Chỉ tiêu giám sát và đánh giá chi tiêu ngân sách nhà nước ở VN - Pdf 23

ĐỀ TÀI:
CHỈ TIÊU GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ
Sinh viên: Nguyễn Quỳnh Nga
Lớp: Anh 1 – KTĐN – K45B
MỤC LỤC
Chương III. Hoàn thiện hệ thống đánh giá và giám sát chi ngân sách Nhà nước
ở Việt Nam 61
Phụ lục 1. Khung theo dõi và đánh giá dựa trên kết quả tình hình thực hiện kế hoạch
phát triển 81
kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 81
Mục tiêu tổng quát 1: Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và tính
bền vững của sự phát triển, sơm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển 81
Chỉ số, chỉ tiêu 81
Mục tiêu tổng quát 2 - Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân
dân 87
Mục tiêu tổng quát 3 - Bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững 96
Mục tiêu tổng quát 4: tăng cường quản lý Nhà nước, xây dựng đồng bộ và hoàn thiện thể
chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 99
Phụ lục 2. Bảng tình hình và khả năng hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2006 -
2010 103
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
Chương I. Khái quát chung về chi tiêu ngân sách Nhà nước
I. Giới thiệu một số vấn đề
1. Khái niệm và bản chất ngân sách Nhà nước

nghiêm trọng. Bản thân nền kinh tế có thể tự phục hồi qua những biến cố đó,
nhưng quá trình tự vận động đó đòi hỏi thời gian cũng như những hy sinh
đáng kể. Để hạn chế điều này, ngăn ngừa khủng hoảng và kích thích phục hồi,
Nhà nước là một chủ thế đóng vai trò hết sức to lớn. Thông qua các chính
sách của mình, Nhà nước có thể tác động tích cực vào nền kinh tế về mặt định
hướng. Vũ khí sắc bén nhất của Nhà nước chính là ngân sách Nhà nước. Nói
như vậy là vì Nhà nước có thể dễ dàng điều chỉnh thu, chi ngân sách cho phù
hợp với thực tế và thay đổi thu, chi ngân sách cũng sẽ dễ dàng đưa đến những
biến đổi về mặt kinh tế theo đúng những quy luật thị trường.
Thêm vào nữa, việc xây dựng và phát triển đất nước luôn đòi hỏi những
khoản chi tiêu công. Vậy ai sẽ chấp nhận chi những khoản này? Dĩ nhiên
không một cá nhân nào tình nguyện chi trả hết những yêu cầu đó. Việc này
chỉ ra tính tất yếu của ngân sách Nhà nước. Chính việc điều chỉnh thu, chi
ngân sách sẽ là nguồn tài trợ cho những khoản chi tiêu công cộng này.
Vì vậy, một Nhà nước điều hành xã hội tốt là một Nhà nước biết cách
nắm bắt và vận dụng chính sách ngân sách một cách linh hoạt, phát huy được
những ưu điểm và hạn chế những bất cập còn tồn tại của thị trường.
1.2.2. Bản chất của ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Nhà
nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm
bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi
của ngân sách Nhà nước. Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước,
vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế xã hội là những yếu tố cơ bản
quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của ngân sách Nhà nước.
Trong thực tế nhìn bề ngoài hoạt động của ngân sách Nhà nước biểu
hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà
nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Các khoản thu chi này được
tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN

đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
3
►Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với các tầng lớp dân cư:
Quan hệ này được thể hiện qua việc một bộ phận dân cư thực hiện nghĩa vụ
tài chính đối với nhà nước bằng việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí. Một bộ
phận dân cư khác nhận từ ngân sách nhà nước các khoản trợ cấp theo chính
sách qui định.
►Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với thị trường tài chính:
Quan hệ này phát sinh khi nhà nước tham gia trên thị trường tài chính bằng
việc phát hành các loại chứng khoán của kho bạc nhà nước nhằm huy động
vốn của các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân
sách nhà nước.
Như vậy, đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của ngân sách Nhà
nước là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó thì Ngân
sách nhà nước lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối. Từ
sự phân tích trên cho thấy: Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh
tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo
lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước .
1.2.3. Chức năng của ngân sách Nhà nước
Với bản chất được phân tích như trên, ngân sách Nhà nước có thể coi là
một công cụ hiệu quả của Nhà nước với bốn chức năng cơ bản.
- Ngân sách Nhà nước có chức năng phân bổ trực tiếp
hay gián tiếp các nguồn tài chính quốc gia,
- Ngân sách Nhà nước có chức năng định hướng phát
triển sản xuất kinh tế xã hội,
- Ngân sách Nhà nước góp phần hình thành cơ cấu
kinh tế mới,

phương này sang địa phương khác. Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác
động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối. Do đó,
để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước phải
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
5
sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua
công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài
trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính. Đồng
thời, trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến
thị trường tiền tệ và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài
chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham
gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát
lạm phát.
Chúng ta có thể phân tích vai trò thứ nhất này của ngân sách Nhà nước
qua mô hình tổng cung, tổng cầu.
Mô hình tổng cung, tổng cầu AD – AS
Giả sử thị trường đang ở mức cân bằng tự nhiên Y
*
.
Hình 1.1.1. Mô hình tổng cung, tổng cầu khi có sốc cầu
Nếu trên thị trường xảy ra một cú sốc tiêu cực đối với tổng cầu, ví dụ
như niềm tin của người tiêu dùng giảm sút làm nhu cầu hàng hoá và dịch vụ
giảm mạnh, chi tiêu giảm. Trường hợp này đường tổng cầu dịch chuyển sang
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C

Để định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công
cụ thuế và chi ngân sách. Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân
sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất
khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và khuyến khích đầu tư.
Có thể giải thích vai trò này thông qua mô hình cung, cầu về vốn vay như
sau:
Mô hình cung, cầu về vốn vay – cân bằng thị trường tài chính
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
7
Mối quan hệ giữa cung, cầu vốn vay và lãi suất được thể hiện trong
hình dưới đây:
Hình 1.1.2. Cung, cầu trên thị trường vốn vay
►Tác động của chính sách tăng chi tiêu ngân sách Nhà nước
Khi chính phủ tăng chi tiêu một lượng ∆G, các yếu tố khác không đổi,
thì tại mức lãi suất hiện hành, tiết kiệm chính phủ giảm đúng một lượng ∆G.
Điều này làm cho đường cung dịch chuyển sáng trái một khoảng bằng ∆G
(S
1
). Tại mức lãi suất ban đầu, có hiện tượng dư cầu về vốn vay. Như vậy,
những người đi vay phải cạnh tranh nhau để có thể được vay vốn, đẩy lãi suất
lên cao tới mức r
1
. Kết quả của chính sách tăng chi tiêu của chính phủ, trong
điều kiện các yếu tố khác không đổi là làm trạng thái cân bằng của thị trường
vốn vay thay đổi, tăng lãi suất, làm giảm đầu tư tư nhân và tiết kiệm quốc
dân.
►Tác động của chính sách tăng thuế

chính sách để thực hiện mục tiêu khuyến khích tiết kiệm, đầu tư hoặc ngược
lại tuỳ theo nhu cầu từng thời kỳ.
Ngoài ra, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ
tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và
hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần
thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng đã định.
2.2.3. Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa
các tầng lớp dân cư
Nền kinh tế thị trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân
hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách
phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu
nhập trong dân cư. Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được
nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập
luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt
khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao. Bên
cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp,
chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh,
phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ
sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp .
3. Chi ngân sách Nhà nước
Chi tiêu công là việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực khu vực công
nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc
nhất định.
Quá trình phân bổ chính là việc quyết định và giao dự toán chi cho đơn
vị thuộc khu vực công. Quá trình sử dụng được thực hiện dưới hình thức dùng
tiền trong phạm vi dự toán để mua các yếu tố mang tính chất hàng hoá, dịch
vụ, chuyển giao hoặc trả nợ, nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước.
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân

Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
11
Với nhiều điều khoản và trách nhiệm vô cùng quan trọng của mình, chi
ngân sách không chỉ yêu cầu việc đưa ra những khoản thu hợp lý mà còn cần
sự giám sát chặt chẽ. Quản lý chi tiêu ngân sách chặt chẽ sẽ giúp Nhà nước
đưa ra những quyết định đúng đắn hơn, sát thực tế hơn.
II. Giám sát và đánh giá chi ngân sách Nhà nước thông qua các chỉ
tiêu
1. Tầm quan trọng của việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá chi ngân
sách Nhà nước
Trong nền kinh tề thị trường ngân sách nhà nước trở thành công cụ
quan trọng giúp nhà nước điều hành nền kinh tế xã hội. Hoạt động của ngân
sách nằm trong sự vận động của thị trường. Tạo nguồn thu cho ngân sách
phải gắn với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, các khoản chi của ngân
sách phải gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng
thời kỳ. Do đó, việc xác định cơ cấu thu chi của các cấp ngân sách phải dựa
trên những mục tiêu cụ thể, xác định.
Tuy nhiên, nếu chỉ có mục tiêu thôi thì chưa đủ đóng vai trò định
hướng cho kế hoạch, vì kế hoạch cần chỉ rõ như thế nào là đạt/vượt hay chưa
đạt mục tiêu đề ra. Muốn vậy, mục tiêu cần đi kèm với chỉ tiêu kế hoạch. Đó
là sự lượng hoá ý đồ kế hoạch thành một con số cần phấn đấu đạt đến tại một
thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch. Đặc biệt, chi tiêu ngân sách không
phải là việc chi tiêu vì một hay một bộ phận cá nhân nào mà vì lợi ích toàn
quốc gia nên đòi hỏi tính công khai, minh bạch cao. Chỉ tiêu chính là giải
pháp tối ưu nhất để thực hiện những yêu cầu này. Vì vậy, tìm ra phương pháp
xây dựng các chỉ tiêu này một cách hợp lý nhất là yếu tố hết sức quan trọng.
2. Phương pháp xây dựng các chỉ tiêu đánh giá chi ngân sách Nhà

thiếu vắng hệ thống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu.
Cách phân bổ ngân sách hiện nay không dựa trên nền tảng lí luận tài chính
Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, thiếu chiến lược rõ ràng, không cho
phép đạt được các mục tiêu mong muốn của Chính phủ ra.
Ngân sách soạn lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc
vừa không tiên đoán hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán.
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
13
Ngân sách năm sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không
xét tới việc có nên tiếp tục duy trì hoạt động đang được cung cấp tài chính
hay không. Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển
được soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Tính minh bạch và trách nhiệm không thực hiện nghiêm túc, một số khoản
mục chi được đưa vào thực hiện nhưng không công bố, đồng thời hạn chế sự
tham gia của xã hội trong quy trình ngân sách.
2.2. Phương pháp xây dựng các chỉ tiêu đánh giá chi ngân sách
Nhà nước dựa trên kết quả
2.2.1. Giới thiệu về phương pháp xây dựng chỉ tiêu đánh giá chi
ngân sách Nhà nước dựa trên kết quả
Trước sức ép về phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu của
xã hội về nâng cao chất lượng hàng hóa công cũng như nhận thấy những bất
cập của phương thức quản lý ngân sách cũ, Nhà nước phải đổi mới phương
thức quản lý và giám sát ngân sách dựa trên kết quả.
Quản lý và giám sát ngân sách dựa trên kết quả là một hoạt động quản
lý ngân sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và
đánh giá sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục
tiêu chiến lược phát triển của chính phủ. Quản lý và giám sát ngân sách dựa

Việc giám sát và đánh giá thực chất chính là xem xét sự hiệu quả trong
quá trình thực hiện. Do đó, nó phải được xây dựng dựa trên đầu ra và mục
đích, kết quả thực tế. Nhiều khi, chúng ta nhầm lẫn giữa hiệu suất và hiệu
quả. Hiệu suất chỉ xây dựng dựa trên đầu vào và đầu ra. Như vậy, nếu dựa
vào hiệu suất, có nghĩa là dựa trên đầu ra để điều chỉnh đầu vào là chưa đủ,
liệu rằng đầu ra đó đã phù hợp kết quả và mục đích chúng ta nhắm tới hay
chưa, và điều chỉnh như đầu vào làm đầu ra biến chuyển có phù hợp với kết
quả không hay ngược lại. Như vậy, chúng ta phải nhìn vào hiệu quả trước tiên
để đưa ra những điều chỉnh thích hợp nhất. Tuy nhiên, nói một cách chung
chung là hiệu quả phải tốt thì không có tính thực tế. Chúng ta cần dựa trên kết
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
Mục tiêu
Mục đích và
kết quả thực tế
Đầu ra
Hoạt động
Đầu vào
Nhu cầu của các bên tham
gia và kết quả mong đợi
Hiệu quả
Hiệu suất
Ảnh hưởng và
thích hợp
Bền
vững
16
quả, xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu thích hợp, như vậy quá trình giám

Trong quá trình quản lý, chúng ta sẽ thực hiện theo các bước sau đây:
1. Phân tích những vấn đề được đề cập; xác định nguyên nhân và tác động của
chúng;
2. Xác định các đối tượng liên quan và đối tượng hưởng lợi, bao gồm cả việc
xác định mục tiêu và biện pháp can thiệp cần thiết liên quan;
3. Xây dựng kết quả rõ ràng, cụ thể;
4. Xác định các chỉ số hiệu suất cho mỗi kết quả dự đoán;
5. Thiết lập mục tiêu và chỉ tiêu cho mỗi chỉ số, xác định mức dự kiến hay kế
hoạch của các kết quả cần đạt được trong từng giai đoạn cụ thể;
6. Phát triển một chiến lược bằng cách đưa ra mô hình khung làm thế nào để
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
17
đạt được các kết quả dự kiến, xác định phương thức hành động và tiến độ thực
hiện trong tương quan giữa khó khăn và cơ hội;
7. Cân bằng kết quả mong đợi và chiến lược dự kiến với nguồn lực sẵn có;
8. Quản lý và theo dõi tiến độ thực hiện mục tiêu dựa trên các hệ thống giám
sát hiệu suất theo dữ liệu của kết quả thực tế đạt được;
9. Báo cáo và tự đánh giá, so sánh kết quả thực tế với các mục tiêu đề ra; đánh
giá kết quả đạt được, những nguồn lực tham gia và sự cách biệt giữa kết quả
"mong đợi" và "đạt được";
10. Tổng hợp các bài học và kết quả tự đánh giá, dựa trên hệ thống giám sát lý
giải sự khác biệt giữa kết quả "mong đợi" và "đạt được";
11. Phổ biến và thảo luận về kết quả và bài học kinh nghiệm một cách minh
bạch;
12. Sử dụng hiệu quả thông tin thông qua quá trình giám sát và đánh giá cho
việc quản lý nội bộ và ra quyết định cũng như việc báo cáo cho các bên liên
quan về kết quả đạt được.

công và tính minh bạch, trách nhiệm. Quản lý ngân sách dựa trên kết
quả cho phép chính phủ và cơ quan đặt đúng quy trình thông tin cần
thiết nhằm:
+ Xác định cái gì sẽ đạt được ( kết quả mong muốn);
+ Xác định, chi tiết và đo lường (chi phí và số lượng) cái gì nên
được làm (các đầu ra được sản xuất/ hoặc mua sắm), sẽ được làm (các
đầu ra sẽ được sản xuất/ hoặc mua sắm);
+ Minh họa và kiểm tra mối liên hệ giữa cái gì được sản xuất/
mua sắm (các đầu ra) và cái gì sẽ đạt được ( các kết quả) so với cái gì
nên đạt được (các kết quả mong muốn);
+ Nguồn lực tài trợ cho các đầu ra cần thiết để đạt được các kết
quả mong muốn.
- Giám sát chi ngân sách dựa trên kết quả đặt chính phủ và các cơ quan
vào vị trí để đảm bảo rằng:
+ Các đầu ra theo yêu cầu để được tài trợ mà nó được xác định
thông qua những mối liên hệ được miêu tả với các kết quả;
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C
19
+ Các đầu ra theo yêu cầu được tài trợ ở những mức độ khối
lượng, giá cả và chất lượng cụ thể;
+ Các đầu ra hướng tới mục tiêu và được cung cấp trong khuôn
khổ thời gian yêu cầu.
2.2.4. Những điểm khác nhau giữa phương thức quản lý ngân
sách theo khoản mục và theo kết quả
Nhìn chung, phương thức xây dựng chỉ tiêu chi ngân sách Nhà nước
theo kết quả có thể được nhận biết dễ dàng khi so sánh với phương thức cũ ở
những điểm khác biệt sau đây:

