BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Kim Loang BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010 1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây tiêu là cây công nghiệp lâu năm có giá trị kinh tế cao, giữ vị trí quan
trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp. Trong những năm gần ñây diện tích
hồ tiêu ngày càng ñược mở rộng và trồng tại nhiều vùng ở nước ta.
Theo ñịnh hướng phát triển cây hồ tiêu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ñến năm 2010 thì diện tích hồ tiêu của nước ta khoảng 42.000 ha, sản
lượng khoảng 70.000 - 80.000 tấn tiêu ñen. Tuy nhiên, ñến năm 2004, diện tích
trồng tiêu của cả nước ñã lên ñến trên 50.000 ha với sản lượng trên 85.000 tấn,
theo hướng bền vững tại ĐắkLắk”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Xác ñịnh các biện pháp kỹ thuật chủ yếu, ñặc biệt là trong quản lý bệnh
hại tiêu ñể góp phần ổn ñịnh năng suất và ñảm bảo tính bền vững trong canh tác
hồ tiêu tại ĐắkLắk.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học
Các kết quả ñề tài là cơ sở cho các nghiên cứu sau này về canh tác bền
vững cây hồ tiêu tại ĐắkLắk.
- Ý nghĩa thực tiễn
Giúp cho nông dân tại ĐắkLắk sản xuất tiêu bền vững
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do thời gian có hạn nên ñề tài chỉ tập trung ñiều tra, nghiên cứu tại xã Ea
H’Leo - huyện Ea H’Leo và xã Ea B’Hôk - huyện Cư Kuin tỉnh ĐắkLăk.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY HỒ TIÊU
1.1.1. Điều kiện khí hậu
* Phân bố ñịa lý
Hồ tiêu mọc hoang ở rừng thường xanh nhiệt ñới bang Tây Ghats và vùng
phụ cận, thường là ở vùng ñồng bằng và ít khi ñược tìm thấy ở ñộ cao trên
1500m. Ở vùng Châu Á-Thái Bình Dương, hồ tiêu ñược trồng nhiều ở Ấn Độ,
Hải Nam (Trung Quốc), Indonesia, Malaysia, Sri Lanka, Thái Lan, Việt Nam và
một ít ở Campuchia. Ngoài vùng này hồ tiêu còn ñược trồng phổ biến ở Brazil và
Madagascar [55]. Ngay cả ở vùng nhiệt ñới, cây tiêu thường ñược trồng tập
trung ở những nơi có khí hậu nóng, ẩm. Yêu cầu ñặc trưng về mặt khí hậu của
cây hồ tiêu là lượng mưa khá, nhiệt ñộ không thay ñổi nhiều, ẩm ñộ cao, ñộ dài
Hồ tiêu thích hợp trong ñiều kiện mưa ñều, lượng mưa hàng năm trong
khoảng 1.000 - 3.000 mm, lượng mưa lý tưởng cho cây tiêu sinh trưởng và phát
triển là 1.250 - 2.500 mm, tuy nhiên cây tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình
thường trong vùng ít mưa nhưng phân bố ñều. Phân bố lượng mưa, tình trạng
thoát nước và khả năng giữ ẩm của ñất ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu
hơn là tổng lượng mưa. Lượng mưa khá là ñiều thuận lợi nếu ñất thoát nước tốt,
ngược lại tiêu dễ bị bệnh. Khô hạn cũng là một yếu tố giới hạn sinh trưởng và
phát triển của cây tiêu [17].
* Ẩm ñộ
Khí hậu nóng ẩm là ñiều kiện thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của
cây tiêu nhưng ẩm ñộ cao liên tục lại hạn chế sinh trưởng cây tiêu và tạo ñiều
kiện cho sâu bệnh phát sinh. Cây tiêu chịu ñược ẩm ñộ khoảng 63 % trong mùa
khô và 98 % trong mùa mưa [55].
