TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 1 ĐỀ TÀI
Sự Chuyển Hướng Chỉ Đạo Của Đảng Và Cao Trào Cách Mạng Đến
Đỉnh Cao Cách Mạng Tháng Tám Vĩ Đại (1939-1945).
Lý do chọn đề tài:
Thông qua quá trình từ chuẩn bị và tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám ta có thể thấy
được quá trình phát triền dần lớn mạnh của Đảng, Nhà Nước cũng như phong trào cách
mạng giải phóng dân tộc của quân và dân ta. Cũng như qua đó ta có thể thấy được sự
tài tình của Bác Hồ của Đảng ta trong quá trình nắm bắt thời cơ một cách hợp lý trong
quá trình chuyển hướng chỉ đạo qua từng thời kì của cuộc kháng chiến để tiến tới giải
phóng cho toàn dân tộc và xây dựng một chế độ Xã Hôi Chủ Nghĩa ở nước ta.
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 2
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1945, một sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại có ý nghĩa quyết định đối với cả vận
mệnh của dân tộc ta: cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2-9-1945 tại Quảng
Trường Ba Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể nhân dân và chính
phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân
và thế giới: nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. Cuối cùng một dân tộc có đức
tính kiên trì, một dân tộc luôn đấu tranh vì chính nghĩa, một dân tộc luôn bị áp bức bóc
lột một cách nặng nề nhưng không bao giờ bỏ cuộc, không tiếc hi sinh sương máu của
chính mình để đánh đổi lại một nền độc lập. Cuối cùng thì biết bao nhiêu sương máu
của chính nhân dân ta, của chính đồng đội ta cũng được trả lại một cái giá xứng đáng
đế quốc chuyển thành chiến tranh chống pháp xít do Liên Xô làm trụ cột.
Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai không chỉ là làm thay đổi cục diện chính trị trên thế giới
mà còn tác dụng trực tiếp đến các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam.
2. Tình hình nước ta:
Chính quyền thực dân Pháp thực hiện chính sách “Kinh tế chỉ huy”,
tăng cường vơ vét tài nguyên, nhân lực của Đông Dương phục vụ cho chiến
tranh ở nước Pháp.Trong diễn văn khai mạc đại hội đồng kinh tế và tài chính Đông
Dương, tháng 11 – 1939, toàn quyền Catơru nói “Dù có tham gia trực tiếp hay không
vào cuộc chiến Đông Dương cũng không được tự do có khuynh hướng riêng của nên
kinh tế và tài chính của mình mà phải quy tụ nó vào những mục đích do mẫu quốc chỉ
định. Đông Dương phải xác nhập hệ thống mậu dịch của mình vào hệ thống mẫu quốc,
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 4
phát triển sản xuất của mình vì lợi ích của mẫu quốc, cung cấp những sản phẩm của đất
đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi hỏi. Đồng thời Đông Dương phải để cho
nước Pháp sử dụng nguồn nhân lực của mình, hoặc làm trong các công,
binh xưởng, hoặc cung cấp những quân số quan trọng được tổ chức và biên chế để điều
đến các chiến trường ở phương Tây.
Trong thực tế đó ở nước ta và Đông Dương thực dân pháp thi hành các chính
sách rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thông trị, thẳng tay đàn áp các phong
trào đấu tranh cách mạng của nhân dân. Một số quyền tự do dân chủ giành được ở giai
đoạn 1936 – 1939 đã bị chúng thủ tiêu. Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiến
chính sách “kinh tế chỉ huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ
cho chiến tranh đế quốc.
Ngày 22-9-1940 lợi dụng Pháp thua Đức, phát xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và
đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội Pháp kí hiệp định đầu hàng Nhật từ
đó dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng” áp bức, bóc lột của Pháp – Nhật. Mâu
thuẫn giữa dân tộc ta và chủ nghĩa để quốc và phát xít Nhật được đẩy thành cao trào và
gay gắt hơn bao giờ hết.
II. Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9 – 1939 tới tháng 3 – 1945.
khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc,Việt gian chia cho dân cày.
Mặt trận: Chủ trương thành lập Mặt trân dân tộc thống nhất phản đế Đông
Dương nhằm tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp giai cấp, các dân tộc Đông Dương chỉ mũi
nhọn của cách mạng vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là chủ nghĩa đế quốc phát xit.
Hình thức và phương pháp đấu tranh: Dùng bạo lực cách mạng tức là đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ trang.
Ý nghĩa lịch sử của hội nghị trung ương Đảng lần VI(11-1939):
Hội nghị TW Đảng lần VI (11/1939) đã đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược của Đảng. Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn.
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 6
Đảng ta đã dương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đoàn kết được rộng rãi mọi tầng
lớp giai cấp, dân tộc Đông Dương trong một mặt trận dân tộc thống nhất để đấu tranh
chống kẻ thù chung.
Sự chuyển hướng này đã mở ra một thời kỳ đấu tranh mới, thời kỳ trực tiếp mở
đường tiến tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám sau này.
b. Hội nghị trung ương Đảng lần VII (11-1940):
Hội nghị trung ương họp tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh), có các đồng chí
Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng
Ninh, tham dự.
hoàn cảnh:
Trong bối cảnh phát xít Nhật đổ bộ chiếm đóng Đông Dương, thực dân Pháp từng
bước nhượng bộ và đầu hàng Nhật, nhân dân Việt Nam chịu cảnh "một cổ hai tròng"
thống trị của Pháp - Nhật. Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra (ngày 27-9-1940), Xứ uỷ Nam Kỳ
sau nhiều lần thảo luận đã chủ trương phát động nhân dân vũ trang khởi nghĩa.
Nội dung:
Khẳng định chủ trương của hội nghị lần VI là hoàn toàn đúng đắn.
Quyết định duy trì củng cố lực lượng du kích Bắc Sơn đồng thời đình chỉ cuộc
khởi nghĩa Nam Kỳ.
Hội nghị nhấn mạnh vấn đề khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền và coi
Hình thức khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Hội nghị chủ trương xây dựng Đảng gấp rút đào tạo cán bộ chuyên môn.
Ý nghĩa:
Phản ánh sự nhạy bén trước sự thay đổi của tình hình của Đảng.
Kế thừa phát huy cương lĩnh của Hồ Chí Minh.
Phát triển chủ trương hàng đầu là giải phóng dân tộc của hội nghị trung ương VI và
VII.
Chuyển hướng mới và tự giải quyết vấn đề dân tộc
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 8
Từ hội nghị VI tới hội nghị thứ VIII đã dần hoàn thiện chiến lược nhằm mục tiêu
giành độc lập.
Nhiệm vụ giải phóng dân tộc và tập hợp quần chúng, phương pháp cách mạng từ
khởi nghĩ vũ trang và đề ra được quyền dân tộc tự quyết.
Sự chuyển hướng của Đảng ta là đúng đắn trong giai đoạn cách mạng sắp tới tiến
đến thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945.
2. Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kì mới:
a. Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940)
Nhận thấy sự tan rã của chính quyền thực dân sau khi phát xít Nhật nhảy vào
Đông Dương, quân Pháp thất bại và đầu hàng, Đảng bộ Bắc Sơn đã phát động quần
chúng nổi dậy cướp chính quyền, tấn công các đồn bốt và các đơn vị lính Pháp đang rút
chạy, cướp vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.
20 giờ ngày 27-9-1940, hơn 600 quân khởi nghĩa, gồm đủ các dân tộc Tày, Dao,
Nùng, Kinh đã tấn công đồn Mỏ Nhài (Châu Lỵ-Bắc Sơn). Trước tình hình đó, Pháp và
Nhật đã thỏa hiệp với nhau để tập trung đàn áp cuộc khởi nghĩa. Thực dân Pháp đưa
quân lên chiếm lại các đồn và đàn áp dữ dội.
Cuộc khởi khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại nhưng đã để lại những bài học quý báu
về khởi nghĩa vũ trang, xây dựng chính quyền, hơn nữa nó đặt được nền móng cho việc
xây dựng căn cứ địa cách mạng với những lực lượng vũ trang đầu tiên mà sau này phát
triển thành Việt Nam Cứu quốc quân.
lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng ViệtNam có một cuộc tàn sát quy mô lớn. Các
đồng chí lãnh đạo, những người con ưu tú của dân tộc, của Đảng, trong đó có Nguyễn
Văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai đã bị giặc Pháp giết.
