Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................................1
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AGRISECO hay AGSC: Công ty chứng khoán Nông Nghiệp
BBĐC: Biên bản đối chứng
TTCK: Thị trường chứng khoán
NHTM: Ngân Hàng Thương Mại
NHTM CP : Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần
NHNN: Ngân Hàng Nhà Nước
HĐQT: Hội đồng quản trị
ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông
DPRR: Dự phòng rủi ro
VCSH: Vốn chủ sở hữu
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
LỜI MỞ ĐẦU
Cổ phần hoá là giải pháp quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi, sắp xếp lại doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta. Qua một quãng thời gian dài triển khai và thực hiện, tuy đã đạt
được nhiều thành tựu đáng kể nhưng không thể phủ nhận một thực tế rằng, vẫn còn nhiều
vấn đề tồn tại gây cản trở cho quá trình cổ phần hóa. Mà một trong những nguyên nhân nổi
bật của sự chậm trễ đó là vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp.
Trên thế giới, xác định giá trị doanh nghiệp đã xuất hiện và phổ biến từ lâu nhưng ở
Việt Nam thì đây vẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ cả trong lý thuyết lẫn thực hành. Sự ra
đời của liên tiếp gần chục văn bản pháp quy thay thế lẫn nhau, điều chỉnh trực tiếp công
tác định giá doanh nghiệp trong hoạt động cổ phần hóa của Nhà nước từ năm 1992 đến nay
là bằng chứng rõ nét cho một thực tế rằng: đây vẫn là quá trình vừa học vừa làm vừa rút
kinh nghiệm.
quan hệ bên trong, bên ngoài chứ không chỉ đơn thuần là đánh giá từng tài sản.
- Mặt khác, con người muốn sở hữu doanh nghiệp là vì lợi nhuận. Do đó, tiêu chuẩn
để nhà đầu tư đánh giá giá trị doanh nghiệp là các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể
mang lại cho nhà đầu tư trong tương lai.
Từ những đặc trưng trên, ta có thể thấy, giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền
về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh
doanh. Về bản chất, nó khác cơ bản so với giá bán doanh nghiệp. Nếu như giá bán doanh
nghiệp là mức giá được hình thành trên thị trường, chịu sự tác động của các yếu tố cung,
cầu “hàng hóa doanh nghiệp”, thì giá trị doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào những nguồn lực
trong và ngòai doanh nghiệp cũng như tương lai doanh nghiệp đó. Do vậy, hiếm khi giá trị
doanh nghiệp trùng khớp với giá bán doanh nghiệp, mà thường thì giữa hai giá trị này bao
giờ cũng có sự chênh lệch ít nhiều.
1.1.2. Các yếu tố tác động đến giá trị Doanh Nghiệp:
Giá trị doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố. Thứ nhất là khả năng sinh lợi
của doanh nghiệp. Khi định giá trị tài sản để đầu tư, thực chất nhà đầu tư không mua tài
sản đó mà muốn sở hữu dòng thu nhập do tài sản đó mang lại cho họ trong tương lai. Do
đó, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư khi mua
doanh nghiệp.
Thứ hai là xu thế của sự tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai. Đầu tư có nghĩa là
mua tương lai, và là hoạt động có tính rủi ro. Chỉ có xu thế tăng trưởng của lợi nhuận mà
doanh nghiệp tạo ra trong tương lai cao hơn mức lợi tức hiện tại mới hấp dẫn được nhà đầu
tư.
Thứ ba là sự lành mạnh của tình hình tài chính. Một doanh nghiệp có tình hình tài
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
2
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
chính lành mạnh sẽ làm giảm rủi ro của đồng vốn đầu tư, hay nói cách khác các nhà đầu tư
đánh giá cao các cơ hội đầu tư tương đối an toàn. Những doanh nghiệp có tiềm lực tài
chính yếu sẽ khó tìm được người mua hoặc phải bán với giá rất thấp. Nhà đầu tư trả giá
thấp để có thể đạt được một tỉ suất lợi nhuận cao bù đắp cho mức rủi ro mà họ có thể phải
lại cho nhà đầu tư.
1.2. Phương pháp xác định giá trị Doanh Nghiệp:
1.2.1. Phương pháp tài sản
Để xác định giá trị của một doanh nghiệp, hiện nay các Công ty chứng khoán đang
thực hiện theo hai phương pháp chủ yếu là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
3
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
tài sản và xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu dòng tiền.
