MụC LụC
Trang
I Khoa học và chức năng xã hội của khoa học
02
1. Khái niệm khoa học 02
2. Đặc điểm của khoa học 02
3. Lịch sử hình thành và phát triển khoa học 05
4. Những chức năng xã hội của khoa học hiện đại 09
II Cách mạng khoa học công nghệ và những hậu quả xã hội của
nó
13
1. Bản chất cuộc cách mạng khoa học công nghệ 13
2. Những hậu quả xã hội của cách mạng khoa học và công nghệ 16
Danh mục các tài liệu tham khảo
18
1
KHOA HọC Và VAI TRò CủA Nó TRONG Sự nghiệp
PHáT TRIểN Xã HộI
I KHOA HọC Và CHứC NĂNG Xã HộI CủA KHOA HọC
1 . Khái niệm khoa học
Sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ cong ngời.
Khoa học giữ một vai trò đặc biệt trong hoạt động con ngời và vai trò ấy ngày càng
tăng lên trong đời sống xã hội. Trong thời đại ngày nay, mọi bớc tiến quan trọng trong
lịch sử đều xuất phát từ tri thức khoa học và vai trò khoa học trở lên to lớn đến nỗi có
thể gọi thời đại ngày nay là thời đại khoa học và công nghệ.
Khoa học là một hiện tợng đặc biệt của đời sống xã hội, là một lĩnh vực hoạt
động của con ngời, bao gồm nhiều mặt khác nhau. Điểm xuất phát để xem xét khoa
học la coi nó trớc hết nh một hệ thống tri thức.
Khoa học là hệ thống tri thức đợc khái quát từ thực tiễn và đợc kiểm nghiệm bởi
thực tiễn phản ánh dới dạng logic trìu tợng những thuộc tính, kết cấu, những mối lien
hệ bản chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và bản than con ngời.
qua quan hệ đánh giá con ngời. Khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu hiện thực, kể cả
hiện thực t tởng, nh những khách thể tồn tại độc lập với chủ thể. Dĩ nhiên các yếu tố cá
nhân và những định hớng giá trị của nhà khoa học có vai trò quan trọng trong sang tạo
khoa học, song kết quả nghiên cứu lại không phụ thuộc vào ý muốn của ngời nghiên
cứu.
Tri thức khoa học phải có tính hệ thống và có tính căn cứ. Đây alf đặc trơng
quan trọng phân biệt khoa học với những sản phẩm của hoạt động nhận thức thông th-
ờng. Khoa học là một hệ thống chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật có lien hệ
nội tại với nhau mang tính chân thực. Tính chân thực này đợc chứng minh không chỉ
bằng việc áp dụng vào thực tiễn mà khoa học còn tạo ra những phơng thức chứng minh
riêng của mình.
Để mô tả và nghiên cứu khách thể của mình, khoa học không thể chỉ sử dụng
ngôn ngữ thờng ngày mà còn phải sử dụng ngôn ngữ nhân tạo, chuyên môn hóa. Ngôn
ngữ của khoa học là công cụ cần thiết của t duy khoa học; nó không ngừng đợc phát
triển tùy theo sự đi sâu của khoa học vào lĩnh vực mới của thế giới khách quan. Ngôn
ngữ khoa học không chỉ bổ sung mà còn làm cho ngôn ngữ thông thờng ngày càng
phát triển.
Cùng với ngôn ngữ chuyên môn hóa, khoa học còn cần một hệ thống các công
cụ chuyên môn và các bộ máy nghiên cứu khoa học chuyên môn.
3
Đơng nhiên, hoạt động khoa học đòi hỏi các nàh khoa học, bên cạnh việc nắm
vững các phơng tiện và phơng pháp nghiên cứu, có định hớng giá trị đúng đắn, còn cần
có những phẩm chất đạo đức chung và những phẩm chất cá nhân phùc hợp với hoạt
động đặc thù của mỗi lĩnh vực nhận thức khoa học. Một trong những phơng thức cơ
bản của hoạt động khoa học là hớng vào tìm kiếm chân lý khách quan nh là giá trị cao
nhất của khoa học. Phơng hớng này đợc thể hiện trong một loạt các lý tởng và chuẩn
mực của nhận thức khao học. Một phơng hớng khác có vai trò không kém phần quan
trọng trong nghiên cứu khoa học và sự tăng cờng thờng xuyên của tri thức là thu nhận
tri thức mới. Phơng hớng này đợc thể hiện cả trong hệ thống những yêu cầu chuẩn mực
đối với sự sáng tạo khoa học.
hóa phục hng. Đây là thời kỳ chế độ chuyên chế phong kiến suy tàn, tan rã, là thời kỳ
các cuộc cách mạng t sản nổ ra ở tây Âu để đánh đổ chế độ phong kiến, xác lập chế độ
t bản chủ nghĩa tiến bộ hơn.
