũng 1 thấp, 1
cao).
Mực nước đỉnh triều lớn nhất trung bình tại Tân Châu kho
ảng 1.70 m; tại Châu Đốc
(cách biển 190 km) khoảng 1.50 m.
Mực nước chân triều thấp nhất trung bình tại Tân Châu là – 0.35 m; tại Châu Đốc là
– 0.55 m; tại Mỹ Thuận là –1.37 m.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status