Phương pháp tài sản
* Khái niệm:
Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở đánh giá
giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp.
* Đối tượng áp dụng: là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh, trừ
những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại...
* Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp
- Số liệu trên sổ kế toán của doanh nghiệp;
- Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại thực tế;
- Tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá thị trường;
- Giá trị quyền sử dụng đất, khả năng sinh lời của doanh nghiệp (vị trí địa lý, uy tín
của doanh nghiệp, mẫu mã, thương hiệu,...).
* Phương pháp tính:
Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (hay giá trị tài sản thuần của
doanh nghiệp) bằng tổng giá trị thực tế của doanh nghiệp trừ (-) các khoản nợ thực tế phải
trả, số dư Quỹ phúc lợi, khen thưởng và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có). Trong
đó, nợ thực tế phải trả là tổng giá trị các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp trừ (-) các
khoản nợ không phải thanh toán.
* Giới hạn của phương pháp giá trị tài sản thuần:
- Phương pháp vận dụng cũng giống như kỹ thuật định giá tài sản thông thường: chi
doanh nghiệp.
Như vậy có thể thấy rằng, mặc dù có những hạn chế rất lớn. Song, với những cơ sở
kinh tế rõ ràng, phương pháp xác định giá trị tài sản thuần đã xứng đáng trở thành một
trong những phương pháp cơ bản trong hệ thống các phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp theo cơ chế thị trường. Những ưu điểm của phương pháp này cũng là lý do để giải
thích tính khả thi cao và khả năng ứng dụng rộng rãi của nó trong những doanh nghiệp nhà
nước nhỏ. Thậm chí đối với những doanh nghiệp lớn, ở các nước trên thế giới, khi cần phải
sử dụng kết hợp nhiều phương pháp với nhau để tính số bình quân, thì giá trị doanh nghiệp
tính theo phương pháp này cũng luôn được các nhà thực hành lựa chọn và đánh giá với
trọng số cao nhất.
1.2.2. Phương pháp dòng tiền chiết khấu
* Khái niệm:
Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai.
* Đối tượng áp dụng:
Là các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kế xây dựng, tin học và chuyển giao công nghệ,
có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 5 năm liền kề trước khi cổ phần
hoá cao hơn lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm tại thời điểm gần nhất với
thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
* Căn cứ xác định giá trị doanh nghiệp
- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kề trước khi xác định giá trị
doanh nghiệp.
- Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần hoá từ 3 năm
đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần.
- Lãi suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 05 năm tại thời điểm gần nhất với thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp và hệ số chiết khấu dòng tiền của doanh nghiệp.
- Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao.
* Phương pháp tính:
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
D
i
: Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức năm thứ i.
n : Là số năm tương lai được lựa chọn (3 - 5 năm).
P
n
: Giá trị phần vốn nhà nước năm thứ n và được xác định theo công thức:
D
n+1
Pn =
K – g
D
n+1
: Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức dự kiến của năm thứ n+1
K : Tỷ lệ chiết khấu hay tỷ lệ hoàn vốn cần thiết của các nhà đầu tư khi mua cổ phần
và được xác định theo công thức:
K = R
f
+ R
p
R
f
: Tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro được tính bằng lãi
suất của trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 5 năm ở thời điểm gần nhất với thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp.
R
p
: Tỷ lệ phụ phí rủi ro khi đầu tư mua cổ phần được xác định theo bảng chỉ số phụ
phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niên giám định giá hoặc do các công ty định giá xác
định cho từng doanh nghiệp nhưng không vượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các
Cách tính toán giá trị doanh nghiệp như vậy, về thực chất là sự lựa chọn phương án đầu tư
tối ưu. Do đó, giá trị doanh nghiệp tính toán sẽ là mức giá cao nhất mà người đầu tư đa số
có thể trả. Với mức giá đó đã phản ánh chi phí cơ hội đối với ngừơi mua – nó đã thể hiện
những tính toán về lợi ích tối đa mà doanh nghiệp có thể đem lại theo những dự kiến của
nhà đầu tư đa số. Do đó, đây có thể là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khó có
thể thay thế được dưới góc nhìn về lợi ích của nhà đầu tư đa số.