Việc phá vỡ các quan hệ phong kiến gắn với sự chuyên chính tinh thần của giáo
hội, sự phát triển những quan hệ t bản chủ nghĩa đã thúc đẩy khoa học phát triển mạnh
mẽ. Do đó , trong thời kỳ này, theo sự đánh giá của Ph. Ănghen, các ngành khoa học
đột nhiên sống lại với một sức mạnh không ngờ và phát triển nhanh chóng một cách kỳ
diệu có thể nói là tỉ lệ bình phơng của khoảng cách (tính theo thời gian) kể từ khởi
điểm . Khoa học lúc này đã thể hiện nh một lực lợng cách mạng và bản thân nó cũng
có tính cách mạng. Khoa học phát triển theo hớng chống lại các tín hiệu tôn giáo và
quan hệ phong kiến; đề cao lý trí, sự tự do của con ngời, khả năng nhận thức và cải tạo
thế giới bởi con ngời. Khoa học thông qua cuộc đấu tranh chống phong kiến, thần học
và chủ nghĩa kinh viện đã giành quyền sống của mình và phát triển qua cuộc đấu tranh
đó. Thời kỳ này đợc mở đầu bởi Côpécních, Galile, Kêpơle, đợc Bêcơn, Đêcáctơ tiếp
tục và Hêghen, Niutơn kết thúc.
5
Để chống lại chủ nghĩa kinh viện, khoa học thời kỳ này đã đi sâu vào thực
nghiệm và phân tích để nghiên cứu từng sự vật, từng bộ phận của hiện thực. Khoa học
thực nghiệm bắt đầu hình thành một cách phổ biến mà Galilê đợc coi là ông tổ của
khao học thực nghiệm. Phơng pháp quy nạp của Bêcơn và phơng pháp diễn dịch của
Đêcáctơ đã đợc sử dụng rộng rãi, bổ sung cho nhau. Các nhà khoa học có xu hớng đề
cao thực nghiệm và trí tuệ duy lý, gạt bỏ dần Chúa trời và thứ giáo điều ra khỏi khoa
học, hoài nghi tất cả những gì cha có cơ sở thực nghiệm và duy lý chắc chắn.
ở thời kỳ này chỉ có cơ học côe điển là môn học đợc coi là đã hòan chỉnh, phát
triển nhất, còn các ngành khoa học khác nh vật lý học, hóa học, địa chất học , còn ở
trình độ thấp, thậm chí phôi phai. Nói chung khoa học chủ yếu còn dừng lại ở trình độ
su tập và mô tả.
Tơng ứng với trình độ trên đay của khoa học thì quan điểm thống trị trong triết
học và khoa học tự nhiên thì bấy giờ là quan điểm siêu hình, mà điểm trung tâm là cái
quan niệm về tính chất tuyệt đối không thay đổi của giới tự nhiên, phủ nhận mọi sự
điểm triết học đúng đắn. ở thời kỳ này, sự phát triển của khoa học cụ thể đã tạo ra điều
kiện, tiền đề cho sự ra đời của một hệ thống triết học mới làm cơ sở thế giới quan ph-
ơng pháp luận khoa học cho sự khái quát lý luận. Đó là triết học duy vật biện chứng do
C.mác và Ph.Ăngghen sáng lập vào giữa thế kỷ XIX.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất, gắn liền với nó là cuộc cách
mạng công nghiệp, đã đa nền sản xuất t bản chủ nghĩa từ công trờng thủ công nên đại
công nghiệp cơ khí. Sauk hi máy hơi nớc ra đời (năm 1784) thì hàng loạt các máy móc
khác cũng xuất hiện nh máy dệt vải (1785), máy ca (1807), máy tiện (1862), máy điện
tự động (1879), nàh máy điện (1884).
