Thuyết minh về chiếc nón lá - Pdf 23

Đề 2: Thuyết minh về chiếc nón lá
Dàn bài
MB:
Cách 1:
- Chiếc nón lá rất thân thuộc với dân tộc ta
- Đi cùng tà áo dài, chiếc nón lá làm tăng thêm vẻ dịu dàng, duyên dáng cho người
phụ nữ Việt Nam.
Cách 2:
“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”
( Bài thơ đan nón – Nguyễn Khoa Điềm)
Đã từ lâu chiếc nón lá đã đi vào nhiều bài thơ, bài ca Việt Nam và trở thành
biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam. Vẻ thanh mảnh, nhẹ nhàng của chiếc nón
bài thơ, cùng với tá áo dài bay trong gió đã làm tôn lên vẻ đẹp của người con gái.
Cách 3:
“Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ trong tay
Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”
Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ xứ
Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều
truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ
Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam với chiếc nón lá nhẹ nhàng và tà áo
dài tha thướt đã đi vào thơ ca, nhạc họa của biết bao thế hệ.
TB:
1/ Nguồn gốc:
Chiếc nón lá có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh tiền thân của chiếc nón lá đã được
chạm khắc trên trống đồng Ngọc Lữ, thạp đồng Đào Thịch vào khoảng 2500 –
3000 năm trước công nguyên.

tròn thật tròn đều và bóng bẩy từ nhỏ đến lớn. Mỗi cái nón sẽ cần 16 nan tre uốn
thành vòng tròn này đặt từ nhỏ đến lớn vào một cái khung bằng gỗ có hình chóp.
Sau đó người thợ sẽ xếp lá lên khung,
người xếp lá phải khéo và đều tay không để các phiến lá chồng lên nhau hay xô
lệch.
Kể về quá trình làm nón lá mà không kể đến nón bài thơ xứ Huế là một thiếu
xót. Đặc biệt nón bài thơ của xứ Huế rất mỏng vì chỉ có hai lớp: lớp lá trong gồm
20 lá, lớp lá ngoài cùng gồm 30 lá và lớp bài thơ được đặt nằm ở giữa. Khi xây lá
lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều
lớp hay xô lệch để nón đạt được sự thanh và mỏng. Khi soi lên ánh nắng, ta đọc
được bài thơ, nhìn thấy rõ hình cầu Tràng Tiền hay chùa Thiên Mụ. Chính những
chi tiết này đã tạo nên nét đặc trưng cho nón bài thơ xứ Huế.
c/ Chằm nón:
Sau khi xếp lá cho đều và ngay ngắn lên vành, người ta bắt đầu chằm nón. Nón
được chằm bằng sợi nilông dẻo, dai, săn chắc và phải có màu trắng trong suốt. Các
lá nón không được xộc xệch, đường kim mũi chỉ phải đều tăm tắp. Khi nón đã
chằm hoàn tất người ta đính thêm vào chớp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ
bóng láng để làm duyên cho chiếc nón. Sau đó mới phủ lên nón lớp dầu nhiều lần,
phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền.
Ở vòng tròn lớn bằng nan tre dưới đáy hình chóp, khoảng nan thứ ba và thứ tư,
người thợ sẽ dùng chỉ kết đối xứng hai bên để buộc quai. Quai nón thường được
làm bằng lụa, the, nhung, với màu sắc tươi tắn như tím, hồng đào, xanh thiên
lí, càng làm tăng thêm nét duyên cho người đội nón.
Chiếc nón đẹp không chỉ ở đường kim, mũi chỉ mà còn ở dáng nón. Chiếc nón
còn đẹp bởi đây là sản phẩm đặc trưng mang nét văn hóa truyền thống được tạo
nên bởi đôi tay khéo léo của những người thợ ở các làng nghề.
3/ Công dụng:
Từ làng Chuông ở Tây Hồ đến Ba Đồn những chiếc nón lá trải đi khắp nẻo
đường và trở thành thân quen trong đời sống thường nhật của người phụ nữ. Chiếc
nón lá không chỉ là vật dụng thiết thân, người bạn thủy chung với người lao động


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status