- Ngoài ra, phương pháp này còn có ưu điểm là xem xét giá trị doanh nghiệp trong
trạng thái động, vì : công thức tổng quát được xây dựng đòi hỏi phải đề cập và lượng hóa
tòan bộ các yếu tố tác động tới giá trị doanh nghiệp, như : Doanh thu, chi phí, thuế thu
nhập, vốn đầu tư, chu kỳ đầu tư, giá trị cuối cùng và tỷ suất hiện tại hóa. Tức là, nó đã chỉ
ra những cơ sở để mỗi nhà đầu tư có thể tùy ý mà phát triển những ý tưởng của mình nếu
sở hữu doanh nghiệp. Công thức tổng quát đưa ra đã hàm chứa một điều rằng giá trị doanh
nghiệp có thể thay đổi rất lớn thùy theo những trù định của từng nhà đầu tư.
* Hạn chế của phương pháp
- Giống như phương pháp hiện tại hóa lợi nhuận thuần và phương pháp định giá
chứng khoán, việc ứng dụng phương pháp này cũng gặp phải khó khăn khi ước lượng tỷ
suất hiện tại hóa i và chu kỳ đầu tư (n). Bên cạnh đó, việc dự báo thêm các « dòng tiền
vào » và « dòng tiền ra » như : khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận thuần, vốn đầu tư lại
càng làm phức tạp thêm vấn đề.
- Đối với các doanh nghiệp nhỏ không có chiến lược kinh doanh hoặc có chiến lược
kinh doanh không rõ ràng thì phương pháp này mang nhiều tính lý thuyết.
- Phương pháp hiện tại hóa dòng tiền thuần đòi hỏi người đánh giá phải có năng lực
chuyên môn trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư, mà điều này thì không phải nhà đầu tư
nào cũng có.
- Để phương pháp này trở thành hiện thực còn đòi hỏi một lượng thông tin lớn để
đánh giá các yếu tố môi trường vĩ mô, vi mô, các yếu tố bên trong và bên ngòai tác động
đến doanh nghiệp. Các thông tin đó cung cấp phải đạt được sự tin cậy ở mức độ cần thiết.
Đó là điều kiện khó có thể đáp ứng được, nhất là trong điều kiện hiện nay đối với các
doanh nghiệp ở Việt Nam.
Kết luận: Từ những phân tích trên ta thấy rằng, xác định giá trị doanh nghiệp là hoạt
điều lệ của doanh nghiệp cổ phần hóa, từ đó xác định số cổ phần sẽ bán cho các đối tượng
cổ đông khác nhau. Bên cạnh đó, việc xác định thành công giá trị doanh nghiệp còn là điều
kiện để tiến hành các giai đoạn khác trong tiến trình cổ phần hóa như: xây dựng phương án
cổ phần hóa, tư vấn niêm yết, phát hành, đại hội cổ đông....
Ngòai ra, việc thực hiện tốt công tác định giá doanh nghiệp còn là một sự khẳng định
về trình độ, tính chuyên nghiệp và khả năng chuyên môn của công ty chứng khóan. Từ đó,
góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế của công ty trong nền kinh tế.
Đối với mỗi chủ thể khác nhau trên thị trường thì việc tiếp cận giá trị doanh nghiệp
cũng với những mục đích khác nhau.
Đối với chủ sở hữu: Việc xác định giá trị doanh nghiệp sẽ giúp chủ sở hữu biết rõ
được giá trị thực tế của doanh nghiệp, từ đó họ có thể lập các kế hoạch, chiến lược phát
triển trong tương lai cho doanh nghiệp
Vấn đề chia tách sát nhập cổ phần hoá hoặc huy động vốn cũng trở lên thuận lợi hơn
rất nhiều.
Đối với nhà đầu tư: Với bất kỳ một nhà đầu tư nào trên thị trường họ luôn mong
muốn đồng vốn đầu tư của mình không những được bảo toàn mà còn phải có lãi với từng
mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau. Tại cùng một mức rủi ro họ luôn muốn nhận được
mức lợi nhuận cao nhất. Do đó, việc định giá doanh nghiệp là một cơ sở quan trọng cho
nhà đầu tư ra các quyết định của mình. Nhà đầu tư sẽ trả lời được các câu hỏi : Có nên đầu
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
8
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
tư vào doanh nghiệp này hay không? Mức giá là bao nhiêu thì phù hợp? Bên cạnh đó
những thông tin nhận được trong quá trình định giá sẽ giúp nhà đầu tư dự đoán được một
phần tiềm năng phát triển của công ty trong tương lai.