* Ánh sáng
Tiêu là cây ưa bóng trong giai ñoạn cây con, ánh sáng tán xạ thích hợp
cho yêu cầu sinh trưởng, phát dục và phân hoá mầm hoa. Giai ñoạn tiêu ra hoa
ñậu quả, nuôi quả ñến khi quả chín cây tiêu cần nhiều ánh sáng [17], [22]. Việc
có ñủ ánh sáng trong giai ñoạn nuôi quả giúp giảm rụng quả non và tăng dung
trọng hạt tiêu [61].
* Chế ñộ gió: Cây tiêu thích hợp với môi trường lặng gió và gió nhẹ.
1.1.2. Điều kiện ñất ñai
Theo Phan Hữu trinh và cộng sự (1988) [22], Phan Quốc Sủng (2000)
[17] và Sadanandan (2000) [55] ñất thích hợp cho cây tiêu cần có các ñặc tính:
* Lý tính: Tầng ñất canh tác trên 80 cm, có mực nước ngầm sâu trên 2 m,
tơi xốp, có khả năng giữ nước tốt, thành phần cơ giới từ nhẹ ñến trung bình, dễ
thoát nước vào mùa mưa;
* Hoá tính: pH 5,5 - 6,5, tối thiểu 4,5 nhưng cần bón vôi ñể nâng lên trên
5, giàu N, K và Mg, khả năng trao ñổi cation ở mức 20 - 30 meq/100g ñất, tỉ lệ
5
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
6
Ravindran và cộng sự ñã tiến hành phân tích hợp phần chính (principal
component analysis) ñể phân ñịnh nhóm giống hồ tiêu, xác ñịnh ñược tám hợp
phần chính bao gồm:
1. Chỉ số kích thước lá, chiều dài lá, chiều rộng lá
2. Độ dày lá, ñộ dày biểu bì dưới lá, ñộ dày biểu bì trên lá
3. Tỉ lệ chiều dài lá/chiều dài gié, chiều dài gié, chiều dài cuống gié
4. Chiều dài và chiều rộng tế bào bảo vệ (guard cell)
5. Kích thước quả và hình dạng quả
6. Hình dạng lá và phía gốc lá
7. Tần suất khí khổng và mật ñộ diệp lục
8. Hình dạng lá ở cành cho quả và hình dạng lá ở cành bò (dây lươn)
Trong 51 giống ñược phân tích, kết quả cho thấy có 28 giống nằm chung
một nhóm, và ñiều ñáng lưu ý là Panniyur 1 nằm vào một nhóm riêng (trích dẫn
từ Ravindran và cộng sự, 2000) [53].
Kết quả ñiều tra trong sản xuất ñược tiến hành bởi Viện Nghiên cứu cây
Gia vị Ấn Độ cho thấy chỉ riêng ở Ấn Độ ñã có 38 giống tiêu ñược trồng phổ
biến và 63 giống khác ñược phát hiện [42].
Viện Nghiên cứu Gia vị Ấn Độ ñã tiến hành chương trình tuyển chọn và
lai tạo giống hồ tiêu từ năm 1953 với mục ñích chọn tạo ñược các giống tiêu có
khả năng cho năng suất cao và kháng ñược sâu bệnh. Viện ñã ñưa vào sản xuất
giống tiêu lai Panniyur-1 cho năng suất cao và chống chịu tốt bệnh chết nhanh,
và ñang khu vực hoá hai giống Panniyur-2 và Panniyur-3. Hiện IISR ñang trồng
bảo quản và theo dõi tập ñoàn 2.300 ký hiệu giống bao gồm cả 940 ký hiệu tiêu
hoang dại [43].
Sim và cộng sự (1993) cho biết có ba giống tiêu ñược trồng nhiều ở
Malaysia, trong ñó Kuching là giống ñược trồng phổ biến nhất, cho năng suất
khá cao nhưng dễ nhiễm bệnh chết nhanh (do nấm Phytophthora sp.). Năm 1988
Vĩnh Linh và giống cũng tỏ ra thích nghi với khí hậu vùng này, có nhiều ưu ñiểm
về sinh trưởng, năng suất và chống ñỡ bệnh tật hơn giống Quảng Trị [26].
Theo Trần Văn Hoà và cộng sự, (2001) [7] các giống tiêu có triển vọng
8
phát triển ở nước ta gồm giống Sẻ ñịa phương vùng Đông Nam Bộ, các giống
nhập từ Campuchia qua ñường Hà Tiên là Sréchéa, Kamchay, Kampot, Kep,
giống Lada Belangtoeng từ Indonesia và Panniyur-1 từ Ấn Độ.
Khi nói ñến triển vọng cây tiêu xuất khẩu ở Miền Nam Việt Nam, Tappan
(1972) khuyến cáo nên du nhập bốn giống có ưu thế, gồm Balancotta và Kalluvalli
gốc Ấn Độ cho năng suất cao và hạt lớn, Kuching gốc Malaysia cho năng suất
cao, Lada Belangtoeng gốc Indonesia sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt bệnh
thối rễ. Chỉ trừ giống Lada Belangtoeng ñược nhập vào trồng khảo nghiệm ở
nhiều vùng trong nước, các giống khác chưa ñược quan tâm nhập nội khảo sát một
cách chính thức (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Các giống tiêu ñược trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do
nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống ñịa phương hoặc du nhập từ ñịa phương
khác, giống thường mang tên ñịa phương có trồng nhiều hoặc ñịa phương xuất
xứ, do vậy có khi một giống tiêu ñược mang nhiều tên khác nhau, nhiều
giống/dòng tiêu khác nhau lại mang cùng một tên. Các giống ñược trồng phổ
biến có thể phân thành ba nhóm dựa trên các ñặc tính hình thái, chủ yếu là kích
cỡ lá [21]:
1) Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu sẻ, gồm phần lớn các giống tiêu ñược trồng
phổ biến ở nhiều ñịa phương, trong ñó có các giống: Vĩnh Linh (Quảng Trị),
Tiêu Sơn (Gia Lai), Di Linh (Lâm Đồng), Sẻ Đất ñỏ (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú
Quốc (Kiên Giang), Nam Vang (nhập nội từ Campuchia, gồm ba giống
Kamchay, Kep và Kampot).
2) Tiêu lá trung bình gồm chủ yếu các giống tiêu nhập nội từ Madagascar,
Ấn Độ và Indonesia như: Lada Belangtoeng, Karimunda, Panniyur và Kuching.
3) Tiêu lá lớn còn gọi là tiêu trâu như các giống Sẽ mỡ, Trâu Đất ñỏ
với cây trụ sống như keo dậu, cây gòn và cây ăn quả. Ở Sarawak (Malaysia), tiêu
ñược trồng chủ yếu với trụ gỗ (thường ñược gọi là gỗ thép Borneo), hiện ñang có
chương trình khuyến khích dùng trụ sống thay cho trụ gỗ (trích dẫn từ Nguyễn
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Tại những vùng trồng tiêu lâu ñời ở Việt Nam nông dân thường ưa sử
10
dụng trụ gỗ vì cho rằng tiêu leo bám dễ dàng, không bị cạnh tranh về nước, dinh
dưỡng, ánh sáng như khi trồng trụ sống và không bị nóng làm tiêu tàn lụi sớm
như khi trồng với trụ bê-tông hoặc bồn gạch xây. Tuy vậy, thực tế sản xuất hiện
nay cho thấy tiêu có thể ñạt ñược năng suất cao trên tất cả các loại trụ, miễn là có
chế ñộ chăm sóc phù hợp. Các loại trụ sống rất phong phú như vông (Erythrina
spp.), keo (Leucena leucocephala), lồng mức (Wrightia annamensis), ñỗ quyên
(Glyricidia sepium), mít (Artocarpus heterophyllus), muồng cườm (Adenanthera
povonina), cóc rừng (Spondias pinnata) và gòn (Ceiba spp.) ñang ñược sử dụng ở
nhiều vùng trồng tiêu trọng ñiểm hiện nay như Đăk Lăk, Bình Phước, Quảng Trị
và Phú Yên. Đặc biệt ở Quảng Trị do có gió Lào khô nóng, cây trụ sống tỏ ra ñặc
biệt thích hợp cho việc trồng tiêu, các thử nghiệm trồng tiêu trên trụ bê-tông và bồn
gạch không mấy thành công ở vùng này.
Kết quả ñiều tra của Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (2005) [15] cho thấy
tại ĐắkLắk, năng suất tiêu ñược trồng trên trụ sống không thua kém năng suất
tiêu trồng trên trụ gỗ. Trịnh Xuân Hồng (2000) [9] và Phan Quốc Sủng (2000)
[17] cũng cho thấy trồng tiêu trên trụ sống còn giảm ñược chi phí ñầu tư, chăm
sóc; mô hình trồng xen tiêu trong vườn cà phê với trụ sống của tiêu là cây che
bóng cho cà phê ngày càng ñược nhân rộng vì ñã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các kết quả ñiều tra của Đào Thị Lan Hoa (2000) [8] và Trần kim Loang (2006)
[10] cho thấy tỷ lệ cây tiêu bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá do tuyến trùng của
các vườn tiêu trồng trên trụ sống thấp hơn các vườn trồng trên trụ chết.
1.3.2. Phân bón
Ở các vùng trồng tiêu lớn trên thế giới, chế ñộ phân bón ñược khuyến cáo
-188kg K
2
O.
Theo Dierolf và cộng sự (2001) [35], liều lượng N-P-K cân bằng cho
vườn tiêu có năng suất 3 tấn/ha là 400N-200P
2
O
5
-500K
2
O kg/ha/năm, bón kèm
10 tấn phân hữu cơ và một lượng vôi nhất ñịnh. Nghiên cứu lượng phân bón cho
tiêu kinh doanh ở Bangka (Indonesia), Wahid và ctv. (1990) khuyến cáo sử dụng
phân hỗn hợp NPKMg 12-12-17-2 với lượng 400-600 g/trụ cộng với 500g
dolomit, bón mỗi năm hai lần là thích hợp hơn cả.
Theo tài liệu của tổ chức Krishiworld, tỷ lệ phân bón thích hợp bón cho
tiêu ñầu kinh doanh là 1 N - 1,6 P
2
O
5
- 0,6 K
2
O, ứng với mức bón 100-160-60
g/trụ/năm N-P
2
O
5
-K
2
O (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất ñiều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi
lượng ñến sự rụng gié quả và năng suất hồ tiêu cũng ñã ñược nhiều tác giả ñề
cập. Nồng ñộ thấp của chất 2,4-D kích thích quả tiêu phát triển. Phun IAA ở
nồng ñộ 50ppm, ZnSO
4
ở nồng ñộ 0,5% làm giảm rụng gié là 63,6% và 48,4%
so với ñối chứng không phun. Salvi và ctv. (1988) ñã ghi nhận rằng phun chất
ñiều hoà sinh trưởng làm giảm rụng gié, tăng trọng lượng quả và tăng hiệu quả
kinh tế [38]. Một nghiên cứu của IISR ñã chỉ ra rằng ñối với giống Subhakara và
Sreekara bón 150-60-270 kg/ha N-P
2
O
5
-K
2
O kết hợp với Zn, B và Mo theo tỷ lệ
5:1:2 ñã cho năng suất hồ tiêu cao hơn không bổ sung vi lượng [42].
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy: với mật ñộ tiêu 1.750
cây/ha, hàng năm cây tiêu lấy ñi từ ñất khoảng 115kg N, 5kg P
2
O
5
, 120kg K
2
O
và 20kg MgO. Do vậy các loại phân NPK tổng hợp có tỷ lệ 15-10-15, 18-12-18
và 18-6-18 là rất phù hợp trên cây tiêu.
Theo khuyến cáo của Chính phủ Brazil (IPEAN, 1996) (trích dẫn từ
Sadanandan, 2000) [55] lượng phân bón cho cây tiêu tùy thuộc vào khả năng
cung cấp dinh dưỡng của ñất, ñặc biệt là dinh dưỡng lân và kali biến ñộng rất lớn
Bảng 1.1 Khuyến cáo lượng phân bón cho cây hồ tiêu
Tuổi cây Phân chuồng
(kg/trụ)
N
(g/trụ)
P
2
O
5
(g/trụ)
K
2
O
(g/trụ)
Năm thứ 1
Năm thứ 2
Năm thứ 3
10-20
15-20
15-20
60
120
190
30
50
80
60
120
360
2
0
5
và 225kg K
2
0/ha/năm kết hợp với 40 m
3
phân chuồng và phun phân bón lá
Growmore 4 lần vào thời kỳ ra hoa ñậu quả. Nếu thiếu nguồn phân chuồng có
thể thay bằng các loại phân hữu cơ chế biến khác cũng có tác dụng tốt cho tiêu.
1.3.3. Tỉa cành tạo tán
Kỹ thuật tạo tán ñể trụ tiêu có ñược hình dáng thích hợp và có nhiều cành
mang quả là biện pháp kỹ thuật ñược quan tâm ở nhiều nước trồng tiêu. Tùy theo
vật liệu trồng ban ñầu là dây thân hay dây lươn (cành vượt) các biện pháp tạo hình
cho tiêu có thể khác nhau. Tiêu trồng bằng dây thân có thể dùng kỹ thuật cắt dây
ñể tạo hình trong khi ñó trồng bằng dây lươn thường ñược áp dụng kỹ thuật ñôn
dây.
Ở Malaysia, các nhà khoa học ñã khảo sát các kỹ thuật tạo hình theo ba
phương pháp gọi là Kuching, Sarikei và Semongok, trong ñó tiêu ñược cắt dây
thân một hay nhiều lần ñể tạo ñộ rậm rạp cần thiết. Sau bảy năm thí nghiệm, người
ta ñã kết luận không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các phương pháp tạo hình
mặc dù phương pháp Sarikei (dây thân ñược cắt một lần vào sáu tháng sau khi
trồng sau ñó nuôi ba dây thân mới từ dây ñược cắt) cho năng suất trội hơn cả.
Chong và Shahmin (1981) [30] chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa về
năng suất giữa các cây tiêu có 3, 4 hoặc 5 dây thân. Trong một thí nghiệm khác,
Chong và Yau (1985) [31] cho thấy trụ tiêu có năm dây thân cho năng suất cao
hơn bảy hoặc chín dây thân. Vì vậy số dây thân ñể lại cho một trụ tùy theo ñường
kính trụ, thường 3-5 dây.
Trong sản xuất hồ tiêu của nước ta hiện nay số dây thân ñược giữ lại trên
trụ tùy theo mật ñộ trụ, kích thước trụ và tập quán canh tác của mỗi vùng. Ở nhiều
Hệ thống vi tưới (micro-irrigation) ñược áp dụng từ thế kỷ 19 và phát
triển mạnh trong những năm 60 khi chất dẻo Polyethylene ñược ứng dụng rộng
rãi. Sau ñó, việc bón phân qua hệ thống tưới (fertigation) cũng ñược ứng dụng ở
16
các nước nông nghiệp phát triển nhằm tăng hiệu quả sử dụng và giảm chi phí
bón phân. Đây là kỹ thuật mũi nhọn giúp phát triển nông nghiệp ở những nơi gặp
khó khăn nguồn nước như ở Úc, Nam Phi và Trung Đông. Hiện nay hệ thống
tưới tiết kiệm nước này ñược một số nhà vườn trồng tiêu ở nước ta sử dụng trên
những khu vực khó khăn về nguồn nước tưới [24].
Mặc dầu tiêu là loại cây thân leo có bộ rễ ăn nông và phân bố hẹp nhưng
nhiều nước trên thế giới trồng tiêu không tưới nước vì có lượng mưa phân bố
tương ñối ñồng ñều trong năm, hơn nữa tập quán trồng tiêu dưới các loại cây
thân gỗ rậm rạp dẫn ñến năng suất thấp và không có nhu cầu về tưới nước cho
tiêu. Tuy vậy ở Ấn Độ, thời kỳ khô hạn dài là yếu tố hạn chế năng suất hồ tiêu.
Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cây gia vị Ấn Độ ñã kết luận tưới nhỏ giọt
với mức tưới 7 - 10 lít/ trụ/ ngày trong suốt mùa hè ñã làm năng suất tiêu tăng
200 %. Tưới theo chu kỳ 1 tuần 1 lần trong suốt thời kỳ khô hạn với lượng nước
100 lít/trụ cũng có kết quả tương tự [42]. Ở Thái Lan, tiêu ñược xem như là một
loại cây trồng có tưới (Sadanandan, 2000). Tại Việt Nam, hiện nay hầu hết các
vùng ñều trồng các giống tiêu có năng nuất cao và hầu như tất cả các vườn tiêu
ñều ñược tưới nước ñể ñạt ñược năng suất cao [21].
1.3.5. Phòng trừ sâu bệnh
Sâu bệnh là vấn ñề ñầu tiên mà bất cứ người sản xuất nào cũng phải quan
tâm khi muốn trồng tiêu. Thành phần sâu bệnh trên cây tiêu rất phong phú và
gây hại trên tất cả các bộ phận của cây, ñặc biệt là có một số sâu bệnh có thể hủy
diệt vườn cây như: bệnh héo chết nhanh do nấm Phytophthora spp., bệnh vàng lá
chết chậm do tuyến trùng Meloidogyne spp., rệp sáp hại rễ, bệnh xoăn lùn do
virus
Nhóm côn trùng thường gây hại trực tiếp cho cây tiêu ñược ghi nhận là
Châu (1995) [5] cho biết tác nhân gây bệnh héo chết nhanh là do nấm
Phytophthora palmivora var. piperis. Từ các mẫu rễ tiêu bị bệnh thu thập ñược
ở Long Khánh (Đồng Nai), Nguyễn Vĩnh Trường và cộng sự (2002) [23] ñã xác
ñịnh nấm gây bệnh cây tiêu tại các vùng này là Phytophthora capsici bằng kỹ
thuật sinh học phân tử. Bằng phương pháp PCR và men cắt, Trần Kim Loang và
18
cộng sự (2006) [10] bước ñầu ñã xác ñịnh ñược tại Tây Nguyên có loài
Phytophthora gây hại trên cây tiêu là P. capsici và P. palmivora.
Theo Manohara và Sato (1992) [47] ở Ấn Độ, Malaysia, Indonesia bệnh
do nấm Phytophthora gây hại trên cây hồ tiêu là loại bệnh nghiêm trọng nhất. Ở
Malaysia sự thiệt hại khoảng từ 5 - 10 %, tuy nhiên ở các vùng bị nhiễm bệnh
nặng thì sự thiệt hại có thể lên ñến 95 % [44]. Tại Việt Nam, các khảo sát của
Nguyễn Đăng Long và Bùi Cách Tuyến (1987) [12] ở một số vùng trồng tiêu của
Việt Nam cho thấy bệnh héo chết nhanh trên cây hồ tiêu xuất hiện hầu hết các
ñịa phương trồng tiêu trong nước. Năm 1985, sự thiệt hại ước tính ở huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Nai khoảng 65 %; huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai là 30 %;
huyện Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang là 4 %. Đến năm 1987, ở xã Bình Giã,
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai sự thiệt hại lên ñến 90 %. Kết quả ñiều tra
của Trần Kim Loang và cộng sự (2006) [10] cho thấy, có khoảng 25 - 83 %
vườn tiêu tại ĐắkLắk, Đak Nông và Gia Lai bị bệnh héo chết nhanh.
Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthora capsici, ñiều trị bằng
metalaxyl, hoặc acid phosphoric, fosetyl-Al rất có hiệu quả [48]. Thuốc
Phosacide 200 nồng ñộ 4% và Alliette 80WP nồng ñộ 0,2% có hiệu quả trừ bệnh
Phytophthora [25].
Anith và cộng sự (2002) [29] ñã thành công trong việc phân lập dòng vi
khuẩn ñối kháng với Phytophthora capsici từ vùng rễ cây tiêu, ñã chọn ñược
chủng PN-026, có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong
vườn ươm. Theo Anandaraj và Sarma (2003) [28], dòng Pseudomonas
fluorescens IISR-51 có hiệu quả trên 50 % trong phòng trừ nấm Phytophthora
Harzianum IISR-1369 với P. fluorescens IISR-11. Tại Việt Nam, Trần Kim
Loang và cộng sự (2008) [11] ñã chọn lọc ñược 5 isolates nấm Trichoderma từ
rễ và ñất trồng tiêu tại Tây nguyên có khả năng ñối kháng cao với nấm
Phytophthora gây hại trên cây tiêu tại ñây. Chế phẩm Tricô-VTN của các tác giả
khi ñược sử dụng với nồng ñộ 0,3 - 0,4 % có thể hạn chế sự gây hại của nấm
Phytophthora trên cây tiêu và cây ca cao trong nhà lưới. Bên cạnh ñó, chế phẩm
20
này cũng cho thấy có hiệu lực cao trên ñồng ruộng khi ñược sử dụng với lượng
40 g/ gốc tiêu/ năm,
Đối với bệnh chết chậm biểu hiện sự sinh trưởng chậm, lá có màu vàng
nhạt, lá hoa và quả rụng dần từ gốc ñến ngọn, các ñốt cũng rụng dần từ trên
xuống gốc. Hiện tượng vàng của cây có thể do sự cộng hợp của các tác nhân
Fusarium sp., Rhyzoctonia sp., và tuyến trùng Meloidogyne sp., rệp sáp hại rễ,
và do cây thiếu dinh dưỡng [17]. Eng (2002) [37] cho rằng có thể sử dụng biện
pháp sinh học phòng trừ tuyến trùng rễ với nấm Verticilium chlamydosporium và
Paecilomysec lilacinus ký sinh trứng tuyến trùng. Biện pháp phòng trừ tổng hợp
cần ñược xây dựng trong ñó có biện pháp tăng cường sự hoạt ñộng của các tác
nhân phòng trừ sinh học có sẵn trong môi trường rễ tiêu nhất là các loài nấm
Paecilomysec lilacinus và Pasteuria penetrans.
Việc kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ một cách cân ñối cho cây tiêu ñã
ñược nhiều tác giả ñề cập ñến. Bởi vì phân hữu cơ ngoài các chất ña lượng, còn
có các chất vi lượng, có tác dụng cải thiện lý hóa tính ñất, tăng khả năng thoát và
giữ nước, hạn chế ñược sự phát triển của một số tuyến trùng và nấm bệnh trong
ñất thông qua việc thúc ñẩy hoạt ñộng của vi sinh vật ñối kháng. Các thí nghiệm
bón phân chuồng ủ hoai cho tiêu tại Quảng Trị cho biết ở các công thức bón phân
hữu cơ ñã làm giảm mật ñộ tuyến trùng Meloidogyne incognita so với ñối chứng
không bón phân hữu cơ [4].
Bệnh virus trên cây tiêu có biểu hiện các ngọn bị chùn lại, lá non quăn tít,
ñọt chùn, cây không phát triển và lùn hẳn lại. Virus ñã ñược phát hiện trên
bệnh phát sinh từ ñất như bệnh héo chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm, rệp sáp
hại rễ hầu hết các nước ñều áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, chú trọng ñến
việc bảo vệ các vi sinh vật có ích trong ñất bằng cách sử dụng các chế phẩm sinh
học.
Biện pháp kỹ thuật canh tác ñóng vai trò rất quan trọng ñây là biện pháp quan
trọng ñầu tiên ñể ngăn chặn sự lây nhiễm và phát tán của nấm bệnh. Lượng mưa
cao trong suốt mùa mưa dẫn ñến úng nước, trong ñiều kiện như vậy cây tiêu sẽ
22
bị nhiễm nấm Phytophthora. Trong suốt thời gian ñọng nước, ñiều kiện yếm khí
tạm thời xuất hiện với lượng oxy thấp và sự gia tăng dịch rễ sẽ kích thích nấm
bệnh nảy mầm và phát triển. Tất cả các yếu tố này sẽ làm tăng khả năng mẫn
cảm của cây kí chủ do giảm sự sản sinh ra Phenol oxydases, giảm việc sản xuất
Phytoalexin, ức chế hệ sinh vật ñất và giảm sự cố ñịnh ñạm. Vì vậy thoát nước
hợp lý sẽ làm giảm sự gia tăng mật ñộ Phytophthora capsici. Tại Malaysia, các
nghiên cứu của Ahmed (1993) cho thấy tiêu ñược trồng trong ñiều kiện sạch cỏ
phát triển tốt hơn khi ñược che phủ ñất bằng cây Desmodium trifolium. Điều
chỉnh các cây che bóng, các cây choái sống phải ñược chặt bỏ ngọn vào mùa
mưa ñể tránh việc tăng ñộ ẩm và ñể ánh sáng chiếu vào vườn cây làm thay ñổi
tiểu khí hậu trong vườn thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển, làm giảm sự
phát triển của bệnh (trích dẫn từ Anandaraj, 2000) [27].
Tại Indonesia, Manohara và cộng sự (2002) [48] ñã ñưa ra qui trình phòng
trừ tổng hợp bệnh héo chết nhanh cây hồ tiêu như sau: có hệ thống thoát nước
tốt, hạn chế làm cỏ bón phân hợp lý và tỉa các cành thấp dưới ñất ñặc biệt là
trong mùa mưa. Để hạn chế làm cỏ nên trồng cây lạc dại (Arachis pintoii) ñể phủ
ñất.
Theo Sarma và cộng sự (2004) [58] cách phòng trừ chung cho 2 bệnh héo
chết nhanh và vàng lá chết chậm là phải bảo ñảm cho hệ thống rễ phát triển tốt
và cây sinh trưởng khỏe mạnh. Chiến lược phòng trừ hiệu quả các bệnh này bao
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 82,5 %, nhưng giữa các tháng mùa
mưa và mùa khô có sự chênh lệch rất lớn. Các tháng mùa khô có ñộ ẩm không
khí dao ñộng từ 72,8 - 82,5 %, trong khi ñộ ẩm không khí của các tháng mùa
mưa ñạt tới 74 - 90,4 %. Độ ẩm cao trong mùa mưa ñã tạo ñiều kiện cho sự phát
triển của các sinh vật gây hại cây, vì thế tại hầu hết các loại bệnh gây hại cây
trồng ñều xuất hiện trong mùa mưa.
* Chế ñộ mưa
Tổng lượng mưa hàng năm của huyện Ea H’Leo khoảng 2.101,8 mm,
phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 ñến tháng 10, chiếm trên
93 % lượng mưa của cả năm. Cao ñiểm tập trung vào tháng 8 và tháng 9 với
lượng mưa khoảng 450 - gần 500 mm. Lượng mưa lớn và tập trung ñã tạo ñiều
kiện cho sự lây lan và phát tán các sinh vật gây bệnh, ñặc biệt là nấm và tuyến
trùng. Lượng mưa trong mùa khô rất thấp, có những năm hoàn toàn không có
mưa liên tục trong 2 - 3 tháng. Vì vậy cần phải tưới nước cho các cây ngắn ngày
trồng trong mùa khô và một số cây lâu năm có hệ thống rễ tơ ăn nông như cây hồ