0
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
0o0 Công trình tham dự cuộc thi:
“Sinh viên nghiên cứu khoa học trường ĐHNT 2014” Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁ GIÁ NỘI TỆ NĂM 2011 ĐẾN
NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN VÀ VIỆT NAM. BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2011-2015. Nhóm ngành: KD1 Hà Nội, tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
2.2. Bài học từ lần phá giá Việt Nam đồng năm 2011 69
3. Các điều kiện để Việt Nam có thế phá giá thành công giai đoạn 2011-2015. 71
3.1. Các điu kiện tối thiểu 71
3.2. Các điu kiện cụ thể đối với Việt Nam 73
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Tên bảng biểu
Nội dung
Trang
1
Hình I.1
Quá trình CCTM thay đổi theo hiệu ứng tuyến J
25
2
Bảng II.1
Giá tr kim ngạch xuất nhp khẩu của Nht Bản và tỷ
giá bình quân yên Nht/USD
36
3
Hình II.1
Cán cân thương mại của Nht Bản giai đoạn 2010-
2013
37
4
Tăng trưởng GDP của các khu vực kinh tế giai đoạn
2000- 2010
48
12
Hình II.8
GDP bình quân đầu người giai đoạn 2000 – 2010
49
13
Hình II.9
Kim ngạch xuất nhp khẩu giai đoạn 2000 – 2010
50
14
Hình II.10
Cán cân thương mại, cán cân vãng lai, cán cân thanh
toán giai đoạn 2000 – 2010
51
15
Hình II.11
Diễn biến tỉ giá USD/VND tháng 11/2009 – 12/2010
52
16
Bảng II.4
Giá tr kim ngạch xuất nhp khẩu của Việt Nam và tỷ
giá bình quân VND/USD
52
17
Hình II.12
Cán cân thương mại của Việt Nam năm 2010
53
18
Ngân hàng Trung ương Nht Bản
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTW
Ngân hàng Trung ương
CCTM
Cán cân thương mại
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
JPY
Yên Nht
USD
Đô la Mỹ
VND
Việt Nam đồng
NDT
Nhân dân tệ
VAR
Vector Autoregression
(Tự hồi quy Véc tơ)
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỷ giá hối đoái và cơ chế điu hành chính sách tỷ giá từ trước đến nay luôn là vấn đ hết
sức nhạy cảm và có ý ngha vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Bởi vì, tỷ giá hối
đoái, với tư cách là thước đo tương quan kinh tế giữa một quốc gia với phần còn lại của
thế giới, là một trong những công cụ cơ bản giúp Nhà nước điu hành và quản lý v mô
thiện CCTM, gia tăng sức cạnh tranh thương mại quốc tế. Xuất phát từ những lý do trên,
nhóm nghiên cứu xin lựa chọn đ tài “Tác động của phá giá nội tệ năm 2011 đến nền
kinh tế Nhật Bản và Việt Nam. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam giai đoạn 2011-
2015” cho bài dự thi tham gia cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học trường ĐH Ngoại
Thương năm 2014.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới đ có nhiu công trình nghiên cứu liên quan đến tác động của phá giá tin
tệ lên việc cải thiện CCTM. Tuy nhiên, theo như nghiên cứu của người viết thì các công
trình nghiên cứu này sử dụng các phương pháp và mô hình khác nhau để kiểm đnh sự
tồn tại của hiệu ứng tuyến J dựa trên mối quan hệ thương mại song phương giữa một
nước với các đối tác thương mại chính của nó.
Nghiên cứu của M.Mohsen Bahmani-Oskooee và Gour Goswami (2003) bằng phương
pháp nghiên cứu đnh lượng đ cho thấy được phá giá đồng Yên Nht Bản cải thiện
CCTM của đất nước này trong thời gian 1973-1998 đối với 9 đối tác thương mại chủ
yếu. Tác giá đ kiểm đnh sự tồn tại của hiệu ứng tuyến J bằng cách sử dụng dữ liệu song
phương hàng quý trong suốt giai đoạn từ quý 1/1973 đến quý 4/1998 giữa Nht Bản và
các đối tác này. Tác giả tìm được sự tồn tại của hiệu ứng tuyến J trong ngắn hạn trong
quan hệ trao đổi thương mại hệ song phương Nht Bản và Đức cũng như Nht Bản và
Italy.
Gupta-Kapoor và Ramakrishman (1999) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số để xem
xét tác động của hiệu ứng tuyến J ở Nht Bản. Nghiên cứu cũng đ sử dụng dữ liệu hàng
quý từ quý 1/1975 đến quý 4/1996 và chỉ ra sự tồn tại của hiệu ứng tuyến J trong CCTM
Nht Bản. Tác giả nghiên cứu dựa theo giả đnh rằng do hợp đồng kinh tế đ ký kết trước
đó, khi mới phá giá thì CCTM xấu đi như một kết quả của sự mất giá thực tế trong giá cả
3
nhp khẩu nhưng khối lượng thương mại không đổi. Trong dài hạn hiệu ứng khối lượng
Nghiên cứu thực tiễn phá giá đồng Yên và phá giá VND năm 2011, phân tích tác động
của phá giá lên CCTM mỗi nước.
Dựa trên những nghiên cứu v lý thuyết và thực tiễn đưa ra ý kiến cho quan điểm NHNN
nên phá giá VND thời điểm hiện tại, rút ra bài học từ trường hợp của Nht Bản và Việt
Nam, đưa ra những khuyến ngh để có thể giảm thiểu những hạn chế còn tồn tại trong
nn kinh tế để phá giá thành công, góp phần tăng sức cạnh tranh thương mại của Việt
Nam giai đoạn 2011-2015.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Bài nghiên cứu đ cp đến phá giá nội tệ và tác động của phá giá
nội tệ đến CCTM.
- Phạm vi nghiên cứu:
Lý thuyết v tỷ giá, phá giá tin tệ và CCTM.
Phá giá tin tệ ở Nht Bản và Việt Nam năm 2011.
Chế độ tỷ giá của Nht Bản và Việt Nam giai đoạn trước năm 2011 và từ năm
2011 đến nay; đặc điểm của CCTM hai nước và tác động của phá giá nội tệ đến CCTM.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đ tài sử dụng phương pháp phân tích đnh lượng để làm sáng tỏ mối quan hệ của xuất
khẩu ròng với các biến số kinh tế khác như GDP, lạm phát. Nguồn dữ liệu được sử dụng
là dữ liệu thứ cấp lấy từ NHNN Việt Nam, Ngân hàng Trung Ương Nht Bản (BOJ),
Tổng cục thống kê, Tổng cục Hải quan Việt Nam và IMF. Vì vy độ tin cy của nguồn
dữ liệu khá cao.
- Bên cạnh đó, người viết có sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh,
thống kê để làm rõ sự ảnh hưởng của phá giá tin tệ lên CCTM trong trường hợp của
Nht Bản và Việt Nam. Kết quả phân tích sẽ được đưa ra dựa trên nn tảng cơ sở lý lun
vững chắc từ các nguồn tài liệu, giáo trình giảng dạy trong và ngoài nước.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
ra và phân tích tình hình kinh tế trong nước trước khi thực hiện phá giá, đồng thời xác
đnh kết quả của việc phá giá thể hiện trên phương diện đồng nội tệ b phá giá làm xấu đi
6
hay cải thiện CCTM. Dựa trên cơ sở các nghiên cứu đnh lượng v tác động của phá giá
tin tệ lên CCTM, đặc biệt là điu kiện Marshall – Lerner và lý thuyết v hiệu ứng tuyến
J, nhóm nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố
đến CCTM (xuất khẩu ròng) của từng quốc gia Nht Bản và Việt Nam.
- Thứ ba, đ tài dự kiến làm rõ điu kiện Marshall - Lerner trong dài hạn được thỏa mãn
ở hai quốc gia Nht Bản và Việt Nam và CCTM (xuất khẩu ròng) được cải thiện, tuy
nhiên cần có một độ trễ nhất đnh v mặt thời gian. Độ trễ này nhanh hay chm có thể
phụ thuộc vào nhiu yếu tố đặc thù của nn kinh tế mỗi quốc gia như cơ cấu xuất nhp
khẩu, tỷ lệ hàng hóa thương mại và phi thương mại trong nn kinh tế
- Thứ tư, qua việc phân tích thực tế tiến hành phá giá nội tệ và kết quả của phá giá nội tệ
tại Nht Bản và Việt Nam vào thời điểm năm 2011, đ tài đưa ra một số bài học kinh
nghiệm và khuyến ngh dành cho Việt Nam trong việc điu hành tỷ giá cho giai đoạn
2011 – 2015. Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ chỉ ra rằng việc phá giá đồng nội tệ có thể
giúp cải thiện CCTM, đem lại những ảnh hưởng tích cực đến nn kinh tế nhưng khi cân
nhắc các điu kiện và tình hình kinh tế trong nước của Việt Nam thì phá giá nội tệ chưa
phải là thích hợp. Dựa trên cơ sở đó, đ tài đưa ra một số đ xuất cho Việt Nam trong
giai đoạn 2011 – 2015 để chuẩn b cho một cuộc phá giá thành công.
Tóm lại, đ tài nghiên cứu “Tác động của phá giá nội tệ năm 2011 đến nền kinh tế
Nhật Bản và Việt Nam. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam giai đoạn 2011-2015.”
với ba chương nội dung đưa ra kết quả v tác động của việc phá giá nội tệ đến nn kinh
tế Nht Bản và Việt Nam thông qua cách tiếp cn hệ số co gin, đồng thời đưa ra lời giải
đáp cho các câu hỏi: “Việt Nam rút ra được bài học kinh nghiệm gì từ những quyết đnh
phá giá của Nht Bản và của chính Việt Nam trong năm 2011?”, “Việt Nam có nên phá
giá trong giai đoạn 2011 – 2015” và “Để phá giá thành công trong giai đoạn 2011 -2015
thì Việt Nam cần chuẩn b những điu kiện gì?”
trên toàn thế giới.
Vào cuối thế kỷ 20, khối lượng mua bán hàng hóa, đầu tư quốc tế và chuyển tin quốc tế
tăng cao dẫn đến sự tăng lên nhanh chóng của việc sử dụng đồng tin các nước chi trả lẫn
nhau. Việc thực hiện các ngha vụ thanh toán quốc tế này đòi hỏi phải so sánh một đồng
tin nước này với đồng tin của nước khác. Khi việc trao đổi mua bán vượt ra khỏi phạm
vi một quốc gia thì các đối tác sẽ cần phải trao đổi và thỏa thun v việc lựa chọn đồng
tin của nước nào để tính giá cả hàng hóa và thanh toán hợp đồng. Việc thanh toán có thể
sử dụng đồng tin của một trong hai nước tham gia hợp đồng, nhưng cũng có thể sử dụng
đồng tin của một nước thứ ba nào đó. Điu này dẫn tới đòi hỏi phải xem xét, tính toán
một đồng nội tệ có thể đổi được bao nhiêu đồng ngoại tệ hay ngược lại, một đồng ngoại
tệ đổi được bao nhiêu ngoại tế. Nói cách khác, cần phải bằng cách nào đó chuyển đổi một
đơn v tin tệ của nước này thành đơn v tin tệ của nước khác. Muốn thực hiện điu đó,
ta cần phải dựa vào tỷ giá hối đoái.
9
Cho đến nay, có rất nhiu khái niệm v tỷ giá hối đoái đ được đưa ra. Theo Samuelson,
một nhà kinh tế học người Mỹ thì “Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một nước lấy
tiển của một nước khác”. Theo Thông tư số 179/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính Việt
Nam ban hành ngày 24/10/2012, “Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa hai đơn vị tiền tệ
(sau đây gọi tắt là tỷ giá)”. Từ một số cách đnh ngha trên, có thể hiểu “Tỷ giá hối đoái
là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng tiền tệ của một nước khác”, nói
cách khác đó là “tỷ lệ mà một đồng tiền này có thể trao đổi cho một đồng tiền khác”.
V phương pháp yết giá sử dụng để biểu hiện tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiển, có nhiu
tác giả dùng các thut ngữ khác nhau v biểu hiện tỷ giá, thm chí là trái ngược nhau
xung quanh hai khái niệm trực tiếp và gián tiếp. Để dễ hiểu, ta sẽ không đặt tên cụ thể mà
sẽ sử dụng hai cách biểu hiện tỷ giá dưới đây:
Cách 1: So sánh ngoại tệ với nội tệ: 1 ngoại tệ = X nội tệ
Cách 2: So sánh nội tệ với ngoại tệ: 1 nội tệ = X ngoại tệ
Đa số các quốc gia trên thế giới đu sử dụng cách thứ nhất để biểu hiện tỷ giá, tức là cho
thực tế là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai nước hoặc tương quan tỷ
lệ lạm phát giữa hai nước.
Tỷ giá hối đoái được sử dụng để điu hành chính sách của Chính phủ trong việc kiểm
soát tin tệ và điu hành th trường ngoại hối.
Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau:
Trong đó: NER: Tỷ giá hối đoái danh ngha
RER: Tỷ giá thực
P*: Giá cả nước ngoài
P: Giá cả nội đa
: Tỷ lệ lạm phát nước ngoài
: Tỷ lệ lạm phát trong nước
1.2.2. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng.
- Căn cứ vào phương thức giao nhận ngoại hối:
11
+ Tỷ giá giao ngay (Spot rate): Tỷ giá hình thành theo quan hệ cung cầu trực tiếp trên
Forex và luôn có sẵn (không cần tính toán), được thỏa thun ngày hôm nay và việc thanh
toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
+ Tỷ giá kì hạn (Forward rate): Tỷ giá không được hình thành theo quan hệ cung cầu
trực tiếp trên Forex mà là kết quả của việc tính toán từ các thông số trên th trường: Tỷ
giá giao ngay, mức li suất của đồng tin… Tỷ giá kì hạn được thỏa thun ngày hôm nay,
1.2.3. Các loại tỷ giá khác:
- Căn cứ vào phương tiện chuyển hối:
+ Tỷ giá chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer exchange rate – T/T rate) hay còn
gọi là Tỷ giá điện hối: Tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng kèm theo trách
nhiệm là Ngân hàng phải chuyển ngoại tệ cho người thụ hưởng bằng phương tiện chuyển
tin điện tử (Electronic Funds Transfer –EFT). Tỷ giá này có những đặc điểm:
Là tỷ giá cơ bản của một quốc gia;
Tốc độ thanh toán nhanh;
Chi phí cao.
+ Tỷ giá chuyển tiền bằng thư (Mail transfer – M/T) hay còn gọi là Tỷ giá thư hối: Tỷ giá
mà Ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng không kèm theo trách nhiệm chuyển tin
bằng phương tiện điện tử mà Ngân hàng sẽ chuyển lệnh thanh toán ra bên ngoài như thư
tín thông thường. Tỷ giá này có đặc điểm:
Không thông dụng trong thanh toán quốc tế;
Tốc độ thanh toán rất chm;
Chi phí rẻ.
- Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế:
+ Tỷ giá séc: Tỷ giá mà Ngân hàng mua bán séc ngoại tệ. Tỷ giá séc bằng tỷ giá điện hối
trừ đi số tin li phát sinh trên tỷ giá điện hối kể từ khi mua séc được trả tin.
Ví dụ: Một công ty cần mua 10,000 USD để trả cho khách hàng của mình ở Mỹ. Tỷ giá
điện hối ngân hàng bán ra là USD/VND= 21,000. Lãi suất huy động VND của ngân
hàng ViettinBank là 7%/ năm. Thời gian chuyển tiền là 30 ngày. ViettinBank phải bán
séc với giá là:
Giá séc 10,000 USD = 10,000 x 21,000 – (10,000 x 21,000x 7%/12)
13
= 208,775,000 VND
+ Tỷ giá hối phiếu Ngân hàng trả tiền ngay: Tỷ giá mà Ngân hàng bán hối phiếu ngoại tệ
trả tin ngay cho khách hàng là người thụ hưởng hối phiếu. Khách hàng sẽ ký hu
của đồng bảng Anh so với đồng đô la là một sự tăng lên trong giá tính theo đồng đô la
của đồng bảng Anh. Một tác giả khác là Frederic S.Mishkin trong cuốn “Economics of
Money Banking and Financial Markets” đưa ra đnh ngha rằng: Một sự phá giá tin tệ là
sự thiết lp lại giá tr cố đnh của một đồng tin tại một mức tỷ lệ thấp hơn”.
Phá giá tin tệ trong chế độ tỷ giá hối đoái cố đnh là việc chính thức giảm giá tr của
đồng nội tệ so với mức mà chính phủ đ cam kết duy trì. Khác với việc mất giá tin tệ
trong chế độ tỷ giá cố đnh là kết quả của những tác động nằm ngoài tầm kiểm soát của
chính phủ, phá giá tin tệ là một công cụ của chính sách tin tệ của một quốc gia theo
đuổi chế độ tỷ giá cố đnh hay thả nổi có sự can thiệp của chính phủ. Cụ thể việc phá giá
VND là giảm giá tr của nó so với các ngoại tệ khác như USD hay EUR…
Phá giá đồng tin là chính sách làm giảm sức mua của đồng tin quốc gia so với một
hoặc nhiu đồng tin nước ngoài để cân bằng lại hệ thống giá cả nội đa và giá hàng xuất
khẩu nhằm khuyến khích xuất khẩu và lp lại cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Trước
năm 1975, phá giá được nhìn nhn là hu quả của một chính sách kinh tế và tài chính sai
lầm và thường gây ra những hu quả tiêu cực cho nn kinh tế, do đó việc áp dụng là hết
sức miễn cưỡng. Ngoài ra còn có quan điểm trọng phá giá, coi rằng đây là phương thức
quan trọng nhất để thiết lp lại cân bằng kinh tế chủ yếu cho nn kinh tế quốc dân và
không phải khi nào cũng đi kèm là hu quả tiêu cực. Phá giá có thể gây khủng hoảng
kinh tế x hội nếu như không được áp dụng đúng cách, ngược lại có thể giúp khôi phục
lên kinh tế đang suy sụp. Phá giá, theo đó, nhất thiết phải đi kèm với các biện pháp kinh
tế để đảm bảo ổn đnh x hội và sắp xếp hài hòa các yếu tố của nn kinh tế. Nếu có thể
thì phá giá nên được thực hiện ngay sau khi xuất hiện các mất cân đối cơ bản, chứ không
nên đợi đến khi tình hình trở nên nguy kch, phá giá nên được coi là biện pháp quan
trọng để lp lại các cân bằng kinh tế v mô.
2.2. Phân loại phá giá tiền tệ
2.2.1. Dựa vào các hình thức chính phủ thực hiện phá giá
a. Phá giá công khai
Phá giá công khai là loại phá giá phổ biến nhất, được quyết đnh rõ ràng và đưa ra công
khai trước công chúng. Trái với khi nội tệ b giảm giá do cung cầu trên th trường ngoại
đến việc đóng gói và xuất khẩu. Việc yêu cầu khắt khe như vy đồng ngha với chi phí
sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất cá da trơn (ví dụ như Việt Nam) tăng do phải xây
16
dựng hệ thống sản xuất đạt như tiêu chuẩn Mỹ và trong việc có được các giấy tờ chứng
minh mà Bộ Nông nghiệp Mỹ yêu cầu trước khi hàng hóa được xuất khẩu. Tuy vẻ b
ngoài thì quy đnh này là kiểm soát chất lượng của cá da trơn vào th trường Mỹ nhưng
thực ra đây là chính sách bảo hộ cho ngành nuôi cá da trơn nội đa. Mặt hàng này muốn
được nhp khẩu đ phải vượt qua những điu tra của FDA v các mối nguy hiểm hóa học
và sinh học trong cá da trơn giống như tất cả các loại hải sản khác, cho nên lấy lý do v
an toàn thực phẩm là không hợp lý. Việc yêu cầu khắt khe như vy đồng ngha với chi
phí sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất cá da trơn (ví dụ như Việt Nam) tăng do phải
xây dựng hệ thống sản xuất đạt như tiêu chuẩn Mỹ và trong việc có được các giấy tờ
chứng minh mà Bộ Nông nghiệp Mỹ yêu cầu trước khi hàng hóa được xuất khẩu. Điu
kiện khí hu của các nước châu Á (vốn là nước xuất khẩu chính cá da trơn sang Mỹ)
khác với ở Mỹ nên chắc chắn điu kiện nuôi cá không thể giống nhau. Sản phẩm cá da
trơn nội đa nhờ vào đó sẽ có được ưu thế hơn, thúc đẩy th phần có được từ các nhà xuất
khẩu châu Á (trong đó có Việt Nam - nước chiếm tới gần 80% th phần xuất khẩu các sản
phẩm cá da trơn vào Mỹ).
c. Phá giá tấn công
Phá giá tấn công là phương thức phá giá không phải vì những mất cân bằng kinh tế và
không nhằm mục đích tăng sức cạnh tranh của nn kinh tế. Trong điu kiện kinh tế phát
triển thun lợi, nhưng nếu Chính phủ thấy cần tăng thêm xuất khẩu và hạn chế nhp khẩu
thì họ có thể tiến hành phá giá. Phá giá như vy dễ kéo theo một cuộc chiến phá giá
(devaluation race): hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đu muốn đồng tin của nước
mình suy yếu bởi vì những nhà xuất khẩu của nước họ nhờ vy có thể có được lợi thế v
giá và chiếm được th phần. Tuy nhiên khi một đồng tin giảm giá, ngược lại, các đồng
tin khác sẽ tăng giá. Các nước khác cũng sẽ phản ứng lại bằng cách cố ép cho đồng tin
của họ giảm giá lại và làm cho hệ thống tin tệ quốc tế b xáo trộn và các nước có nguy
cũng phải giữ được bí mt vì đây là điu kiện tiên quyết để phá giá thắng lợi. Ở Anh, phá
giá 11/1967 chỉ có ba nhà lnh đạo cao cấp nhất được biết trước. Ở Pháp, quyết đnh phá
giá năm 1969 được công bố vào sang thứ bảy khi toàn dân Pháp đi nghỉ cuối tuần và th
trường chứng khoán đ đóng cửa (hai ngày sau mới hoạt động trở lại). Chỉ có 8 quan
chức cao cấp biết trước quyết đnh này. Phá giá Franc CFA tại 14 nước nói tiếng Pháp ở
châu Phi được quyết đnh vào lúc 1 giờ sang ngày 9/1/1994 sau 1 tuần đàm phán gay go
18
giữa các Chính phủ và các tổ chức quốc tế, nên chính những người lnh đạo cao nhất các
nước cũng không biết trước…, nhờ đó đầu cơ đ không bùng lên dữ dội.
2.3. Lý do một quốc gia quyết định phá giá đồng nội tệ của mình.
Giá tr của một đồng tin được đặt trong mối quan hệ với các đồng tin khác, trả lời cho
câu hỏi một đơn v ngoại tệ sẽ được mua bằng bao nhiêu đơn v nội tệ. Một cách tổng
quát, mối quan hệ đó là tỷ giá hối đoái của cặp tin tệ đó và nó dao động theo thời gian,
có thể là tăng hoặc giảm giá tr của một đồng tin này so với đồng tin khác. Khi một
đồng tin giảm giá tr so với những đồng tin khác thì quá trình đó gọi là sự giảm giá của
đồng tin đó. Sự giảm giá tr của một đồng tin là một quá trình tự nhiên trong lch sử th
trường tài chính. Tất cả các đồng tin đu đ trải qua thời điểm mà giá tr của nó tăng
hoặc giảm . Ví dụ, 17.475 VND có thể mua được 1 USD cách đây 5 năm (tháng 2/2009),
bây giờ VND b giảm giá và phải cần tới 21.125 VND để mua được 1 USD (tháng
2/2014). Bên cạnh sự giảm giá th trường của đồng nội tệ, chính phủ các nước trên thế
giới đôi khi sử dụng giảm giá tr nội tệ như một công cụ giúp bảo vệ CCTM của quốc
gia. Sự thay đổi giá cả của đồng nội tệ có thể có tác dụng thúc đẩy hoặc làm giảm sự phát
triển kinh tế. Vy đâu là lý do khiến chính phủ quyết đnh thực hiện một cuộc phá giá đối
với đồng tin quốc gia của mình? Những lý do đó dựa trên những cơ sở nào?
Theo một cách tổng quát, câu trả lời là chính phủ sử dụng biện pháp phá giá để có thể
nâng cao năng lực cạnh tranh (sức cạnh tranh thương mại quốc tế) một cách nhanh chóng
và hiệu quả hơn so với cơ chế để tự nn kinh tế điu chỉnh theo hướng suy thoái (vì khả
năng cạnh tranh kém nên cầu xuất khẩu ròng giảm dẫn đến tổng cầu giảm) đi kèm với
những bất lợi v thương mại gây ra bởi các nước phá giá tin tệ trước đó. Tổng kết của
Ngân hàng D&B (2011) chỉ ra rằng, việc một số nước rời bỏ bản v vàng và thực hiện
phá giá tin tệ trong những năm 30 của thế kỷ 20 đ khiến các nước đối tác thương mại
của họ chìm sâu hơn vào suy thoái kinh tế, cản trở thương mại và tiếp tục thúc đẩy các
nước phá giá tin tệ hơn nữa, dẫn đến kinh tế toàn cầu thu hẹp, đầu tư và thương mại
toàn cầu sụt giảm, tương tự như hu quả của chiến tranh thế giới lần thứ hai. Một ví dụ
khác nữa là việc tranh chấp căng thẳng suốt một thời gian dài giữa Mỹ và Trung Quốc
xung quanh mức tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ và đồng Đô la. Theo cáo buộc của Mỹ,
đồng Nhân dân tệ đ được đnh giá thấp hơn từ 25% tới 40% so với đồng Đô la Mỹ là
đòn bẩy hỗ trợ cho làn sóng xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc ra khắp thế giới. Chiến
lược “đồng Nhân dân tệ yếu” trong một thời gian dài đ góp phần đưa Trung Quốc trở
20
thành nn kinh tế thứ 2 thế giới. Còn v phía Mỹ, nước này đ ghi nhn nhp siêu 800 tỷ
USD, khiến Quốc hội Mỹ dưới thời Tổng thống George Bush yêu cầu Trung Quốc phải
tăng tỷ giá đồng Nhân dân tệ. Tuy nhiên, nhiu nước b thiệt hại do đồng Nhân dân tệ b
đnh giá thấp không muốn đối đầu trực tiếp với Trung Quốc (như Mỹ) đ chọn con
đường khác: lặng lẽ phá giá hoặc ngăn không cho đồng tin của nước mình tăng giá thêm
nữa.Và từ đó, thế giới bắt đầu áp dụng một kỹ thut mà Trung Quốc đ hoàn thiện: thao
túng đồng tin để tăng lợi thế quốc gia bất chấp áp lực chính tr từ các đối tác thương
mại. Trường hợp đầu tiên là Nht Bản, ngày 15/9/2010, lần đầu tiên sau 6 năm, Nht Bản
giảm tỷ giá đồng Yên/USD. Không chỉ có Nht Bản, trong thời gian này, các nn kinh tế
lớn như Mỹ, Hàn Quốc, Singapore, Columbia,… cũng có các biện pháp hoặc tuyên bố
nhằm hạ giá đồng nội tệ, với mục đích đối phó cũng như kiểm soát những th trường duy
trì chiến lược đồng nội tệ yếu nhằm chiếm được lợi thế thương mại như Trung Quốc.
Một lý do khác nữa lý giải vì sao chính phủ phá giá nội tệ, đứng trên quan điểm tính chất
chủ động hay b động của cuộc phá giá mà chính phủ thực hiện, là đối với phá giá chủ
động, do giá cả và tin lương là cứng (ít co gin trong ngắn hạn) nên khi điu chỉnh tỷ
giá tăng đột ngột, tức giá giá tin tệ sẽ làm cho giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại
khoản nợ có thể khiến các nguồn lực tài chính b tách rời và kéo ra xa, đồng thời trở
thành gánh nặng.
Ngoài ra, cũng có thể cho rằng khi một quốc gia đang phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp
cao hoặc mong muốn theo đuổi chính sách tăng trưởng dựa vào xuất khẩu thì một mức tỷ
giá thấp hơn sẽ có thể được xem là lợi thế. Từ đầu những năm 1980, Quỹ Tin tệ quốc tế
(IMF) đ đưa ra quan điểm cho rằng phá giá tin tệ là một giải pháp tim năng cho các
quốc gia đang phát triển - nơi mà chi trả được dành nhiu hơn cho nhp khẩu hơn là thu
nhp từ xuất khẩu. Một mức tỷ lệ thấp hơn của đồng nội tệ sẽ làm tăng giá hàng hóa nhp
khẩu, đồng thời khiến hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn. Điu này có khả năng kích
thích nn sản xuất trong nước, tạo thêm công ăn việc làm và tăng GDP - mặc dù những
tác động kể trên có thể không xuất hiện ngay lp tức nếu xét theo điu kiện Marshall -
Lerner. Phá giá tin tệ có thể được xem là một giải pháp hấp dẫn đối với vấn đ thất
nghiệp khi các giải pháp khác, như tăng chi tiêu công, đ được loại trừ bởi nợ công cao,
hoặc khi một quốc gia có CCTM đang b thâm hụt mà một sự phá giá tin tệ có thể trợ
giúp trong việc khắc phục. Một lý do giải thích cho việc tại sao các nn kinh tế mới nổi
lại ưa thích phá giá tin tệ hơn là nếu duy trì một mức tỷ giá thấp của đồng nội tệ so với