Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm - Pdf 23

Page | 1
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN – TTCN Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
ĐCTV – ĐCCT Địa chất thủy văn – địa chất công trình
ĐT & TTTH Điều tra và tính toán tổng hợp
ĐVT Đơn vị tính
GLS Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi
KCN Khu công nghiệp
OLS Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường
SAWACO Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TM – DV Thương mại – dịch vụ
TNMT Tài nguyên môi trường
TP Thành phố
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TTNSH & VSMT NT Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông
thôn
1
Page | 2
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Kỳ Vọng Dấu cho Hệ Số của Mô Hình Ước Lượng
Bảng 4.1. Tổng Hợp Các Thông Số Địa Chất Thuỷ Văn của Tầng Chứa Nước
Pliocen Trên và Pliocen Dưới
Bảng 4.2. Tình Hình Khai Thác Nước Ngầm tại Các Quận, Huyện của TPHCM
Bảng 4.3. Hiện Trạng Khai Thác Nước Ngầm cho Các Hoạt Động Sản Xuất và
Sinh Hoạt ở Huyện Bình Chánh

Hình 4.3. Biểu Đồ Cơ Cấu Nhóm Tuổi qua Cuộc Điều Tra
Hình 4.4. Cơ Cấu TĐHV Người Dân Huyện Bình Chánh qua Cuộc Điều Tra
Hình 4.5. Thu Nhập Bình Quân/Người/Tháng của Hộ
Hình 4.6. Đường Cầu Nước Ngầm Theo Giá Dạng Cobb – Douglas
Hình 4.7. Đường Cầu Nước Ngầm cho Sinh Hoạt của Toàn Huyện Bình Chánh
Hình 4.8. Đường Cung Nước Ngầm cho Sinh Hoạt Theo Khai Thác Bền Vững
3
Page | 4
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
4
Page | 5
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống
Phụ lục 2: Các Chỉ Tiêu Chất Lượng Nước Tầng Pliocen trên Giai Đoạn 1992-
2007
Phụ lục 3: Các Chỉ Tiêu Chất Lượng Nước Tầng Pliocen dưới Giai Đoạn 1992-
2007
5
Page | 6
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
Phụ lục 4: Kết xuất và kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình dự báo
mực
nước ngầm – tầng Pliocen trên
Phụ lục 5: Kết xuất và kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình dự báo
mực
nước ngầm – tầng Pliocen dưới

nước giảm đáng kể và đe dọa tới sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia. Cụ
thể như, sự hạ thấp của mực nước ngầm ở Vùng đông Iran làm khô nhiều giếng
và buộc người dân phải chuyển đi nơi khác vì không có nước khai thác; Tại
Yemen, mực nước ngầm ở mọi nơi đang hạ thấp 2 mét mỗi năm; Việt Nam cũng
không nằm ngoài tình hình chung ấy…Thực trạng đó khẳng định rằng thế giới
đang đối mặt với cuộc khủng hoảng về nước sạch và yêu cầu đặt ra là phải có
chính sách khai thác và quản lý tài nguyên nước phù hợp.
Ở nước ta, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi đáng quan tâm
về khai thác và quản lý tài nguyên nước ngầm. Quá trình đô thị hóa và tăng dân
số khiến nhu cầu nước ngày càng gia tăng trong khi hệ thống cung cấp nước của
thành phố (SAWACO) chưa đáp ứng đủ. Thêm vào đó, nước mặt của hệ thống
sông, kênh rạch ngày càng bị ô nhiễm nặng làm nhu cầu khai thác nước ngầm
tăng lên. Minh chứng cụ thể, số liệu thống kê của Sở Tài nguyên Môi trường
Thành phố cho thấy số lượng giếng khoan khai thác nước ngầm không ngừng
gia tăng: trước năm 1975 cả Thành phố chỉ có 200 giếng khoan, đến nay đã có
trên 100.000 giếng (bình quân 46 giếng/km
2
) với tổng lượng khai thác khoảng
Page | 2
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
850.000 m
3
/ngày phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Hiện tại 8/13 khu công
nghiệp của Thành phố hoàn toàn sử dụng nguồn nước ngầm khai thác tại chỗ để
sản xuất. Và một thực trạng dễ nhận thấy là nguồn nước ngầm bị xem như một
đầu vào miễn phí nên được khai thác và sử dụng tràn lan, trữ lượng khai thác
bền vững không được chú ý đến. Hậu quả là mực nước ngầm của Thành phố
giảm mỗi năm gần 1 m (Liên Đoàn ĐCTV – ĐCCT Miền Nam, 2006), đe dọa
các công trình kiến trúc và chất lượng nước ngầm đang biến đổi theo chiều

