1
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
ĐÔ THỊ HÓA
I-KHÁI NIỆM:
- Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị,
tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô
thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân
hay diện tích của một vùng hay khu vực.
Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng
của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu
tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là
mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ
hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.
- Đô thị hóa là quá trình phát triển
rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua
các mặt dân số, mật độ dân số, chất
lượng cuộc sống,
- Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đô thị
hóa cao hơn nhiều (trên 80%) so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay
3
lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị. Những
người chống đối xu thế đô thị hóa cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao
thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã
hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô
thị.
Đô thị hóa có ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đô thị hóa cũng tác động mạnh lên sự phát triển kinh tế xã hội của vùng và
cả nước.
Đô thị là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động.
Các thành phố thị xã là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là
nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kỹ thuật hạ tầng cơ sở
hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.
II-TÌNH HÌNH ĐÔ THỊ
HÓA Ở VIỆT NAM:
Bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội
nhập kinh tế quốc tế và trước
các tác động của tiến trình
toàn cầu hóa, tốc độ đô thị
hoá đang diễn ra khá nhanh,
làm biến đổi bộ mặt kinh tế -
xã hội của đất nước. Trong
tiến trình đó, văn hóa đô thị
4
Việt Nam đang có những thay đổi theo hướng hiện đại.
1. Đô thị hóa - kết quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
thêm gánh nặng cho khu vực đô thị. Hiện nay, dân cư nông thôn đang tự di cư vào
thành thị để kiếm sống mà nhà nước chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn.
Thành phố Hồ Chí Minh có trên 2 triệu người nhập cư; ở Hà Nội, trong những năm
gần đây, trung bình mỗi năm có khoảng 60.000 người nhập cư vào Thành phố. Sự
5
xâm nhập của các giá trị văn hóa nông thôn vào đô thị đã và đang tạo ra sự pha
trộn phức tạp về văn hóa đô thị.
Hai là, tình trạng sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị thiếu
kế hoạch có thể dẫn đến nguy cơ về an ninh lương thực quốc gia. Dự báo đến năm
2020, diện tích đô thị vào khoảng 460.000 ha, chiếm 1,4 % diện tích đất tự nhiên
cả nước. Mục tiêu đảm bảo 40 triệu tấn lương thực cho 100 triệu dân khó có thể
đạt được.
Ba là, sự chênh lệch về văn
hóa và mức sống giữa các tầng
lớp cư dân đô thị ngày càng
lớn, dẫn đến sự mất cân bằng
trong sinh thái đô thị, nhất là
giữa dân số và việc làm, giữa
dân số và thu nhập, giữa dân
số và kết cấu hạ tầng… Cơ chế
thị trường đã làm cho dân cư
đô thị nước ta bị phân hóa sâu
sắc, một bộ phận dân cư giàu
lên nhanh chóng bên cạnh tầng
lớp nghèo, lang thang cơ nhỡ, sống tạm bợ trong các khu nhà ổ chuột, thiếu các
điều kiện tối thiểu, không có cơ hội được hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã
hội. Một kết quả nghiên cứu vấn đề nghèo đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy: mức sống của người nghèo thấp hơn người giàu 7 lần. Do thu nhập thấp, các
hộ nghèo phải dành 80% thu nhập chi cho bữa ăn hằng ngày (nhưng vẫn không
Năm là, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang thúc đẩy nhanh tình trạng
ô nhiễm môi trường, nhất là ở các thành phố lớn và các khu công nghiệp, khu chế
xuất. Các đô thị hàng ngày thải ra khoảng 900 tấn rác, riêng rác thải y tế chiếm 250
tấn. Việc thu gom mới đạt khoảng 60% và hình thức xử lý chủ yếu là chôn cất nên
gây ô nhiễm trầm trọng nguồn nước, mặt đất và không khí. Ở Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh, mức độ ô nhiễm môi trường đã vượt ngưỡng cho phép nhiều
lần. Còn có khá nhiều nhà máy, xí nghiệp, làng nghề gây ô nhiễm nằm ở trung tâm
thành phố, thị xã và xen kẽ giữa các khu đô thị.
Sáu là, tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, trật
tự đô thị chưa được đảm bảo. Theo thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật, tỷ
lệ tội phạm xảy ra ở khu vực thành thị trung bình hàng năm ở vào khoảng 70-75%
so với cả nước, riêng 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố
Hồ Chí Minh) chiếm 45-50%. Trật tự và văn minh đô thị chưa được lập lại, tình
trạng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, vệ sinh công cộng còn rất phổ biến. Và cuối
cùng là, nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa, không gian văn hóa đô
thị bị phá vỡ. Tất cả các vấn đề trên đang tác động làm biến đổi văn hóa đô thị.
Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do công tác quản lý nhà nước về đô thị và
quản lý nhà nước về văn hóa của ta còn yếu kém, bất cập.