Mối liên hệ giữa khoa học và sản xuất nagỳ càng chặt chẽ thì khoc học ngày
càng phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng tác động đến sản xuất, làm cho sản xuất t bản
chủ nghĩa phát triển với tốc độ ngày càng mạnh mẽ.
Cuộc cách mạng kỹ thuật lúc này đã dẫn đến những biến đổi sauu xa về kinh tế
xã hội: phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa hòan toàn đánh bại phơng thức sản xuất
phong kiến, kết cấu xã hội xũng thay đổi theo; đấu tranh xã hội diễn ra chủ yếu giữa
giai cấp t sản và vô sản. Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ cả cách mạng kỹ thuật mà giai
cấp t sản trong vòng cha đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lợng sản xuất dồ sộ bằng tất
cả các thế hệ trớc kia cộng lại.
Đến giữa thế kyr XIX, chủ nghĩa Mác ra đời đánh dấu bớc ngoặt cách mạng
trong khoa học xã hội, đặt cơ sở khoa học cho các học thuyết xã hội, biến chủ nghĩa xã
hội từ không tởng thành khoa học.
d) Khoa học trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại ở thế kỷ
XX
7
Trong thế kỷ XX, nhất là trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật hiện
đại, khoa học phát triển cực kỳ mạnh mẽ và nhanh chóng; vai trò của khoa học đối với
đời sống xã hội cũng nh mối quan hệ giữa khoa học và thực tiễn, sản xuất biến đổi to
lớn; khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi quá trình của đời sống xã hội.
Đặc điểm cơ bản nhất, nổi bật nhất của sự phát triển khoa học trong điều kiện
cách mạng khoa học kỹ thuật là khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
của phòng trào cách mạng vô sản trên toàn thế giới.
4. Những chức năng xã hội của khoa học hiện đại.
Các chức năng xã hội của khoa học không phải không thay đổi mà trái lại chúng
cũng biến đổi và phát triển theo lịch sử cũng nh bản thân khoa học. Hơn nữa, sự phát
triển các chức năng xã hội là mặt quan trọng của sự phát triển bản thân khoa học.
Khoa học hiện đại về nhiều mặt đã khác xa với khoa học tồn tại cách đây một
thế kỷ hoặc thậm chí nửa thế kỷ về trớc. Tất cả diện mạo của khoa học cũng nh tính
chất mối liên hệ lan nhau của nó với xã hội đã biến đổi. Có thể chia ra thành ba chức
năng xã hội của khoa học hiện đại nh sau:
- Chức năng văn hóa - thế giới quan:
Trong thời kỳ Phục hng và cận đại, tức thời kỳ khủng hoảng của chủ nghĩa
phong kiến và hình thành chủ nghĩa t bản, ảnh hởng của khoa học đợc biểu hiện ra trớc
hết trong lĩnh vực thế giới quan.
Nhng với bớc ngoặt do Côpécních (1475-1543) tạo nên bằng tác phẩm đầu tiên
Về sự xoay chuyển của các thirrn cầu từ hơn 450 năm trớc đây, khao học lần đầu tiên
đã bác bỏ độc quyền của thần học trong việc quyết định sự hình thành thế giới quan.
Lịch sử khoa đã khoa học đã trải qua không ít những tấm thảm kịch nh việc
thiêu sống Brunô, đầy ải Glilê, những xung đột t tởng xung quan thuyết Đácuyn về
nguồn gốc các loài trớc khi khoa học có thể trở thành cái quyết định trong những vấn
đề có ý nghĩa thế giới quan hàng đầu liên quan đến kết cấu vật chất và cấu tạo của vũ
trụ, nguồn gốc và bẩn chất của sự sống, nguồn gốc lòai ngời. Những câu trả lời của
khao học về vấn đề mà cuộc sống đặt ra phải trở thành những yếu tố của nền giáo dục
phổ thông. Thiếu điều đó, những quan niệm khoa học không thể biến thành bộ phận
cấu thành của nền văn hóa xã hội. Trình độ phát triển khoa học nói nên trình độ văn
hóa, dân trí xã hội, do đó khoa học tồn tại với t cách là văn hóa khoa học.
- Chức năng lực lợng sản xuất trực tiếp.
Trong thời kỳ cổ đại, việc sử dung khoa học vào sản xuất còn ít ỏi, trồng trọt,
chăn nuôi và nghề thủ công chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm.