1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu kinh tế và quản lý tài nguyên nước ngầm tại huyện Bình
Chánh TP.HCM.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Ước tính toán tổng trữ lượng nước ngầm và xác định lượng khai thác
bền vững hàng năm theo phương pháp cân bằng ở hai tầng Pliocen trên và
Pliocen dưới.
- Phân tích thực trạng khai thác và xu hướng biến đổi của tài nguyên nước
ngầm.
- Dự báo sự tụt giảm mực nước tĩnh ở hai tầng Pliocen trên và Pliocen
dưới trong 5 năm tới.
- Xây dựng đường cầu nước ngầm cho sinh hoạt.
- Định giá giá trị và tìm ra tô tức tài nguyên nước ngầm.
- Đề xuất các biện pháp khai thác và quản lý nước ngầm.
1.3. Các giả thiết của vấn đề nghiên cứu
Đề tài được tiến hành với các giả thiết sau:
- Mô hình ước lượng được dựa trên các giả thiết cổ điển của mô hình hồi
quy tuyến tính.
- Tổng trữ lượng nước ngầm trên địa bàn huyện là tổng trữ lượng của hai
tầng chứa nước chính Pliocen trên và Pliocen dưới. Mặc dù huyện Bình Chánh
có tất cả 5 đơn vị chứa nước nhưng nước ở các tầng Holocen và Pleistocen có
chất lượng kém không sử dụng được cho sinh hoạt và sản xuất; Nước ở đới
Mezozoi rất sâu, khó khai thác, trữ lượng không nhiều và hiện tại chưa được
khai thác nên hộ gia đình và các doanh nghiệp chỉ sử dụng nước ở hai tầng là
Pliocen trên và Pliocen dưới.
3
Page | 4
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
- Thị trường nước ngầm là cạnh tranh hoàn toàn.

Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
1.5. Cấu trúc của khóa luận
Đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương1. Mở đầu
Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên
cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận.
Chương 2. Tổng quan
Giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo, trình bày về điều kiện tự nhiên
kinh tế, kinh tế, xã hội của huyện Bình Chánh.
Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu, các chỉ tiêu sử dụng
và phương pháp để tiến hành nghiên cứu.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trong chương này sẽ trình bày những kết quả nghiên cứu chính bao gồm:
đặc điểm tự nhiên và trữ lượng nước ngầm ở hai tầng Pliocen trên và Pliocen
dưới; Tình hình khai thác và xu hướng biến đổi về chất lượng và động thái
nước; Dự báo sự suy giảm mực nước ở hai tầng; Xây dựng mô hình đường cầu
nước ngầm cho sinh hoạt; Xác định giá trị và tô tức tài nguyên nước. Cuối cùng
là một số đề xuất .
Chương 5. Kết luận và kiến nghị
Tóm lược các kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả trong khai thác và quản lý nguồn tài nguyên nước ngầm.
5
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu kinh tế về quản lý tài nguyên nước ngầm là một hướng đề tài
mới. Các nghiên cứu trước đây về nước ngầm ở nước ta nói chung và tại TP.Hồ
Chí Minh nói riêng chủ yếu tập trung dưới góc độ kỹ thuật nhằm tính toán, quan

tính được giá nước ngầm thích hợp để sử dụng cho công nghiệp dưới nhiều kịch
bản khác nhau.
Rosalina Palanca – Tan và Germelino M. Bautista, 2003, nghiên cứu về
phương án đo lường và cấp phép sử dụng nước ngầm tại Thành Phố Caganyan
de Oro, Philippines. Nghiên cứu đã điều tra tính khả thi của việc đo lường nước
và thu phí khai thác nước ngầm. Từ đó định hướng đề xuất lập ra hệ thống giấy
phép khai thác hướng đến việc khai thác và sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên
này. Kết quả cho thấy với lượng nước khai thác hiệu quả là 94 ngàn m
3
/ngày và
nếu người sử dụng sẵn lòng trả 3.31 Peso cho mỗi m
3
nước thì tổng doanh thu từ
việc bán giấy phép khai thác nước là 113.6 triệu Peso. Đây là một con số có ý
nghĩa để thực hiện kiểm soát và bảo vệ lưu vực nước.
Chế Thị Mai Hiếu, 2007, nghiên cứu kinh tế và quản lý tài nguyên nước
ngầm tại huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Mặc dù đề tài chỉ tập trung chủ yếu
vào cầu nước ngầm cho sinh hoạt nhưng cũng giúp cho tôi tham khảo trong
nghiên cứu này đặc biệt là so sánh các tham số ước lượng mô hình cầu nước
ngầm cho sinh hoạt.
Tóm lại, các nghiên cứu trên là những tư liệu đáng quý để thực hiện đề tài
này. Cùng nghiên cứu về tài nguyên nước ngầm nhưng sự khác biệt của đề tài
này so với các nghiên cứu trước là ở chỗ, nghiên cứu này sử dụng nguồn số liệu
thứ cấp sẵn có về hiện trạng nước ngầm để phân tích dưới góc độ kinh tế tài
nguyên. Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng phương pháp cân bằng để tìm ra
trữ lượng khai thác, dự báo được xu hướng biến đổi của mực nước trong tương
lai. Và, trong mô hình đường cầu nước ngầm cho sinh hoạt biến giả theo mùa
được đưa vào nhằm thể hiện sự khác biệt về lượng cầu nước giữa hai mùa. Trên
cơ sở đó đề tài tính ra được giá trị và tô tức tài nguyên nước ngầm. Mặt khác,
7

Tân Túc.
c) Địa hình
Huyện Bình Chánh có dạng địa hình đồng bằng, hơi dốc từ Đông Bắc
xuống Tây Nam, với ba nhóm đất chính: nhóm đất xám (3.717 ha) phân bố ở
các xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B; nhóm đất phù sa (5.798 ha) phân bố ở các xã:
Tân Quý Tây, An Phú Tây, Bình Chánh, Hưng Long, Quy Đức, Đa Phước;
nhóm đất phèn (10.509 ha) phân bố ở các xã Tân Nhựt, Bình Lợi, Phạm Văn
Hai, Lê Minh Xuân.
e) Khí tượng - thủy văn
Bình Chánh có khí hậu của miền Đông Nam Bộ, thuộc vùng nhiệt đới gió
mùa, mang tính chất cận xích đạo. Khí hậu được phân làm hai mùa rõ rệt: mùa
mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa trung bình là 1.979 mm/năm.
8
Page | 9
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Thời tiết có tính ổn định, ít xảy ra
thiên tai. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
- Nhiệt độ trung bình năm: khoảng 27
0
C, biên độ trung bình giữa các
tháng trong năm thấp là điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển
quanh năm của động thực vật.
- Độ ẩm không khí: mùa mưa ẩm độ từ 82% đến 84% và mùa khô ẩm độ
từ 77% đến 80%.
- Chế độ nắng và bức xạ: lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng
140 kcal/cm
2
/năm, nắng trung bình 6,8 giờ/ngày.
- Chế độ gió: Bình Chánh chịu ảnh hưởng của chế độ gió lục điạ theo 3

khu công nghiệp là: KCN Lê Minh Xuân (quy mô là 100 ha và 156 doanh
nghiệp), KCN Vĩnh Lộc (quy mô 207 ha và 98 doanh nghiệp đang hoạt động);
Và cụm tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân có diện tích 17 ha phục vụ cho
chương trình di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm từ nội thành ra. Những năm gần
đây hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện có bước phát triển mạnh.
Giá trị sản xuất năm 2006 đạt 1.260,806 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn 2003-2006 là 46,92%.
- Thương mại Dịch vụ (TM-DV): Khu vực thương mại dịch vụ cũng có
bước phát triển mạnh, chiếm tỷ trọng 23,83%. Doanh số thương mại năm 2005
đạt 1.500 tỷ đồng, trong đó doanh thu của ngành nội thương chiếm 97,67%
trong tổng doanh thu toàn ngành, doanh thu ngành dịch vụ đạt 32,4 tỷ đồng
chiếm 2,16%. Về ngoại thương, chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng thuộc ngành
may mặc, giày da, nông sản thực phẩm sang các thị trường xuất khẩu phần lớn
là Đài Loan, Mỹ, Hồng Kông.
- Sản xuất nông nghiệp: Ngành nông nghiệp vẫn còn chiếm diện tích rất
lớn 19.357 ha, chiếm 70% diện tích đất tự nhiên của huyện với 4 nhóm cây
trồng chính. Nhóm cây lương thực có diện tích 12.022 ha tập trung ở các xã Tân
Nhựt, Bình Chánh, Tân Quý Tây, Hưng Long, Quy Đức. Diện tích nhóm cây lâu
năm (xoài, táo, vườn tạp) có xu hướng tăng và phát triển theo mô hình cây ăn
trái kết hợp chăn nuôi, thủy sản tại các xã Tân Quý Tây, Hưng Long, Đa Phước,
Quy Đức,…Nhóm cây công nghiệp hàng năm chiếm 1.430 ha tập trung tại ba xã
cánh Bắc là xã Phạm Văn Hai, Lê Minh Xuân và Bình Lợi. Ngoài ra, Huyện còn
có một số cây trồng khác như: hoa kiểng, bắp lai,…
Về chăn nuôi, vật nuôi chủ yếu trên địa bàn huyện là heo với tổng đàn là
21.497 con, tổng đàn bò 5.982 con thay thế đàn gia cầm bị ảnh hưởng bởi dịch
10
Page | 11
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
cúm. Ngoài ra, Huyện còn có vùng nuôi thủy sản trên những vùng đất trũng và

thế có đường dây 500 kV dài 24,25 km, đường dây 220 kV có chiều dài 19 kV
và đường dây 110 kV có chiều dài 30,5 km. Điện năng cung cấp cho hoạt động
sản xuất chiếm khoảng 70%, điện sinh hoạt phục vụ được khoảng 97% hộ dân
trong toàn huyện.
11
Page | 12
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
- Bưu chính viễn thông: Huyện có tổng số 10 bưu cục cấp 3, bán kính
phục vụ trung bình từ 1,5 – 2 km. Tuy nhiên, mạng lưới bưu cục ở khu vực nông
thôn còn quá thưa thớt chưa đáp ứng nhu cầu chung của dân cư.
- Hệ thống cấp thoát nước: Nguồn nước được sử dụng chính cho sinh
hoạt là nước ngầm từ các giếng tự khoan của người dân và TTNSH & VSMTNT
Thành phố. Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt hiện nay trên địa bàn huyện chủ
yếu từ 23 trạm cấp nước ngầm ở các xã – thị trấn.
Hệ thống cấp thoát nước hiện tại chỉ tập trung cục bộ ở một số trục giao
thông chính. Thời gian tới, Huyện sẽ đầu tư xây dựng các trạm xử lý nước thải
tại xã Tân Nhựt, tiếp tục đầu tư cải tạo hệ thống đê bao thủy lợi.
2.3. Đánh giá khái quát chung
Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội như trên đem đến cho Bình Chánh
nhiều thuận lợi và khó khăn.
2.3.1. Thuận lợi
Vị trí địa lý của huyện là một lợi thế lớn, trở thành cầu nối giao thương rất
quan trọng giữa Tp. Hồ Chí Minh với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và
các tỉnh Miền Đông Nam Bộ trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Là một
trong các hướng phát triển nội thành của thành phố Hồ Chí Minh về phía Tây.
Như vậy, trong tương lai gần huyện có điều kiện để đầu tư phát triển về mọi
mặt.
Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng và địa chất công trình rất thuận lợi cho
việc xây dựng các công trình cao tầng, phát triển công nghiệp nặng hay phục vụ

nước; Phần kế đến là lý luận về đường cầu, đường cung, cân bằng thị
trường; Phần cuối của chương là các phương pháp nghiên cứu cụ thể được
ứng dụng để tìm ra kết quả nghiên cứu.
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Một số khái niệm và cơ sở lý luận liên quan đến tài nguyên nước
ngầm
a) Tài nguyên nước
Tài nguyên nước là tất cả các nguồn nước được khai thác để phục vụ cho
các hoạt động của con người bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước
dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ của một nước, một lưu vực, một vùng hay
một địa phương.
b) Nước dưới đất (nước ngầm)
Nước dưới đất (hay nước ngầm) là loại nước tích tụ trong các lớp đất đá
dưới sâu trong lòng đất, nước tích tụ làm đất ẩm ướt và lấp đầy những lỗ trống
trong đất. Phần lớn nước trong các lỗ trống của lớp đất mặt bị bốc hơi, được cây
hấp thụ và phần còn lại dưới ảnh hưởng của trọng lực, di chuyển tới các lớp
nham thạch nằm sâu bên dưới làm bảo hòa hoàn toàn các lỗ hổng bên trong cho
Page | 15
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
các lớp đá này ngậm nước tạo nên nước ngầm. Quá trình hình thành nước ngầm
diễn ra rất chậm từ vài chục đến hàng trăm năm (Nguyễn Việt Kỳ, 2006).
c) Khái niệm về trữ lượng nước ngầm và các công thức tính toán
Khi nói đến trữ lượng nước dưới đất, chúng ta quan tâm đến lượng nước
tồn tại và vận động trong các lớp đất đá dưới ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên
và nhân tạo. Trong lỗ hổng của các lớp đất đá có nhiều loại nước khác nhau
nhưng người ta thường khai thác nước trọng lực để phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất nên khi nói đến trữ lượng thường bao hàm nước trọng lực trong
vỏ trái đất. Đánh giá trữ lượng nước dưới đất các nhà địa chất thủy văn thường
quan tâm đến các trữ lượng sau đây:

=K*F*I (1)
Trong đó: Q
đtn
– trữ lượng động tự nhiên
K – hệ số thấm của đất đá (m/ngày)
I – độ dốc thủy lực của mặt nước
F – diện tích mặt cắt (m
2
).
- Trữ lượng tĩnh: là lượng nước chứa trong lỗ hổng của các lớp đất đá
được phép khai thác trong thời gian quy ước. Trữ lượng tĩnh của nước dưới đất
có thể được xem như một mỏ khoáng sản, càng khai thác sẽ làm cho trữ lượng
tài nguyên càng vơi dần và một ngày nào đó sẽ cạn kiệt hoàn toàn. Trữ lượng
tĩnh có 2 yếu tố là trữ lượng tĩnh trọng lực và trữ lượng tĩnh đàn hồi: Q
t
= Q
ttl
+
Q
tđh
.
- Trữ lượng tĩnh trọng lực: là lượng nước tồn trữ trong các lỗ hổng của
tầng chứa nước khi mà tầng chứa nước không bị nén. Lượng nước này được tính
toán theo công thức sau:
Q
ttl
= α*µ*m*F/T (2)
- Trữ lượng tĩnh đàn hồi: là lượng nước chứa trong lỗ hổng của tầng
chứa nước áp lực được thoát ra khi giảm áp lực của tầng chứa nước. Có thể xác
định trữ lượng tĩnh đàn hồi theo công thức sau:

+Q
ct
(4)
Trong đó:
+ Q
tng
: trữ lượng khai thác tiềm năng
+ Q
t
: trữ lượng tĩnh
+ Q
đtn
:trữ lượng động tự nhiên.
+ Q
ct
: trữ lượng cuốn theo, là lượng nước phát sinh khi hạ thấp mực
nước ở các vùng gần sông hoặc các khối nước mặt có quan hệ trực
tiếp với tầng chứa nước.
Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, người ta chưa thể xác định được
Q
ct
nên công thức (3) được đơn giản hóa thành: Q
tng
= Q
đtn
+ Q
t
(5)
d) Tầm quan trọng của việc định giá nước ngầm
Trong bất kỳ thị trường nào, giá cả là một yếu tố vô cùng quan trọng. Nó

định giá nước và dự báo nhu cầu nước trong tương lai là rất cần thiết) nhằm đạt
được các mục tiêu đã đề ra: nguồn nước được sử dụng mang tính hiệu quả kinh
tế, công bằng xã hội và bền vững về mặt sinh thái.
Không giống như nước mặt, nguồn tài nguyên nước ngầm có đặc tính là
khả năng phục hồi chậm, khó bị ô nhiễm hơn nước mặt. Tuy nhiên, nếu việc
khai thác và sử dụng không hợp lý, một khi nguồn nước này bị ô nhiễm hoặc
nhiễm bẩn thì việc xử lý tầng ô nhiễm là rất khó khăn, tốn kém. Chính vì vậy,
công tác quản lý là cần thiết. Và, quản lý tài nguyên nước ngầm phải xét đến cả
hai mặt là trữ lượng và chất lượng nước.
g) Khái niệm nhiễm bẩn nước dưới đất và một số chỉ tiêu đánh giá
chất lượng nước
18
Page | 19
Hiện trạng khai thác và xu hướng biến đổi chất lượng nước ngầm
tại TP.HCM và huyện Bình Chánh
- Khái niệm nhiễm bẩn nước dưới đất: Nhiễm bẩn là thuật ngữ thường
dùng cho nước dưới đất. Trên thực tế, nước vốn sạch nhưng hiện tại trở nên bẩn
hoặc đang trên đường bị bẩn. Bẩn ở đây được hiểu là chất lượng nước xấu đi về
mặt vật lý, hóa học, sinh học, sinh lý.
- Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước
Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn nước dưới đất người ta thường dựa theo
hàm lượng tổng Nitơ (tổng N-NO
3
, N-NO
2
và N-NH
4
). Dựa trên cơ sở phân chia
mức độ nhiễm bẩn của các hợp chất N, chúng ta có thể phân cấp mức độ nhiễm
bẩn nước như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status