3. Một số đặc điểm của văn hóa đô thị ở nước ta:
Khác với văn hóa nông thôn, đặc trưng của văn hóa đô thị là sự tập trung dân cư
phi nông nghiệp, hình thành những quần thể kiến trúc theo kiểu bàn cờ.
Ở thành thị, quan hệ cư trú - ứng xử kết cấu giản đơn hơn ở nông thôn: gia đình
- đường phố - xã hội (thông thường ở nông thôn Việt Nam, quan hệ cư trú - ứng xử
kết cấu theo kiểu: gia đình - họ tộc - láng giềng - làng xóm - xã hội). Điều đó có
nghĩa là: người thành thị khi bước chân ra khỏi nhà đã hoà mình với xã hội rồi.
Ở nông thôn, mỗi gia đình có thể tự túc được lương thực, thực phẩm, còn ở
thành phố, con người phải phụ thuộc vào dịch vụ… Nhu cầu tiêu dùng của người
đô thị thường cao hơn, đa dạng hơn và hướng tới sự khá giả. Vì vậy, dịch vụ công
không thể thiếu đối với cư dân đô thị. Đây có thể được xem như là một nét văn hóa
đô thị.
người dân đô thị đã cơ bản khắc phục được tác phong sản xuất nhỏ, trì trệ, luộm
thuộm; hình thành tác phong công nghiệp hiện đại; xây dựng được ý thức chấp
hành pháp luật, ý thức công dân và ý thức cá nhân. Xã hội công dân đang manh
nha hình thành ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, sự tác động của cách thức sản xuất
kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm
nảy sinh nhiều vấn đề về văn hóa không phù hợp với văn hóa dân tộc như sự thẩm
lậu và lưu hành các loại hình văn hóa “trái luồng”, độc hại (sách báo, băng đĩa, sự
phát triển thái quá ngoài tầm kiểm soát của các loại hình dịch vụ văn hóa nhạy cảm
như karaoke, vũ trường, enternet, báo chí, xuất bản…). Tình trạng văn hóa đọc,
viết đang bị mai một là một ví dụ tiêu biểu về phong cách sống của cư dân đô thị
hiện đại. Có rất nhiều người không bao giờ đọc các tác phẩm văn học, tiểu thuyết
văn chương, kể cả những tác phẩm được coi là di sản văn hóa nhân loại. Vô tuyến
truyền hình, trò chơi điện tử, máy tính, truyện tranh vẫn sẽ là sự lựa chọn của học
sinh, sinh viên và thanh thiếu niên, và điều đó là rất nguy hiểm.
- Đối với cư dân đô thị, kinh tế thị trường thậm chí đã làm thay đổi thế giới
quan, nhân sinh quan, tình cảm và tâm lý của họ. Về mặt tích cực, kinh tế thị
9
trường làm thay đổi thái độ đối với lao động của người thành thị: tất cả phải vươn
ra thị trường, tất cả phải kiếm được việc làm, phải có thu nhập, không trông chờ, ỷ
lại vào sự bao cấp của nhà nước và sự bố thí của xã hội. Thái độ đối với gia đình,
bạn bè, xã hội cũng có sự thay đổi theo hướng hiện đại, đó là sự thông cảm, sẻ chia
và tôn trọng tự do cá nhân (sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật). Người
dân thành thị ngày nay đã vượt qua được tính ích kỷ, tự ti của người nông dân và
tiểu thương, vượt qua được các ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến. Nhân cách văn
hóa người dân đô thị trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế đã và sẽ tiếp tục được hình thành theo hướng tích cực nhiều hơn, có
nhiều đặc trưng khác với nhân cách văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Sự
khác biệt lớn nhất sẽ là sự hình thành nhân cách công dân với đặc trưng là khẳng
định cái “tôi”, cái cá nhân nhiều hơn và ít bị chi phối bởi cộng đồng. Về mặt tiêu
xã hội, gia tăng dân số, trật tự giao thông…
2. Nguyên nhân:
Thực trạng đó bắt nguồn từ các nguyên nhân sau đây:
+ Chưa có bề dày kinh nghiệm thực tiễn quản lý đô thị.
+ Nhiều công ty và địa phương không có chiến lược phát triển nguồn nhân
lực và có rất ít cơ chế ưu đãi, khuyến khích cán bộ giỏi. Yếu từ khâu cán bộ dẫn tới
yếu các kỹ năng về quản lý đô thị.
+ Hệ thống pháp luật chưa đủ để vận hành nền kinh tế thị trường nên nảy
sinh nhiều tiêu cực, luật pháp về đô thị chưa đủ, chưa đồng bộ, pháp chế chưa
nghiêm.
+ Cơ sở hạ tầng của đô thị lạc hậu, không đồng bộ, xuống cấp nghiêm trọng
làm phát sinh những hậu quả xấu.
+ Công tác tổ chức và QLĐT chưa khoa học, chưa đáp ứng được yêu cầu.
+ Công tác quy hoạch đô thị tiến hành chậm, chưa đồng bộ.
+ Chưa phân biệt được QLĐT và quản lý nông thôn (điều này thể hiện trong
công tác tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, trình độ cán bộ…).
11
Đô thị và nông thôn là hai loại đơn vị hành chính có nhiều đặc điểm rất khác
nhau ai cũng biết vì rất dễ nhận thấy. Vì thế nếu thiết kế một bộ máy quản lý hành
chính nhà nước cho đô thị và nông thôn giống nhau là một việc vô cùng phi lý.
Phải xuất phát từ đối tượng quản lý mà thiết kế bộ máy quản lý cho phù hợp thì
mới hợp logic.
+ Phẩm chất năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế.
+ Các luồng di dân từ nông thôn vào các thành phố lớn ngày càng tăng nên
bộ máy chính quyền đô thị cần phân quyền và chủ động hơn trong công tác quản
lý.
+ Hiện cơ sở hạ tầng trong nước đang quá tải trước tốc độ phát triển nhanh
chóng của dân số đô thị, đáp ứng không kịp những nhu cầu cơ bản của cuộc sống
người dân đô thị.
họ. Vì thế hàng ngày chúng ta có thể chứng kiến hàng loạt hình ảnh mất mỹ quan
đô thị như xả rác ra đường, khạc nhổ nơi công cộng, vi phạm luật lệ giao thông
Tất cả những vấn đề này đã tạo không ít khó khăn trong quá trình quản lý đô thị.
Tuy vậy phần đông cư dân TP Hồ Chí Minh cũng có những đặc điểm tâm lý rất tốt
như năng động sáng tạo trong công việc, sống tình nghĩa Nhà quản lý đô thị phải
kích hoạt điểm tích cực đó. 13
GIẢI PHÁP CHO ĐÔ THỊ HÓA VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
- Giống như mọi quốc gia đang phát triển khác, các đô thị lớn tại Việt Nam như
Hà Nội và TP.HCM luôn phải đứng trước những sức ép lớn về sự gia tăng dân số
cơ học do chúng luôn đóng vai trò là những “lực hút” về kinh tế của quốc gia, bất
chấp mọi rào cản về hành chính để siết chặt việc nhập cư vào các đô thị lớn, các
luồng di dân từ nông thôn vào các TP vẫn ngày càng tăng.
- Trong bối cảnh ấy, để có thể quản lý tốt đô thị như TP.HCM, trước hết phải
xem chuyện nhập cư từ nơi khác đến là bình thường vì không có cách nào và cũng
không có quyền để ngăn cấm. Hơn nữa, nếu thiếu vắng người nhập cư thì sự vận
hành của TP sẽ bị trục trặc ngay bởi nhiều hoạt động tại TP.HCM hiện nay, người
nhập cư đang là những “vai diễn chính” (công nhân tại các khu công nghiệp, hệ
thống thu gom rác dân lập…).
Trước thực trạng như vậy, công tác QLĐT đòi hỏi phải có những nét đặc thù
riêng:
Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển đô thị
đến 2020 và các năm tiếp theo phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, phát triển bền vững, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển đô thị
thù của đô thị để từ đó có những chính sách và những hành động quản lý phù hợp
và hữu hiệu. Nếu không ta sẽ đứng trên tầm nhìn của tiểu nông thay cho tầm nhìn
của thị dân để thực hiện QLĐT.
Thay đổi cách tuyển dụng nhân sự.
Một yếu tố quan trọng khác là TP phải thay đổi tư duy về nhân lực của bộ máy
hành chính, bởi nếu được phân quyền mà nhân lực kém thì cũng không mang lại
hiệu quả như mong đợi. Để quản lý và điều khiển tốt sự vận hành của đô thị thì các
nhân viên trong bộ máy công quyền phải có những phẩm chất chuyên môn vượt
trội so với ở nông thôn, vì họ phải đối diện với những vấn đề phức tạp hơn nhiều.
TP phải thay đổi tư duy về tuyển dụng nhân sự trong bộ máy hành chính theo
hướng nhân sự phải được tuyển dụng theo phẩm chất chuyên môn; sự thăng tiến
của cá nhân phải dựa trên thành tích chứ không do “quy hoạch” hay lý lịch gia
đình.
Thứ năm, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng- văn hóa, kiên quyết phản
bác các luận điệu sai trái phản cách mạng
thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” của
các thế lực thù địch.
Thứ sáu, cần từng bước cung cấp tới
các khu đô thị những cơ sở hạ tầng hiện đại
15
và một môi trường lành mạnh, quan tâm đến yếu tố môi trường và sử dụng hiệu
quả các tài nguyên thiên nhiên, quản lý nước thải và chất rắn.Tạo ra một môi
trường sống xanh, sạch, đẹp và an ninh- trật tự. Thứ bảy, để công tác quản lý đô
thị ngày được nâng cao hiệu quả, xây
dựng một đô thị văn minh hiện đại
cũng như mang đậm tính nhân văn thì
18