Từ thế kỷ XVII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càng quan trọng
đối với sản xuất và đời sống. Nền công nghiệp cơ khí sẽ không thể có đợc nếu không
Ăng ghen, khi xã hội có nhu cầu về kỹ thuật thì nó thúc đẩy khoa học phát triển hơn
chục trờng đại học. Chính nhu cầu của thực tiễn sản xuất, cảu xã hội là cơ sở, là động
lực phát triển của khoa học. Tuy nhiên, khoa học có tính độc lập tơng đối của nó, sự
10
tăng nên tính độc lập tơng đối và tăng nên vai trò xã hội cảu khao học là tính quy luật
quan trọng nhất trong sự phát triển khoa học.
Khoa học mặc dù phụ thuộc vào thực tiễn, song nó có logic bên trong của nó, có
những nguồn gốc, những động lực, mâu thuẫn riêng cảu mình. Khoa học phát triển
theo hớng khái quát, trìu tợng hóa ngày càng cao và từ đấy tạo ra đợc một sự vận động
tơng đối độc lập của t duy lý luận so với các sự kiện kinh nghiệm trực tiếp. Khoa học
ngày càng tách rời sản xuất, ít lệ thuộc một cách trực tiếp vào sản xuất nh trớc đây,
thậm trí còn vợt trớc sản xuất, cách mạng hóa thực tiễn. Dự báo khoa học để chỉ đạo
thực tiễn là chức năng nhận thức quan trọng vốn có của khoa học.
Ngày nay trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, khoa học không
hcit tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình
phát triển xã hội. Khoa học đã trở thành một thiết chế xã hội, một sức mạnh, một lực l-
ợng xã hội, không thể hiểu đợc gơng mặ của xã hội hiện đại nếu thiếu khoa học, và xã
hội hiện đại không thể phát triển đợc nếu không có khoa học. Khoa học, kể cả khoa
học tự nhiên và khoa học xã hộ đang đợc sử dụng để khởi thỏa các chơgn tình phát
triển kinh tế xã hội. Khoa học đã làm tăng sức mạnh của con ngời trong việc cải tạo
hiện thực. Khoa học Mác - Lênin trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng của giai cấp
công nhân và của nhân loại tiến bộ. Khoa học tác động tổng hợp đến đời sống xã hội,
hớng vào chiều sauu cảu sự phát triển kinh tế - kỹ thuật và quản lý xã hội.
Sự tăng nên vai trò của khoa học trong đời sống xã hội còn thể hiện ở sự tăng
nhanh số lợng các nhà khoa học, sự tănh nhanh chi phí nghiên cứu khoa học, sự phát
triển hệ thống các cơ quan khoa học. Cùng với điều đó thì vai trò của giới trí thức khoa
học trong xã hội cũng tănh nên mạnh mẽ, đặc biệt trogn điều kiện của kinh tế tri thức
ngày nay.
11
II CáCH MạNG KHOA HọC CÔNG NGHệ Và NHữNG HậU QUả Xã
Ngoài ra, khoa học còn trở thành một ngành hoạt động của sản xuất vật chất với
quy mô ngày càng lớn, bao hàm hàng loạt những viện, trờng, phòng, trạm trại và cả
12
nhiều xí nghiệp nữa. Đội ngũ những ngời làm khoa học tăng nên nhanh chóng và
không ngừng. Ngân sách đầu t cho khoa học mỗi ngày chiếm tỉ lệ càng cao và hiệu quả
đầu t ngày càng to lớn. Có thể coi khoa học nh một ngành kinh tế quốc dân đạc biệt -
ngành sản xuất ra tri thức mới.
Một thời gian dài trớc đây, sự phát triển khoa học và kỹ thuật chậm chạp và hầu
nh là độc lập với nhau. Khi đó cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật tách rời
nhau, khoa học thờng đi sâu hoặc cùng lắm đứng ngang so với kỹ thuật. Chỉ đến ngày
nay, cách mạng khoa học và các mạng công nghệ mới hòa vào nhau thành một quá
trình thống nhất, trong đó khoa học đi trớc mở đờng cho kỹ thuật công nghệ và sản
xuất phát triển, không ngừng rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi kịp áp dụng
vào sản xuất. Cách mạng khoa học và công nghệ ngày nay bao gồm cả khoa học kỹ
thuật, công nghệ cũng nh hệ thống tổ chức lao động và quản lý sản xuất.