Một khi ngân sách được thiết lập thì không
có sự thay đổi những nhân tố đầu vào.
Sử dụng ngân sách đầu vào rất linh hoạt để
tạo ra các đầu ra với giá cả và chi phí hợp
lý.
Tập trung vấn đề vĩ mô ngắn hạn, lập ngân
sách ngắn hạn, có sự tách rời giữa chi
thường xuyên và chi đầu tư.
Phát triển khuôn khổ trung hạn. Ngân sách
được lập trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa chi
thường xuyên và chi đầu tư trong một khuôn
khổ chi tiêu trung hạn.
Liên kết giữa chính sách, lập kế hoạch và
ngân sách rất yếu.
Liên kết giữa chính sách, lập kế hoạch và
ngân sách rất chặt chẽ.
Sự kiểm soát ngân sách thông qua đánh giá
các nhân tố đầu vào được mua sắm trong
giới hạn ngân sách.
Ngân sách được kiểm soát bằng khối lượng
thanh toán cho mỗi đầu ra phù hợp với kế
hoạch phân bổ ngân sách đã được thông
qua.
Người quản lý không có thông tin về kết quả
đầu ra trong quá trình lập kế hoạch ngân
sách.
Các cơ quan nhà nuớc quản lý ngân sách
được cung cấp thông tin đầu ra và báo cáo
kết quả thực tế đạt được. Chính phủ có được
thông tin đầu ra của các đơn vị, cơ quan và

khi quyết định thay đổi những vấn đề cơ bản của quá trình này, như phương
pháp hay cách thức thực hiện cần nghiên cứu kĩ lưỡng, không phải mô hình
tốt với nước này sẽ có thể áp dụng thành công với nước khác.
Thứ ba, phải phân biệt được các khái niệm đầu ra, đầu vào, kết quả và
mối liên hệ giữa chúng. Đây là một vấn đề tương đối phức tạp vì các khái
niệm đó chỉ mang tính tương đối, đôi khi một vấn đề là đầu vào quá trình này
nhưng lại là đầu ra hay kết quả của quá trình khác. Do đó, khi vận dụng
phương pháp này luôn luôn phải gắn với mục tiêu tổng quát để nhận biết được
yêu cầu đặt ra. Đồng thời, khi đo lường kết quả thực hiện phải sử dụng nhiều
chỉ số để phản ánh được toàn diện và đầy đủ. Những chỉ số đó phải được lựa
chọn cẩn thận, rõ ràng và phải liên kết, hỗ trợ được cho nhau thì kết quả mới
chính xác và có ý nghĩa.
Thứ tư, phải xây dựng được mô hình rõ ràng, chi tiết cho hệ thống đánh
giá. Quá trình xây dựng đương nhiên sẽ khó khăn và phức tạp, nhưng chỉ có
xây dựng được tốt thì các hoạt động sau này mới dễ dàng và minh bạch được.
Những cán bộ xây dựng chỉ tiêu là những người am hiểu về phương pháp xây
dựng, nhưng họ không phải là lực lượng trực tiếp các hoạt động đó. Những
người thực hiện có thể là các cán bộ, công nhân viên hay cả những người
không thuộc tầng lớp trí thức, họ chỉ có thể hoàn thành tốt công việc của mình
khi có một hướng dẫn rõ ràng, cụ thể. Để làm tốt quá trình này, các cán bộ
xây dựng chỉ tiêu có thể tham khảo kinh nghiệm từ các nước, xây dựng mô
hình thử nghiệm và tranh luận, thảo luận công khai.
Thứ năm, quá trình thực hiện phải không ngừng tiếp nhận phản hồi từ
công chúng. Những phản hồi này là tư liệu quí giá cho các nhà hoạch định
chính sách, vì công chúng chính là đối tượng chi ngân sách hướng tới. Tuy
nhiên, quá trình tiếp nhận phải được thực hiện rông khắp, đầy đủ từ nhiều
Xây dựng chỉ tiêu giám sát và
đánh giá chi tiêu NSNN ở VN
Nguyễn Quỳnh Vân
Nhật 1–KTĐN-K45C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status