Tấm gương hy sinh dũng cảm của các đồng chí mãi mãi sáng ngời chủ nghĩa anh hùng
cách mạng Việt Nam.
Khởi nghĩa Nam kỳ là trang sử oanh liệt của đất Đồng Nai, của miền Nam "đi
trước về sau" trên suốt chặng đường cách mạng của đất nước. Khởi nghĩa Nam Kỳ là
một tấm gương sáng chói về tinh thần kiên cường bất khuất của nhân dân Việt Nam.
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 10
Qua trận thử lửa này, quần chúng càng gắn bó với Đảng, càng tôi luyện chí khí cách
mạng, củng cố nhận thức: Con đường sống duy nhất của dân tộc là phải dùng bạo lực
cách mạng đập tan bạo lực phản cách mạng của bọn đế quốc và phong kiến, giành lại
độc lập tự do.
c. Binh biến Đô Lương (13-1-1941):
Cuộc binh biến của lính khố xanh ở Chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An), do
Nguyễn Văn Cung (Đội Cung) lãnh đạo. Ngày 8-1-1941, Đội Cung từ Vinh lên chỉ huy
đồn Chợ Rạng thay viên chỉ huy người Pháp. Đêm 13-1-1941, Đội Cung cùng 11 lính
đồn Chợ Rạng tiến chiếm Đô Lương, giết đồn trưởng rồi cùng 25 lính ở đây, tiến đánh
Vinh ngay trong đêm. Không chiếm được trại giám binh vì bị lộ, nghĩa quân bị đàn áp,
binh biến chấm dứt.
Cuộc Binh Biến Đô Lương là dấu hiệu về tinh thần quật khởi, ý thức dân tộc của
nhiều binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Đông Dương, quyết vùng dậy chống
ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai trong hoàn cảnh mới.
Như vậy từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô
Lương, quần chúng yêu nước trước thời cơ chiến tranh từ Bắc đến Nam dù trong
hoàn cảnh và điều kiện nào, cũng có một nhận thức và hành động thiết thực là
phải đứng lên chống bọn áp bức dân tộc. Những cuộc khởi nghĩa đầu tiên này
tuy sớm bị đàn áp và thất bại nhưng sức quật khởi của khối quân thù của toàn
dân tộc thì không có gì có thể dập tắt được, nó sẽ được hướng vào chẩn bị cho
Hưởng ướng lời kêu gọi của Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ VII (11-1940)
và lần VIII (5-1941) về việc xây dựng lực lượng vũ trang và đẩy mạnh các hoạt
động hưởng ứng, ủng hộ hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940) và Bắc Kỳ (11-1940),
khắp nơi tập trung thảo luận các vấn đề, củng cố phát triển các tổ chức chính trị, xây
dựng lực lượng vũ trang, xắm sửa vũ khí sẵn sàng đón thời cơ để khởi nghĩa vũ trang.
a. Xây dựng lực lượng cho khởi nghĩa vũ trang:
Xây dựng lực lượng vũ trang:
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 12
Tại Bắc Sơn – Võ Nhai, mặc dù bị địch khủng bố đàn áp nhưng lá cờ khởi nghĩa
nơi đây vẫn không hề bị dập tắt cũng như quân du kích Bắc Sơn vẫn tồn tại và sau Hội
nghị lần VII thì lực lượng vũ trang Bắc Sơn ngày càng được củng cố và mở rộng.
Tháng 1-1941 Trung ương Đảng còn quyết định cử người của Ban chỉ đạo giúp
xây dựng thêm khu căn cứ và bổ sung đội du kích đồng thời chuẩn bị lực lượng cho các
cơ sở trên khắp Bắc Kì. Và ngày 14-2-1941 đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung
ưng Đảng đã thành lập đội du kích Bắc Sơn ( tiền thân của Quân Đội Nhân Dân Việt
Nam) tại khu rừng Khuổi Nọi thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn (Lạng Sơn) ở đây đội du
kích Bắc Sơn đã được trao nhiệm vụ cứu nước và cờ đỏ sao vàng, ban đầu đội chỉ có
32 người nhưng đây là một lực lượng ưu tú, kiên quyết, chất lượng cao. Đây là một
bước tiến trong việc chuẩn bị lực lướng tiến tới tổng khởi nghĩa vũ trang của Đảng,
Nhà Nước cũng như quân và dân ta.
Sau Hội nghị lần VIII Trung ương Đảng quyết định tăng cường các tổ chức vũ
trang nửa vũ trang (độ du kích, đội tự vệ vũ trang), Trung ương Đảng còn cho chỉ đạo
xây dựng cũng như củng cố căn cứ Bắc Sơn – Võ Nhai. Ngay sau đó đội du kích Bắc
Sơn đã được đổi tên thành Cứu Quốc Quân Bắc Sơn.
Cuối tháng 6-1941 do sự càn quét cũng như đàn áp của thực dân Pháp vào các
căn cứ của chúng ta, các cơ sở bí mật của Trung ương Đảng cũng như Cứu Quốc Quân
bị uy hiếp, trước tình thế đó ban chỉ huy quyết định đưa các đồng chí Ủy viên Trung
ương Đảng về xuôi an toàn. Vào tháng 8-1941 thực dân pháp xiết chặt vòng vây Cứu
Quốc Quân phải chia làm hai nhóm rút về Cao Bằng và Lạng Sơn nhưng không may
Trong thời gian này trên mặt trận văn hóa tư tưởng cũng xuất hiện nhiều tư
tưởng dẫn dắt con người theo cách mạng và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Những sách, báo đặc biệt là các tờ Việt Nam độc lập, Cờ giải phóng, Cứu Quốc đã có
tác dụng quan trọng. Năm 1943 để vũ trang cho Đảng và để chống lại các lý luận của
bọn phát xít-thực dân, Đảng đã đưa ra “đề cương về cách mạng văn hóa Việt Nam” do
tổng bí thư Trường Chinh soạn thảo. Bên cạnh đó thì Đảng chủ trương thanh lập hội
văn hóa và xuất bản tạp chí Tiền Phong để tập hợp các lực lượng văn nghệ sĩ yêu nước
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 14
và cách mạng, chính cách làm đó đã thúc đẩy phong trào văn học yêu nước như là các
nhà văn Nam Cao, Lỗ Tấn, Đặng Thai Mai… ngoài thơ thì các khảo luận hay khổng
giáo phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt là các bài hát yêu nước mang âm hưởng dân tộc
dần dần ra đời đã cổ vũ cho và động viên ý chí chi nhân dân trong cuộc chiến đấu sống
còn để giành độc lập cho dân tộc.
Tuy nhiên song song với sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào tư tưởng,
thơ, ca của nước ta thì bọn phản động của Phát xít Nhật-Pháp cũng reo rắc vào đầu óc
những người dân những tư tưởng sai lệch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc
ta.
b. Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền:
Từ sau năm 1943 sau khi Liên Xô chuyển sang thế phản công với chiến thắng
lịch sử Xtalingorat và trận đập tan cuộc phản công của Hitle ở vòng cung Cuocxco Thế
Chiến thứ hai bước sang một giai đoạn mới. Trước tình hình đó Hội Nghị Ban thường
vụ Trung ương Đảng đã họp từ ngày 25 tới ngày 28-2-1943 ở Võng La (Đông Anh) đã
nhận định: “năm 1943 sẽ là năm mà phe dân chủ sẽ đánh phe phát xít một cách quyết
liệt hơn và để sửa soạn điều kiện cho bước thắng lợi cuối cùng” chính vì thế cách
mạng nước ta có thể có những bước nhảy vọt . Toàn bộ công tác Đảng phải nhằm vào
chỗ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang gianh chính quyền khi cơ hội đến. Những chủ trương
đúng đắn đó đã tạo điều kiện đưa cách mạng trong cả nước không ngừng phát triển
mạnh mẽ
5-1944 Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “ sửa soạn khởi nghĩa”
thắng của quân đội Đồng Minh tới gần chính vì vậy lực lượng Pháp đang ráo riết chuẩn
bị những kế hoạch để chiếm lại Đông Dương ngay sau khi quân Đồng Minh tiến vào
Đông Dương để tiến công Nhật.
Trước tinh hình đó thì âm mưu của Pháp không thể qua mắt được Nhật. Vào 8
giờ 20 phút tối ngày 9-3-1945 quân đội Nhật đồng loại nổ sung lật đổ chính quyền
Pháp ở Đông Dương. Quân Pháp kháng cự yếu ớt ở một vài nơi rồi nhanh chóng đầu
hàng.
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 16
Trước tình hình Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương thì ngày 12-3-1945 Ban
Thường vụ ban chấp hành trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc
Ninh) đã ra chỉ thị “ Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta ”. Hội nghị nhận
định là cuộc đảo chính đã tạo nên một tình hình khủng hoảng chính trị sâu sắc, làm cho
những điều kiện của cuộc tổng khởi nghĩa sẽ nhanh chóng chín muồi. Đối tượng của
cách mạng có chỗ thay đổi.
Về tình thế cách mạng ban chỉ thị nhận định: những điều kiện khởi nghĩa chưa
thực sự chin muồi vì Pháp tan rã nhưng Nhật chưa hoang mạng, do dự đến mức cực
điểm. Các tầng lớp trung gian chưa nghiêng hẳn về phía cách mạng, còn đội tiên phong
vẫn còn đang ở giai đoạn chuẩn bị chưa sẵn sàng cho chiến đấu. Từ những nhận định
trên ban chỉ thị quyết định: “phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ để
làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
2. Cao trào kháng Nhật cứu nước của quân và dân ta:
Những quyết định sang suốt của Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng thể
hiện trong bản chỉ thị phản ánh kịp thời và sang suốt trong nghệ thuật lãnh đạo của
Đảng trước các diễn biến nhanh chóng trong thời cuộc. Những quyết định đó đã soi
sáng cho toàn Đảng, toàn dân tiến hành khởi nghĩa từng phần chuẩn bị mọi mặt trận
cho tổng khởi nghĩa. Chính vì vậy trước các chuyển biến có lợi cho phía ta dù chưa
nhận được lệnh nhưng nhiều địa phương đã kiên quyết phát động lệnh quần chúng tiến
hành khởi nghĩa.
Từ ngày 12-3-1935 trở đi, ở các tỉnh Việt Bắc, Cứu Quốc Quân phối hợp với lực
Đến cuối tháng 4-1945 một khu vực rộng lớn gồn hầu hết các xã, châu, huyện ở
Cao-Bắc-Lạng-Hà-Tuyên-Thái đã được giải phóng và thành lập chính quyền cách
mạng. Lực lượng Cứu Quốc Quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã
phát triển rất mạnh mẽ.
Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (tại Bắc Giang): vào ngày 15 tới 20-4-1945 ban
thường vụ Trung ương Đảng triệu tập hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ đây là
cuộc hội nghị quân sự đầu tiên của ta. Hội nghị quyết định: “tình thế đã đặt nhiện vụ
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 18
quân sự lên trên tất cả nhiện vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải
tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ địa kháng Nhật, để chuẩn bị
cho cuộc tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ”. Đồng thời hội nghị còn thống nhất hợp
nhất Cứu Quốc Quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam giải
phóng quân.
Đội du kích Âu Cơ được thành lập: Chiến khu Vần-Hiền Lương được thành lập
và tháng 4-1945 và ngay vào tháng 5-1945 đội du kích của chiến khu được thành lập
và lấy tên là Âu Cơ. Đội du kích không ngừng phát triển và được củng cố, tới tháng
7-1945 đã tăng lên tới 500 chiến sĩ (ban đầu chỉ có 35 chiến sĩ). Đội du kích Âu Cơ
nhanh chóng trở thành lực lượng nòng cốt tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trên
địa bàn.
Đập tan cuộc tổng tiến công hơn 2000 quân của phát xít Nhật: Tháng 5-1945,
quân đội Nhật mở cuộc tiến công với quy mô lên tới 2000 quân chia làm ba mũi tiến
sâu vào các vùng căn cứ của ta. Đi tới đâu chúng cũng khủng bố chém giết nhân dân
ta, đốt phá làng bản, không từ một thủ đoạn dã man nào nhằm chia cắt vùng giải
phóng thành nhiều mảnh. Trước tình hình đó quân giải phóng cùng với nhân dân phát
động chiến tranh du kích, kiên quyết chống trả cuộc tiến công của Nhật. Ngày 27-5-
1945 cánh quân chủ yếu của Nhật tiến sâu vào khu Chợ Chu, Quảng Nạp cùng với
cánh quân thứ hai tiến sau vào Thanh La. Lực lượng quân giải phóng của ta kiên
quyết giữ vững tinh thần chiến đấu hết sức dũng cảm. Nhiều lần bị đánh bất ngờ Nhật
vội vã rút quân về thị xã Thái Nguyên và Tuyên Quang. Đến đầu 6-1945 thì bị quân
mạng nước ta tiến nhanh đến ngày quyết định.
2. Tổng khởi nghĩa tháng tám:
Ngày 13-8-1945 sau khi hay tin Nhật đầu hàng Đồng Minh, trung ương Đảng và
tổng bộ Việt Minh đã thành lập ngay ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Đúng 23 giờ cùng
ngày, ủy ban khởi nghĩa đã ban bố quân lệnh số 1 hạ lệnh tổng khởi nghĩa và được
nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ.
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 20
16-8-1945 tại Tân Trào, đại hội quốc dân do tổng bộ Việt Minh triệu tập gồm
hơn 60 đại biểu thay mặt cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân
tộc, các tôn giáo từ Hà Nội… Đại hội tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng
thông qua 10 chính sách của mặt trận Việt Minh và chọn lá cờ đỏ sao vàng làm quốc
kỳ, bài Tiến Quân Ca là quốc ca và cử ra ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức
Chính Phủ lâm cách mạng lâm thời. Cùng Ngày trước đình Tân Trào, ủy ban làm lễ
tuyên thệ, quyết hoàn thành sứ mệnh cao cả cứu nước, cứu dân. Hồ chủ tịch gửi thử
kêu gọi tổng khởi nghĩa.
Với tinh thần “dù hi sinh tới đâu, dù phải đốn cháy cả dãy Trường Sơn cũng
phải kiên quyết giành cho được độc lập” như Hồ chủ tịch kêu gọi nhân dân ta đã nhanh
chóng chớp lấy thời cơ, toàn dân nổi dậy, triệu người như một. Ý chí quật cường của
dân tộc mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Tại Thái Nguyên: đúng 2h chiều ngày 16-8-1945 một đơn vị bộ đội chủ lực của
ta đã tiến xuống đánh thị xã Thái Nguyên. Giải phóng quân từ Tân Trào tiến thằng
về Thài Nguyên. 1h trưa ngày 19-8-1845 giải phóng quân đã ở phía Tây thị xã Thái
Nguyên, mặc dù về mặt số lượng quân của ta không đủ đề tiêu diệt địch nhưng căn
cứ vào tình hình lúc bấy giờ thì bộ chỉ huy quyết định hành động. đúng 5h30 ngày
20-8 ta trao tối hậu thư cho tên tỉnh trưởng. Tỉnh trưởng đầu hàng, lính bảo an giao
nộp khí giới. Cùng lúc đó quân giải phóng tấn công doanh trại Nhật, nhưng chúng
vẫn ngoan cố và sau nhiều lần công kích quân Nhật đã phải rút hết về Hà Nội. Thái
Nguyên được giải phóng
Tại Tuyên Quang: Trong khi một đơn vị bộ đội chủ lực tiến về Thái Nguyên để
đồng loai đứng lên cùng khởi nghĩa. Ở tại thành phố Huế thì lực lượng ta đã chuẩn
bị rất kĩ lưỡng về cả vũ khí lẫn biểu ngữ… chiều 21-8 đơn vị tự vệ khu phố đã
chiếm được đồn Mang Cá. Vào lúc 18h ngày 22-8-1945 trên đài phát thanh Huế vua
Bảo Đại đã tuyên bố “ Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước
nô lệ ” và thoái vị. Sáng 23-8 ta tiếp tục chiếm được một số địa điểm quan trọng và
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 22
vào lúc 16h ngày 23-8-1945 tại sân vận động Huế thì đã có cuộc mít tinh rầm rồ
mừng chiến thắng của quân và dân ta.
Tại Sài Gòn – Chợ Lơn: Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại Sài Gòn đã
nhanh chóng phục hồi lực lượng cũng như cơ sở để kịp tiến tới tổng khởi nghĩa. Tân
An là nơi đầu tiên của Sài Gòn đứng lên khởi nghĩa (21-8). Trong này 22-8 bí thư
tỉnh ủy cũng như một số ủy viên trực tiếp chỉ đạo lực lượng khởi nghĩa và tước khí
giới của lính bảo an và bắt giam tên tỉnh trưởng. Tối 24 tới 0h ngày 25-8 các đội
xung phong và thanh niên đã hoàn tất việc chiếm tất cả các cơ quan trong nội thành
phố và không gặp bất kì trở ngại gì. Sáng ngày 25-8-1945 cờ đỏ sao vàng ngập tràn
đường phố, bay phấp phới hiên ngang trên các công sở, người người hô vang khẩu
hiệu: “Việt Nam hoàn toàn độc lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm, độc lập
hay là chết”.
Tại các địa phương tiêu biểu khác: sau khi lệnh tổng khởi nghĩa được phát động
cách mạng tháng tám đã có những bước nhảy vọt, các cuộc khởi nghĩa từng phần
tiến tới tổng khởi nghĩa trên khắp các địa phương trên đất nước. Ngày 14-8-1945 lực
lượng vũ trang Quảng Ngãi giành chính quyền thắng lợi. Từ ngày 14 tới 16-8-1945
khắp các địa phương như Cao Bằng, Bắc Cạn, Yên Bái các tỉnh đồng bằng song
Hồng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… lần lượt nổi dậy giành chính quyền. Ngày
19-8 nhân dân các tỉnh Thái Bình, Khánh Hòa cũng giành được độc lập. Ngày 24-8
tại các tỉnh lị Hà Nam, Đak Lak, Phú Yên, Gò Công cũng giành được thắng lợi…
Chỉ trong vòng 2 tuần cuộc tổng khởi nghĩa của ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, Chế
độ thực dân nửa phong kiến từng ngự tri trên đất nước ta đã xụp đổ hoàn toàn.
Cách mạng thành công một cách rực rỡ, Ngày 2-9-1945 là một nốt son
tiến lên phát động tổng khởi nghĩa cả ở nông thôn và thành thị, đánh dổ hoàn toàn bộ
máy cai trị của đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
2. Ý nghĩa lịch sử:
a. Đối với dân tộc ta:
TP.HCM Ngày 24-4-2014 Page 24
Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập
ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu một trang sử vẻ vang của dân tộc ta,
đánh dấu sự đổi đời của một dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta từ một
nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập dân chủ, đưa Đảng ta từ
một Đảng không hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên
hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới. Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ
nguyên mới cho cách mạng nước ta - kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo của giai cấp
công nhân Việt Nam với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Đây là một cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi đầu
tiên của chủ nghĩa Mác- Lênin ở một nước thuộc địa.
b. Đối với thế giới:
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không gì cứu
vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ.
Trực tiếp tạo ra chỗ dựa đáng tin cậy cho cuộc cách mạng của nhân dân Lào và
Campuchia anh em và góp phần làm thay đổi cục diện chính trị ở Đông Nam Á. Nó cổ
vũ và cung cấp kinh nghiệm thành công cho nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh
giành độc lập.
3. Bài học kinh nghiệm:
Bài học hàng đầu quyết định tư duy chính trị của Đảng là: không ngừng phát huy
tinh thần chủ động, sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào
điều kiện cụ thể của nước ta để phát triển và tổ chức đường lối cách mạng, mạnh dạn
chừng. Như vậy, Cách mạng Tháng Tám mới giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ
máu.