Đối với các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường: Một trong những cơ sở quan
trọng để các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường hay các chủ nợ, bạn hàng của
doanh nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn hoặc hợp tác làm ăn, đầu tư vào doanh nghiệp là:
xem xét khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tuơng lai cũng như khả năng phát triển
bền vững của doanh nghiệp. Quá trình xác định giá trị doanh nghiệp sẽ cung cấp rất nhiều
Agriseco hoạt động với tư cách là công ty cổ phần, hứa hẹn nhiều thay đổi lớn cả về chiều
sâu lẫn chiều rộng. Mặc dù, đón nhận những khó khăn chung của nền kinh tế trong cả năm
2009, mục tiêu lớn nhất của năm đầu tiên vẫn là hoạt động kinh doanh tiếp tục có lãi.
Qua hơn 8 năm xây dựng và phát triển, Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân Hàng
Nông nghiệp đã khẳng định được vị thế lớn mạnh của mình trên thị trường, vốn điều lệ
tăng lên đến 1200 tỷ đồng và là công ty chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam cung cấp sản
phẩm và dịch vụ REPO ra thị trường chứng khoán Việt Nam; Nhận Giải thưởng “Thương
hiệu Chứng khoán Uy tín” của Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Việt Nam. Quy mô hoạt
động cũng không ngừng được mở rộng, tính đến hết năm 2008, Agriseco đã đưa vào hoạt
động 45 Đại lý nhận lệnh trên toàn quốc. Trước mắt, các Đại lý nhận lệnh thâu tóm và đa
dạng hoá khách hàng của công ty tại các tất cả địa phương, đáp ứng nhu cầu đầu tư của
công chúng. Về lâu dài, đây sẽ là các đầu mối cho công cuộc chứng khoán hoá những
doanh nghiệp nhỏ và vừa có tiềm năng tại chính các địa phương đó – đem lại nguồn lợi
khổng lồ cho Agriseco. Agriseco đã thực sự trở thành một công ty đại chúng trong bối
cảnh Việt Nam đã chính thức hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty:
Mô hình tổ chức công ty bao gồm 02 khối là khối kinh doanh và khối văn phòng và
01 chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh; 1 chi nhánh tại Tp. Đà Nẵng.
- Khối kinh doanh bao gồm: bộ phận Tư vấn tài chính thực hiện nghiệp vụ tư vấn
tài chính, bảo lãnh phát hành; bộ phận môi giới thực hiện nghiệp vụ môi giới; bộ phận tự
doanh thực hiện nghiệp vụ tự doanh và bộ phận phân tích thực hiện nghiệp vụ phân tích.
- Khối văn phòng bao gồm: bộ phận Phát triển kinh doanh thực hiện nghiên cứu
phát triển sản phẩm, quan hệ quốc tế thực hiện hoạt động marketing và PR; bộ phận Kế
hoạch - Tổng hợp thực hiện công tác hành chính tổng hợp, quản trị văn phòng, quản trị
nhân sự, tổng hợp kế hoạch; bộ phận kế toán thực hiện công tác tài chính kế toán; bộ phận
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
10
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
Dịch vụ khách hàng cung cấp các dịch vụ tiện ích hỗ thợ khách hàng; bộ phận IT thực hiện
công tác tin học, quản trị hệ thống.
2.1.4.2 Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính củaAGSC:
Về doanh thu: Năm 2008 là năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chịu ảnh hưởng của
nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, thậm chí phá sản.
Dù vậy, AGSC đã không ngừng nỗ lực để đảm bảo về Doanh thu có lãi, Doanh thu 2008
đạt trên 363 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt trên 31 tỷ đồng. Trong khi theo báo cáo của
Hiệp Hội Kinh Doanh Chứng Khoán Việt Nam (VASB) năm 2008 có đến 80% các công ty
Chứng Khoán hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ. Từ bảng biểu số 1 và 2 ta có thể thấy
Doanh thu năm 2008 giảm 119 tỷ đồng tương ứng 25% so với năm 2007, điều này là dễ
hiểu vì dấu hiệu suy giảm của nền kinh tế gây ra tâm lý rụt rè cho nhà đầu tư vì vậy năm
2008 chỉ có doanh thu tư vấn tăng còn lại tất cả đều giảm. Bên cạnh đó chi phí 2008 cũng
giảm tương đương với sự sụt giảm của doanh thu, chứng tỏ đứng trước khó khăn của nền
kinh tế AGSC đã có những phương án cắt giảm chi phí hiệu quả.
