vai trò và ứng dụng của các quy luật của cảm giác và tri giác trong cuộc sống - Pdf 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA: Kế toán và quản trị kinh doanh
BÀI TẬP
MÔN: Tâm lý học đại cương
Họ và tên: Nguyễn Bình
Đề bài:
Câu 1: Hãy nêu vai trò và ứng dụng của các quy luật của cảm giác và tri giác trong
cuộc sống? Lấy ví dụ minh họa?
Câu 2: Tại sao nói tư duy xuất phát từ hoàn cảnh có vấn đề? Lấy ví dụ và phân tích
ví dụ đó?
Hà Nội, tháng 9 năm 2013
Bài làm
Câu 1: Vai trò và ứng dụng của các quy luật của cảm giác và tri giác trong đời
sống:
I.Cảm giác:
1. Định nghĩa:
Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ, bề ngoài của sự vật
hiện tượng cụ thể đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta.
2. Các quy luật cơ bản của cảm giác:
a. Quy luật ngưỡng cảm giác:
 Ngưỡng cảm giác là giới hạn mà ở đó kích thích gây ra được cảm giác.
Ngưỡng cảm giác có hai loại: ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía
dưới.
- Ngưỡng cảm giác phía trên: là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn cho ta
cảm giác.
- Ngưỡng cảm giác phái dưới: là cường độ kích thích tối thiểu đủ để gây cảm giác
Chẳng hạn đối với cảm giác nhìn ngưỡng dưới của mắt là những sóng ánh sáng có
bước sóng 390 milimicron và ngưỡng trên 780 milimicron, vùng phản ánh tốt nhất 565
milimicoron của cảm giác nghe là 1000hec.
- Phạm vi giữa ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới là vùng
cảm giác được trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất.

- Cường độ kích thích tăng thì độ nhạy cảm của cảm giác giảm.
Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng , phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm
của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biệt được các vật chung quanh.
- Cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm của cảm giác tăng.
Ví dụ: Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó
nhúng cả hai vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở châu nước nóng cảm thấy
nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia.
 Quy luật thích ứng có ở tất cả các loại cảm giác, nhưng mức độ thích ứng
không giống nhau:
- Có cảm giác thích ứng nhanh như: cảm giác nhìn, cảm giác đụng chạm…
- Có cảm giác thích ứng chậm như: cảm giác nghe, cảm giác đau ( khó thích ứng)
 Khả nănng thích ứng của cảm giác có thể được phát triển do hoạt động và rèn
luyện.
c. Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác:
 Các cảm giác luôn tác động qua lại lẫn nhau và làm thay đổi tính nhạy cảm của
nhau. Cụ thể:
- Kích thích yếu lên một cơ quan phân tích này sẽ làm tăng độ nhạy cảm cảu cơ
quan phân tích kia.
Ví dụ: Những âm thanh nhẹ làm tăng thêm tình nhạy cảm nhìn.
- Kích thích mạnh lên một cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của một
cơ quan phân tích kia.
Ví dụ: Khi ta bị bệnh thì lúc ăn sẽ không có cảm giác ngon miệng.
 Sự tác động lẫn nhau giữa các cảm giác có thể diễm ra đồng thời hay nối tiếp
trên những cảm giác còn loại hay khác loại. Do đó, có hai loại tương phản: tương phản
đồng thời và tương phản nối tiếp.
- Tương phản đồng thời là sự thay đổi cường độ và chất lượng của cảm giác dưới
ảnh hưởng của một kích thích cùng loại xảy ra đồng thời.
Ví dụ: Khi ta đặt hai tờ giấy trắng cùng loại, một trên nền giấy đen, một trên nền
giấy xám thì tờ giấy trắng trên nền giấy đen ta sẽ có cảm giác như nó trắng hơn so với
tờ giấy trên nền xám kia.