Cách mạng khoa học và công nghệ làm thay đổi tận gốc các yếu tố của lực lợng
sản xuất. Nó tạo điều kiện tìm ra và sử dụng những nguồn năng lợng mới, chế tạo ra
hoàng loạt các vật liệu nhân tạo có những thuộc tính hòan toàn mới, thực hiện tự động
hóa từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất, đổi mới nhanh chóng công nghệ, tự
động hóa cả các quy trình quản lý. Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là sự tải
tổ căn bản trong sự phát triển của lực lợng sản xuất mà những nét chủ yếu của nó là
biến khoa học thành lực lợng chủ đạo của sản xuất, áp dụng quản lý tự động hóa, sử
dụng các phơng pháp côn nghệ của sản xuất và những hình thức tổ chức sản xuất.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại không chỉ can thiệp mạnh mẽ đến kỹ
thuật, đến những quá trình công nghệ sản xuất, mà cìnlàm biến đổi con ngời và đặt ra
những yêu cầu mới cho con ngời với t cách là lực lợng sản xuất hàng đầu. Chức năng
của cong ngời trong sản xuất đang có những biến đổi to lớn; con ngời dần dần không
cong là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu sáng tạo và điểu
khiển quá trình đó. Cách mạng khoa học và công nghệ thúc đẩy việc phát triển nhân tố
con ngời, thay đổi tâm lý, phong cách, t duy đạo đức, lối sống và quan hệ giao tiếp của
nhau. Tùy thuộc vào chế độ xã hội mà vai trò, tính chất path triển của khao học cũng
nh của cách mạng khoa học - kỹ thuật cùng những hậu quả xã hội do chúng đem lại
cũng sẽ rất khác nhau. Sự phát triển của khoa học, của cách mạng khoa học-kỹ thuật
không phải độc lập với xã hội, đứng ngoìa xã hội, vô can đối với sự phát triển của xã
hội mà nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào các điều
kiện kinh tế, chính trị, xã hội.
Chủ nghĩa tbản dựa trên cơ sở chiếm hữa t nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất để áp
bức và bóc lột quần chúng lao động.
Coi khoc học là phơng tiện để tăng lợi nhuận chio nàh t bản, là phơng tiện duy
trì vàbỏa vệ chủ nghĩa t bản, để củng cố sự thống trị của mình nên giai cấp t sản đã
khuyế khích sự phát triển của khoa học, đẩy nhanh cuộc cách mạng khoa học công
nghệ vào kinh tế và quân sự, quan tâm đầu t lớn cho khoa học.
Cách mạng khoa học và côn nghệ gây tác động hai mặt đến chủ nghĩa t bản.
Một mặt nó làm xoa dịu, hòa hoãn một số mâu thuẫn nội tại của quá trình tái sản xuất
TBCN, mắt khác nó không không chỉ làm gay gắt thê, khoét sâu những mâu thuẫn vốn
có củ CNTB mà còn xuất hiện những mâu thuẫm mới
Cách mạng khoa học và công nghệ đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa nh kinh tế,
nhng cũng làm cho sự cạnh tranh giữa các trung tâm t bản quốc tế, giữa các công ty t
bản độc quyền xuyên quốc gia trở nên gay gắt. Khoảng cách giữa các nớc t bản phát
triển và các nớc đang phát triển ngày càng xa.
Hậu quả xã hội của cáchmạng khoa học và côn nghệ trong điều kiện chủ nghĩa
TB đợc phản ánh trong một số lý thuyết khác nhau ở phơng tây hiện đại.
Trong điều kiện CNXH, tiến bộ khoa học và công nghệ hớng về cong ngời, bởi
vì mục đích cao nhất của CNXH là giải phóng con ngời, phat striển con ngời toàn diện.
Khoa học công nghệ đợc sử dụng vì tiến bộ xã hội, vì sự nghiệp nâng cao không ngừng
đờ sống vật chất, tinh thần và quyền làm chủ của nhân dân.
Chủ nghĩa xã hội xét về bản chất có sự thống nhất nội tại với tiến bộ khoa học
và công nghệ; và hơn nữa, nó không thể phát triển, hoàn thiện nếu thiết việc ứng dụng
khoa học công nghệ. Dĩ nhiên, đây không phải là một sự thống nhất tự động. Nó đòi
hỏi phải thờng hoàn thiện các quan hệ xax hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở