LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Kinh tế
Quốc Dân.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy cô trường Đại học Kinh tế
Quốc Dân, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo và hướng dẫn cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Đức Bình đã dành rất
nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận
văn tốt nghiệp.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học
Kinh tế Quốc Dân cùng Q uý thầy cô trong Khoa Thương mại và Kinh tế Quốc
tế đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban cán sự lớp Đối ngoại 18, bạn bè và
gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt khóa học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất
mong nhận được những đóng góp quý báu của Quý thầy cô và các bạn.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển,
nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của:
Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Đức Bình
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các kết luận đưa ra
ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất kỳ một
công trình nào. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
.
MỤC LỤC
2
bẢNG CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 4
05 APTA Asean Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
06 BT Building Transfer Xây dựng - chuyển giao
07 BOT Building Operate Transfer
Xây dựng – kinh doanh –
chuyển giao
08 CNC Công nghệ cao
09 CNH Công nghiệp hóa
10 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
11 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
12 GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
13 HĐH Hiện đại hóa
14 IFC International Finance Corporation Công ty tài chính quốc tế
15 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
16 KCN Khu công nghiệp
17 KTQT Kinh tế quốc tế
18 MIDA
Malaysian Industrial Development
Authority
Cục phát triển công nghiệp
Malaysia
19 MIGA
Multilateral Investment Guarantee
Agency
Cơ quan bảo hiểm đầu tư đa
phương
20 ODA Official Development Asistance Viện trợ phát triển chính thức
21 PSDC Penang Skill Development Center
Trung tâm phát triển kỹ năng
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT FDI CỦA 60
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ ÁP DỤNG KINH NGHIỆM 60
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN 60
3.1.1. Cơ hội 61
DANH MỤC BIỂU
Biểu 1.1 Dòng FDI vào Malaysia và Thái Lan giai đoạn 2000 - 2010 Error:
Reference source not found
Biểu 2.1 FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 Error: Reference source not
found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế, thì vấn đề quan trọng nhất là phải cần có vốn.Vốn có hai loại chủ yếu
là vốn trong nước và vốn nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, thì vấn đề
thu hút vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là yếu tố vô cùng quan trọng
và được nhiều nước quan tâm, trong đó có nước ta.
Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong thời
gian qua đã đóng một vai trò lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội, góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao
trình độ khoa học, công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý, khai thác có hiệu quả
nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của Việt Nam. Mặc dù đã đạt được những
kết quả nhất định, nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam vẫn chưa tận dụng tối ưu các cơ
hội thu hút FDI và chưa tối đa được những lợi ích mà nhà đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể mang lại. Cơ sở dẫn đến các nhận xét trên là diễn biến bất thường về
dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp,
tập trung FDI chỉ trong một số ngành, vùng, khả năng tuyển dụng lao động còn
khiêm tốn… Phần lớn các dự án FDI có quy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có
nguồn gốc từ Châu Á, đạt mức trung bình, đặc biệt là Việt Nam chưa được chọn là
Một số Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Nguyễn Tiến Cơi (2001), Vấn đề thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoaì của Malaysia trong thời kỳ công nghiệp hóa hướng xuất
khẩu (1971 – 2000) thực trạng và những bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng
vào Việt Nam; Nguyễn Tiến Cơi (2008), Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Malaysia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - thực trạng, kinh
nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam.
Ngoài ra còn có một số bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan
đến thu hút FDI vào một số nước ASEAN.
2
3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cơ sở lý luận
cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.
- Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số nước
ASEAN, từ đó đi sâu phân tích các chính cách thu hút FDI, nghiên cứu các thành
tựu thực tế của các chính sách này cũng như những ảnh hưởng của nó đối với nền
kinh tế của các nước này.
- Đánh giá thành tựu cũng như khó khăn, tồn tại để rút ra bài học kinh nghiệm
về chiến lược và chính sách thu hút FDI có thể áp dụng vào Việt Nam .
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Những kinh nghiệm về thu hút FDI của
một số nước ASEAN.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: đề tài nghiên cứu kinh nghiệm thu hút FDI
của Thái Lan và Malaysia từ năm 2005 đến nay, về giác độ nghiên cứu: từ phía nhà
nước Thái Lan và Malaysia.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống: so sánh, tổng
hợp và phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với vận dụng lý luận để làm sáng
tỏ những vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận văn
Với những nội dung chính vừa nêu luận văn sẽ cố gắng góp phần giải quyết
vốn đầu tư trong nước và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ. Ngoài ra, FDI còn đóng góp
đáng kể vào nguồn thu ngân sách của Chính phủ các nước nhận đầu tư thông qua
thuế …Đây là nguồn vốn quan trọng để đầu tư cho các dự án phát triển của nước
chủ nhà.
- Chuyển giao công nghệ
Khi đầu tư vào một nước nào đó, chủ đầu tư không chỉ chuyển vào nước đó
vốn bằng tiền mà còn chuyển vốn bằng hiện vật như máy móc, thiết bị ….và vốn vô
hình, chuyên gia kỹ thuật, bí kíp công nghệ, quản lý. Trong thời gian qua, thông qua
tiếp nhận FDI, một số nước ASEAN đã tiếp nhận được với công nghệ hiện đại, sau
đó cải tiến và phát triển phù hợp thành công nghệ nước mình, từ đó nâng cao trình
độ công nghệ trong khu vực.
- Học tập kinh nghiệm và tiếp cận thị trường mới
Việc tiếp nhận FDI ở các nước ASEAN trong thời gian qua đã giúp các nước
này được đào tạo kiến thức kinh doanh, quản lý, tay nghề và tiếp cận thị trường thế
giới. Thông thường ở các nước nhận đầu tư, trình độ quản lý của các cán bộ quản
5
lý, trình độ tay nghề và nhận thức của công nhân còn yếu kém nên khi đầu tư, để
tiếp cận công nghệ mới, các chủ đầu tư nước ngoài thường tổ chức các lớp đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ công nhân để thực hiện dự án. Bằng con đường
này, kiến thức của các cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân được tăng lên.
Hơn nữa, FDI giúp các nước nhận đầu tư tiếp cận và xâm nhập vào thị trường thế
giới thông qua liên doanh và mạng lưới thị trường rộng lớn của hệ thống các công
ty xuyên quốc gia.
- FDI là công cụ để kích thích cạnh tranh
Chính phủ các nước chủ nhà thường muốn sử dụng FDI như một công cụ kích
thích và liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước. Các công ty nước ngoài
như là một đối tượng để cho các doanh nghiệp trong nước tăng tính cạnh tranh của
mình, thay đổi tác phong kinh doanh cũ. Mặt khác các doanh nghiệp nội địa cũng
mở rộng được quy mô sản xuất và lĩnh vực kinh doanh nhờ cung cấp các yếu tố đầu
vào và tiêu thụ đầu ra cho các công ty nước ngoài.
độ quản lý yếu hoặc chính sách của nước đó có nhiều kẽ hở khiến các nhà đầu tư có
thể lợi dụng được.
- Tiếp nhận công nghệ và kỹ thuật lạc hậu từ nhà đầu tư nước ngoài:
Điều này được giải thích như sau: (1) Dưới tác động của khoa học kỹ thuật,
cho nên máy móc, công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu, vì vậy các nhà đầu tư
nước ngoài thường chuyển giao các công nghệ đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư
để đổi mới công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm ở chính quốc; (2)
Vào giai đoạn đầu của sự phát triển, hầu hết các nước đều sử dụng công nghệ sử
dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, sau quá trình phát triển, giá lao động tăng lên làm
cho giá thành sản phẩm cao, vì vậy họ muốn thay thế công nghệ này bằng công
nghệ có hàm lượng kỹ thuật cao để hạ giá thành sản phẩm.
7
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu đã gây ra nhiều thiệt hai cho nước nhận
đầu tư: (1) Khó tính được giá trị thực của những máy móc, thiết bị nhận chuyển
giao, do vậy, nước nhận đầu tư thường bị thiệt trong việc tính giá tỷ lệ góp vốn của
các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc phân chia tỷ lệ lợi
nhuận; (2) Gây tổn hại đến môi trường; (3) Chất lượng sản phẩm thấp và chi phí sản
xuất cao và do đó sản phẩm của nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị
trường quốc tế.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần tùy thuộc vào chính sách công nghệ,
pháp luật về đầu tư, bảo vệ môi trường,…và khả năng tiếp nhận công nghệ của
nước nhận đầu tư.
