Trình bày đặc điểm một bản hợp đồng kinh tế và chứng minh những đặc điểm đó qua một bản hợp đồng cụ thể - Pdf 23

Mở đầu
ở nớc ta hiện nay, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần, phát
triển bình đẳng, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong việc xây dựng và
thực hiện kế hoạch của mình, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế
đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế chính là
quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ hợp pháp tất yếu mà tất cả các đơn vị kinh
tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải thực hiện.
Để thực hiện chức năng kinh tế của mình, Nhà nớc ta luôn luôn chú ý
đến việc điều chỉnh pháp lý các hoạt động kinh tế của các đơn vị kinh tế,
trong đó việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế là một nội dung hết
sức quan trọng.
Với công cuộc đổi mới nền kinh tế nh hiện nay cũng nh đổi mới pháp
luật về hợp đồng kinh tế, em đã chọn đề tài: "Trình bày đặc điểm một bản
hợp đồng kinh tế và chứng minh những đặc điểm đó qua một bản hợp
đồng cụ thể ".
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận của em gồm 2 phần
chính sau:
Phần I. Đặc điểm của một bản hợp đồng kinh tế
Phần II. Trình bày một bản hợp đồng cụ thể mà em biết.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhng đây là một
đề tài khó, đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có trình độ hiểu biết rộng về mọi
lĩnh vực liên quan đến hợp đồng kinh tế. Với trình độ còn hạn hẹp của một
sinh viên, chắc chắn bài tiểu luận của em sẽ còn nhiều thiết sót, em kính
mong các thầy cô giáo và các bạn sẽ bổ sung thêm ý kiến để bài tiểu luận của
em đợc hoàn thành tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Phần I
Những vấn đề lý luận chung về
hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế

có t cách pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng
ký kinh doanh.
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài
sản đó;
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thành
nguyên đơn, bị đơn trớc tòa án;
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật là ngời
đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nớc chính sách thẩm quyền theo đúng
thủ tục pháp luật qui định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh (giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh).
Ngoài ra, theo các qui định tại Điều 42,43, Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, những ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia
đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, tổ chức và cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam
khi ký kết hợp đồng với một pháp nhân Việt Nam cũng đợc áp dụng các qui
định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý hiện có
quan điểm cho rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có mục đích kinh
doanh, vì vậy, nó phải đợc thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh - chủ yếu là
giữa các doanh nghiệp với nhau.
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, mỗi bên tham gia quan hệ hợp
đồng chỉ cần cử một đại diện để ký vào hợp đồng kinh tế. Nếu là pháp nhân
thì ngời ký hợp đồng phải là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đợc bầu vào chức vụ
đứng đầu của pháp nhân và hiện đang giữ chức vụ đó. Nếu là cá nhân có
3
đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật thì ngời ký hợp đồng phải là
ngời đứng tên trong giấy phép kinh doanh (đã đăng ký kinh doanh theo đúng
qui định của pháp luật và đợc cấp giấy phép kinh doanh).
Trong trờng hợp một bên là ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật,

3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế đợc chia thành nhiều loại khác nhau, dựa trên
những căn cứ khác nhau nh sau:
a) Căn cứ vào tính chất hàng hóa - tiền tệ của mối quan hệ kinh tế,
hợp đồng kinh tế đợc chia làm hai loại, đó là:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù: Là loại hợp đồng mà
theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tơng xứng với nhau trong trao đổi
hàng hóa, thực hiện dịch vụ và thanh toán. Bản chất của quan hệ hàng hóa -
tiền tệ là quan hệ ngang giá, vì vậy, trong loại hợp đồng này tính chất cân đối
về quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đợc thể hiện. Loại hợp đồng này phản
ánh trực tiếp mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ và thờng xuyên đợc sử dụng
trong các lĩnh vực mua bán vật t, tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu khoa học,
vận chuyển hàng hóa, xây dựng cơ bản và các lĩnh vực kinh doanh khác.
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức: Là loại hợp đồng mà theo đó,
trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, các chủ thể kinh tế
thỏa thuận thành lập ra một tổ chức kinh tế mới để thực hiện mục đích chung
của họ. Tổ chức kinh tế mới này chỉ hoạt động trong phạm vi thỏa thuận giữa
các chủ thể.
Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức không phản ánh trực tiếp mối
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, nó đợc ký kết nhằm thực hiện các mục tiêu của
liên kết kinh tế. Với tính chất tổ chức của nó, loại hợp đồng này không chỉ có
hai bên chủ thể mà có nhiều chủ thể cùng tham gia. Các chủ thể này không
có sự phân biệt về quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý.
Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định.
Thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các qui chế hoạt động của từng tổ chức
liên kết, các bên ký kết tiến hành phân công sản xuất, chuyên môn hóa và
hợp tác hóa nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị liên kết, góp phần
nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm, hiệu quả kinh tế hoặc tạo ra thị tr-
ờng chung nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, tạo cho nhau có khoản thu nhập cao
nhất, đồng thời tăng thu cho ngân sách nhà nớc.

* Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu pháp lệnh: Là loại hợp đồng
kinh tế đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện giữa các chủ thể. Việc ký kết và
thực hiện loại hợp đồng này là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh tế,
không một tổ chức, cá nhân hay cơ quan nào đợc áp đặt ý chí của mình đối
với các chủ thể hợp đồng. Việc ký kết loại hợp đồng này không phải căn cứ
vào các chỉ tiêu pháp lệnh nhng nó vẫn là cơ sở để xây dựng kế hoạch và là
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status