Năm 2009 cùng với dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế thế giới, Doanh thu 2009 tăng
330 tỷ đồng so với 2008. Từ bảng biểu số 1, ta thấy Tổng doanh thu năm 2009 gấp hơn 2
lần doanh thu của cả năm 2008. Không thể phủ nhận một thực tế rằng: sự tăng trưởng đó
nằm trong xu hướng tăng trưởng nói chung của tất cả các công ty chứng khoán, khi mà thị
trường chứng khoán Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển ấn tượng, đặc biệt là trong
quý II/ 2009. Không chỉ về mặt lượng, công ty còn có những bước đi điều chỉnh về mặt
chất theo một cơ cấu doanh thu bền vững hơn. Từ chỗ coi hoạt động tư vấn bảo lãnh, phát
hành, tư vấn cổ phần hóa... là những nguồn thu chính, công ty đã dần triển khai một cách
hiệu quả các hoạt động môi giới, tự doanh. Đây được coi là hướng đi đúng đắn, đảm bảo
sự phát triển lâu dài và một vị thế vững mạnh cho công ty trên thị trường chứng khóan Việt
Nam trong tương lai.
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
12
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của Công ty những năm vừa qua
ĐVT: nghìn đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 2008 so với 2007 2009 so với 2008
Số tiền (+) tỷ lệ (+)% Số tiền (+) tỷ lệ (+) %
22,533,000 3,987,060 12,844,648 -18,545,940 -82 8,857,588 222
6 Doanh thu tư vấn đầu tư chứng khoán
cho người đầu tư
50,322 130,000 18,182 79,678 158 -111,818 -86
7 Doanh thu lưu ký chứng khoán
cho người đầu tư
65,000 32,815 -65,000 _ 32,815 _
8 Thu lãi đầu tư 226,370,000 162,997,240 312,188,851 -63,372,760 -28 149,191,611 92
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm của AGSC)
Do chi phí hoạt động của Công ty được tính chung cho toàn bộ hoạt động kinh doanh
của AGSC, không phân bổ cụ thể cho từng mảng dịch vụ nên trong bảng trên chỉ trình bày
ở đây kết quả kinh doanh qua các năm của Công ty.
Chi phí hoạt động qua các năm
Với đặc thù của một Công ty chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và môi
giới chứng khoán, chi phí của AGSC chủ yếu là chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán
và chi phí quản lý.
Công ty thực hiện kiểm soát các chi phí bằng việc đưa ra định mức chi tiêu đối với
từng hoạt động, khuyến khích CB.CNV có ý thức giữ gìn, bảo quản tốt tài sản và thiết bị
văn phòng, tiết kiệm chi phí hoạt động. Chi tiết chi phí hoạt động của Công ty qua các năm
như sau:
Bảng 3: Kết cấu chi phí
ĐVT: Nghìn đồng
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
13
Luận Văn Tốt Nghiệp ĐH Kinh Doanh và Công Nghệ
STT Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
2008 so với 2007 2009 so với 2008
Số tiền (+) tỷ lệ
(+) %
Số tiền
4 Chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Lợi nhuận sau thuế/DTT % 28 16.19 16.91
Lợi nhuận sau thuế/VCSH % 15 4 15.80
Lợi nhuận sau thuế/Tổng TS % 2 0.50 2.50
Lợi nhuận từ HĐKD/DTT % 35 6 22.55
( Nguồn: Báo cáo kiểm toán năm 2007, 2008,2009)
Các chỉ tiêu tài chính được chia làm bốn nhóm, đó là nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh
toán, nhóm chỉ tiêu về vòng quay tài sản, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn và cuối cùng là nhóm
chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
- Khả năng thanh toán: Hệ số thanh toán ngắn hạn và hệ số thanh toán nhanh của công
ty năm 2007 là 1,1; năm 2008 là 1,2; năm 2009 là 1,35 cho thấy trong ngắn hạn AGSC có đủ
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài
Nguyễn Tuyết Nhung MSSV: 06D13139N
14