- Những tác động tiêu cực khác:
Mục đích của nhà đầu tư là kiếm được lợi nhuận tối đa nên họ chỉ đầu tư vào
những địa bàn có cơ sở hạ tầng tương đối tốt, những lĩnh vực nhanh chóng thu hồi
vốn và có lợi. Vì vậy, đôi khi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại góp phần tăng
thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn. FDI cũng có thể có
ảnh hưởng xấu về xã hội: gây phân hóa giàu nghèo, thay đổi lối sống tiêu cực, xâm
hại đến các giá trị văn hóa – xã hội truyền thống cùng với sự gia tăng của các tệ nạn
xã hội: mại dâm, nghiện hút…
Các nước khác 6.899 13,5 15.734 22,0
Tổng cộng 51.101 100 71.516 100
Nguồn: Ban thư ký ASEAN – Cơ sở dữ liệu FDI ASEAN 20/07/2011
9
Bảng 1.1 mô tả tình hình FDI vào Malaysia và Thái Lan phân theo một số
nguồn đầu tư chính. Có sự khác biệt về nguồn vốn đầu tư giữa Thái Lan và
Malaysia phản ánh sự khác nhau trong cơ cấu kinh tế và quan hệ lịch sử của hai
nước với các nước đầu tư. Malaysia là nước thu hút FDI lớn từ Nhật Bản và Châu
Âu do nước này có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực có chất lượng cao và
chính sách tương đối cởi mở, tự do. Trong khi đó nguồn FDI chiếm tỷ trọng lớn ở
Thái Lan là từ Mỹ do vị trí địa lý, chính trị quan trọng của Thái Lan đối với Mỹ.
Hai nước đều thu hút FDI khá lớn từ các nước ASEAN (chiếm trên 20%) là do từ
cuối những năm 1980, các nước thành viên mới của ASEAN bắt đầu tham gia vào
cuộc cạnh tranh thu hút FDI, hoạt động thu hút FDI trở nên sôi động hơn. Một số
nước ASEAN đã bắt đầu xuất khẩu vốn ra nước ngoài mà chủ yếu là vào các nước
còn lại của ASEAN.
- Theo ngành kinh tế:
Theo bảng 1.2 ta thấy, Malaysia và Thái Lan có cơ cấu đầu tư khá giống nhau.
Tại hai nước này, ngành công nghiệp chế biến chiếm khoảng 40% tổng lượng vốn
FDI mà họ tiếp nhận. Sự phân bố FDI của hai nước này bị chi phối bởi chính sách
kinh tế của họ.
Bảng 1.2: FDI vào Malaysia và Thái Lan phân theo ngành kinh tế (2000 - 2010)
Malaysia Thái Lan
Nông, lâm, ngư nghiệp 1.997 70
Khai khoáng 6.825 3.253
Công nghiệp chế biến 20.956 35.726
Xây dựng 172 124
Thương mại 4.140 5.490
Tài chính 13.077 8.016
Bất động sản 626 3.903
vốn tại không phải xin phép Ủy ban đầu tư nước ngoài từ dưới 5 triệu RM lên dưới
10 triệu RM; Công ty và cá nhân bán bất động sản có giá trị dưới 20 triệu RM
không phải xin phép mà chỉ cần thông báo cho Ủy ban đầu tư nước ngoài để lưu hồ
sơ; Các công ty thành lập tại bất cứ quốc gia nào thuộc thành viên ASEAN nhưng
hoạt động tại Malaysia đều được sở hữu văn phòng có thể trị giá trên 25.000 RM
(trước đây quy định chỉ được mua bất động sản xây mới).
11
Cùng với việc mở rộng tự do hóa đầu tư đối với người nước ngoài, Malaysia
đã tiến hành sửa đổi một số bộ luật liên quan đến hoạt động FDI theo xu hướng áp
dụng bình đẳng, thống nhất đối với mọi Nhà đầu tư (trong nước và nước ngoài). Ví
dụ, quy định về tịch thu tài sản để thế nợ trong sửa đổi luật tịch thu tài sản đã tạo
dựng một môi trường chắc chắn đối với quyền sở hữu của các Nhà đầu tư; Sửa đổi
luật phá sản nhằm đảm bảo luật hóa việc an toàn đối với người cho vay.
- Định hướng thu hút FDI
Malaysia xác định tám ngành công nghiệp then chốt, đóng vai trò trụ cột giúp
cho việc tăng trưởng và tạo giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế là: điện và điện tử,
dệt và sản phẩm thêu ren, hóa chất, các ngành thực phẩm và công nghiệp dựa trên
cơ sở nông nghiệp, giao thông, nguyên liệu và cơ khí. Đây cũng là những ngành ảnh
hưởng nặng nề trong khủng hoảng, cần phải có sự hỗ trợ nhiều mặt để khắc phục và
thúc đẩy phát triển trong đó có yếu tố quan trọng là vốn và công nghệ. Đáp ứng yêu
cầu này phải tính tới nguồn lực FDI và Malaysia còn đặt mục tiêu dài hạn hơn là
phải thu hút các dự án FDI có tính chiến lược vào các ngành kinh tế này. Malaysia
cho rằng dự án chiến lược là dự án mà sản phẩm hay hoạt động của nó có tầm quan
trọng quốc gia, có tác động lớn tới toàn bộ nền kinh tế, có vốn đầu tư lớn, sử dụng
công nghệ cao, đồng bộ và có vai trò kéo các ngành khác phát triển.
Thực hiện chủ trương này, Malaysia có nhiều chính sách khuyến khích ưu đãi,
tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với việc đưa ra
danh mục các ngành được khuyến khích ưu đãi FDI hàng năm, Malaysia còn chú
trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp then chốt theo hướng xây dựng nền
kinh tế tri thức. Với đặc điểm, các ngành công nghiệp then chốt chủ yếu tập trung ở
vươn lên cạnh tranh với Singapo trở thành một trung tâm vận tải biển lớn trong
khu vực, Malaysia cũng tập trung xây dựng tập đoàn vận chuyển bằng Container
có tầm cỡ hàng đầu thế giới.
Kinh phí dành cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng không ngừng tăng lên. Hiện
nay, Malaysia đang khởi động hàng loạt dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong xây
dựng cơ sở hạ tầng, ngoài nguồn vốn đầu tư từ ngân sách và huy động từ các nguồn
13
vốn khác trong nước, Malaysia còn khuyến khích thu hút nguồn vốn FDI đầu tư vào
lĩnh vực này.
Malaysia là một trong những nước đã đi đầu trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng
viễn thông hiện đại bậc nhất thế giới. Malaysia đã tập trung phát triển nhanh chóng
hệ thống viễn thông, đảm bảo cung cấp các dịch vụ phong phú với các mạng hiện
đại, kỹ thuật số an toàn, các dải băng tần không dây cung cấp dữ liệu tốc độ cao và
dung lượng lớn.
Malaysia tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch xây dựng “Siêu hành
lang đa phương tiện – SMC” với dự kiến chi khoảng 30 tỷ USD nhằm đưa Malaysia
trở thành trung tâm năng động và hấp dẫn vào loại bậc nhất trong khu vực Châu Á
về công nghệ thông tin và viễn thông – ICT, đồng thời đưa Malaysia chuyển sang
nền kinh tế tri thức chủ yếu dựa vào công nghệ điện tử và thông tin vào năm 2020.
Chính phủ Malaysia vừa công bố dự án lớn với tên gọi là Hành lang kinh tế
miền Bắc hướng tới tầm nhìn 2020. Dự án với số vốn đầu tư ban đầu 177 tỷ ringhit
(51,2 tỷ USD) nhằm mục đích trong vòng 18 năm biến một vùng đất thuần nông
thành một hành lang kinh tế với các lĩnh vực sinh học, chế biến thực phẩm và du
lịch. Dự án Hành lang kinh tế miền Bắc là biến bốn bang nằm giáp Thái-lan gồm
Penang, Perak, Pelit và Keda thành một khu vực kinh tế đa năng. Bốn bang này có
số dân khoảng 4,3 triệu người, chủ yếu là người Mã-lai có thu nhập bình quân 717
USD/hộ gia đình, được coi là thấp nhất trong sáu khu vực của cả nước. Hiện nay,
vốn đầu tư cho khu vực chế tạo được huy động vào khu vực này chỉ chiếm 20%
tổng vốn đầu tư của cả quốc gia.
Với những chính sách nỗ lực phát triển cơ sở hạ tầng, kể cả hạ tầng mềm đã tạo
lực; hỗ trợ đào tạo nâng cao nguồn nhân lực.
Để đào tạo đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, quản lý kinh tế, chuyên gia kỹ
thuật trình độ cao, bên cạnh các trường đại học công lập, Malaysia còn cho phép
thành lập các trường đại học tư nhân. Hầu hết các trường đại học trong nước có liên
kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài, đặc biệt là với Hoa Kỳ, Australia,
Anh. Malaysia còn có chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí cho sinh viên du học
15
nước ngoài. Mỗi năm, Malaysia có vài chục ngàn sinh viên tốt nghiệp đại học từ các
trường của Mỹ, Anh, Úc, New Zealand…
- Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư
Malaysia rất nỗ lực quảng bá hình ảnh đất nước và những lợi thế so sánh mới
về môi trường đầu tư để tăng cường thu hút FDI.
Thời gian này, nắm bắt được xu thế của các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm
thị trường kinh doanh các dịch vụ công nghệ cao và mang tính toàn cầu, Malaysia
đã khai thác thời cơ đó để phát huy lợi thế cạnh tranh của mình do có được môi
trường tiếng Anh khá phổ biến và hệ thống dịch vụ có khả năng cung cấp nhanh với
giá hợp lý. Malaysia chủ trương xúc tiến giới thiệu và thu hút các TNCs ở nước
ngoài chuyển dịch sản xuất hoặc mở rộng tới Malaysia, đặc biệt là thu hút FDI vào
các lĩnh vực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
Để thực hiện những mục tiêu trên, Malaysia đã xây dựng những chương trình
chiến lược và kế hoạch xúc tiến đầu tư với nhiều hình thức phong phú, thiết thực và
có hiệu quả. Malaysia xây dựng các dự án cụ thể thuộc các ngành, lĩnh vực, khu vực
kinh tế, đưa ra các phương án lựa chọn và tiếp cận đối tác có tiềm lực, đủ khả năng
đáp ứng mục tiêu thu hút FDI của Malaysia tốt nhất, từ đó có kế hoạch vận động,
lôi kéo đầu tư vào Malaysia dưới nhiều hình thức: Cử các phái đoàn tiếp xúc trực
tiếp với các công ty được lựa chọn hoặc mời lãnh đạo các công ty này tới Malaysia
để tìm hiểu tình hình thực tế; áp dụng chương trình khuyến khích trọn gói đối với
các công ty nước ngoài được lựa chọn trong từng lĩnh vực; tăng cường các phái
đoàn tới các nước đối tác có tiềm lực để quảng bá và kêu gọi đầu tư; phối hợp với
các phòng thương mại và công nghiệp các nước, các ngân hàng và công ty tư vấn
thức” áp dụng trước đó. Đây là hình thức đổi mới phù hợp với những đòi hỏi trong
điều kiện hội nhập KTQT. Nhiều kế hoạch cải cách được tiến hành trong năm 2004,
trong đó đặc biệt xóa bỏ tệ quan liêu hành chính, nâng cao tính minh bạch trong
hoạt động điều hành, quản lý của Chính phủ; thực hiện đơn giản hóa thủ tục cho các
nhà đầu tư nước ngoài trong việc mua bán đất.
Phòng Nhãn hiệu thương mại Malaysia đã thực hiện một số sửa đổi trong
17
Quy chế nhãn hiệu thương mại năm 1997 và có hiệu lực kể từ ngày 15/02/2011
thông qua quy chế nhãn hiệu thương mại Malaysia sửa đổi năm 2011. Việc sửa
đổi đánh dấu một quá trình kiểm tra nhanh hơn với sự ra đời của một quá trình
kiểm tra giải quyết nhanh để giảm thời gian chờ nhãn hiệu hàng hóa
Các chính sách, biện pháp mà Malaysia áp dụng trong thời gian qua đã đem lại
nhiều tác động tích cực trong thu hút FDI nhằm phát triển kinh tế đất nước, song
bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế cần xem xét như sau:
+ Những mặt tích cực trong chính sách thu hút FDI:
* Chính sách điều chỉnh về thu hút FDI diễn ra khá đồng bộ và kịp thời đã
đem lại tác động tích cực giúp dòng FDI vào Malaysia liên tục tăng lên không
ngừng từ 2005 đến 2007 và phục hồi đáng kể sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Với những chính sách thu hút FDI phù hợp như trên, dòng FDI vào Malaysia
liên tục tăng lên từ năm 2005 và đạt đỉnh vào năm 2007 (đạt 8,538 triệu USD gấp 3
lần năm 2002). Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
nên dòng FDI vào Malaysia đã tương đối và năm 2009 đánh dấu sự sụt giảm
nghiêm trọng của dòng FDI (FDI chỉ còn 1, 381 triệu USD). Tuy nhiên với những
nỗ lực của Malaysia trong việc điều chỉnh chính sách thu hút FDI, dòng FDI vào
nước này năm 2010 đã nhảy vọt, vượt cả mức trước khủng hoảng năm 2007, đạt
9,156 tỷ USD xếp thứ 3 trong các nước ASEAN, đứng sau Singapore (35,5 tỷ USD)
và Indonesia (13,3 tỷ USD).
Không chỉ thu hút được nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển, giúp cho
việc tăng trưởng kinh tế, thông qua thu hút FDI thời kỳ này, Malaysia đã tiếp nhận
có hiệu quả công nghệ tiến tiến từ nước ngoài, góp phần rút ngắn khoảng cách so