b.Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:
 Tính lựa chọn cảu tri giác là quá trình tách đối tượng ra khỏi bối cảnh xung
quanh để phản ánh đối tượng tốt hơn.
- Bối cảnh là các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan bên ngoài đối
tượng tri giác. Đôiws tượng tri giác là hình, bối cảnh tri giác là nền, giữa đối tượng và
bối cảnh không cố định. Bối cảnh và đối tượng rõ ràng thì tri giác thuận lợi và ngược
lại ( ngụy trang).
Ví dụ:
 Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan ( của vật
kích thích ) và chủ quan ( chủ thể ).
 Đối tượng của tri giác càng nổi rõ trong bối cảnh thì sự lựa chọn sẽ diểm ra
nhanh hơn và ngược lại.
 Kinh nghiệm của chủ thể về loại đối tượng nào càng phong phú thì chủ thể dễ
chọn đối tượng đó làm tri giác.
Ví dụ: Trong sách để giúp học sinh ghi nhớ những kiến thức quan trọng, người ta
thường in nghiêng để nhấn mạnh. Hay giáo viên thường dùng bút đỏ để chấm bài giúp
học sinh có thể nhận ra chỗ sai của mình dễ dàng.
.  Ứng dụng:
- Trang trí, bố cục…
- Trong giảng dạy, các thầy cô thường dùng bài giảng kết hợp với tài liệu trực quan
sinh động, yêu cầu học sinh làm bài tập điển hình, nhấn mạnh những phần quan trọng
giúp các học sinh tiếp thu bài.
c. Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác:
 Khi tri giác một sự vật, hiện tượng con người có khả năng gọi tên, phân loại,
chỉ ra được công dụng, ý nghĩa của nố đối với hoạt động của bản thân.
Ví dụ: Khi đi mua hoa quả, ta có thể tri giác được đó là loại quả gì và có thể gọi tên
cũng như nói được những đặc điểm riêng biệt của quả đó. Chẳng hạn như ta có thể
phân biệt quả cam với quả bưởi, quả bưởi to hơn quả cam, mùi vị cũng khác nhau
 Vai trò: giúp ta gọi tên ( con gì?, cái gì? ); biết công dụng, tính chất của sự vật,
hiện tượng; xếp loại và phân nhóm chúng

- Tư duy, trí nhớ, cảm xúa
- Tâm trạng, chú ý, tâm thế
- Kinh nghiệm, vốn hiểu biết, năng lực nhận thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Nhu cầu, hứng thú, tình cảm
 Những đặc điểm tâm lý đã hình thành ở cá nhân đã chi phối đến đối tượng tri
giác, tốc độ tri giác và độ chính xác của tri giác.
Ví dụ: Khi tâm trạng ta không vui thì nhìn vào một khung cảnh nào đó, dù nó có
đẹp đến đâu thì ta cũng thấy nó rất nhàm chán.
 Ứng dụng:
- Trong giao tiếp: hình dáng, phong cách, nét mặt, ánh mắt, cách trang điểm, quàn
áo, lời nói, nụ cưới, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tri giác, những hiểu biết về trình độ
văn hóa, nhân cách, tình cảm dành cho nhau.
- Trong giáo dục: quan tâm đến kinh nghiệm, vốn hiểu biết, hứng thú, tâm lý, tình
cảm, giúp học sinh nhạy bén, tinh tế hơn.
Ví dụ: Trong các trường mấu giáo, các cô giáo thường sử dụng hình ảnh, tranh vẽ
để giúp các em nhận biết dễ hơn đồng thời tạo cảm giác thích thú, hấp dẫn các em tập
trung, ghi nhớ bài.
f. Ảo giác:
 Ảo giác là sự phản ánh sai lầm về sự vật, hiện tượng có thật đang tác động vào
các giác quan của cá nhân mà sự sai lầm này mang tính khách quan.
Ví dụ: Khi ta đi ngoài trời nắng lâu thì ta cảm giác như phía trước xa xa có một
vũng nước. Đó là do đi nắng lâu sẽ khiên ta cảm thấy nóng và khát nước dẫn đến áo
giác phía trước có một vũng nước.
Hay như trong hình vẽ thì ta cảm giác đoạn thẳng ab > cd nhưng thực tế hai đoạn
này bằng nhau.
 Nguyên nhân sinh ra ảo giác:
Nguyên nhân khách quan:
- Do thiếu sự tương phản giữa vật và nền, do sự xóa nhòa giữa vật và nền.
Ví dụ: trong chiến tranh, để ngụy trang tránh máy bay trinh sát của địch, ông cha ta
đã dùng những cành lá buộc vào ba lô vác trên vai khiến quân địch khó phân biệt được

 Để chứng minh về nguồn gốc nói trên của tư duy,chúng ta hãy cùng tìm hiểu
về một số ví dụ sau:
Ví dụ 1:Bài toán ‘MUA KẸO” :
Cho bạn 2000 đồng đi mua kẹo .Biết :
- 1 viên kẹo giá 200 đồng.
- Cứ 2 vỏ kẹo đổi được 1 viên.
Hỏi với 2000 đồng, bạn sẽ mua được bao nhiêu viên kẹo? Khi đọc bài toán này lên
đầu tiên trong đầu chúng ta sẽ nghĩ rằng: đây là bài toán chắc học sinh lớp 3 cũng sẽ
giải được! Chỉ cần một phép tính 2000 : 200 =10 là sẽ ra số viên kẹo mà chúng ta mua
được với số tiền đã cho. Nhưng kết quả như vậy có phải là đáp án đúng? Mặt khác, bài
ra còn cho thêm dữ liệu “cứ 2 vỏ kẹo đổi được 1 viên” lẽ nào lại không dùng đến? Mà
theo logic toán học thì tất cả những dữ liệu mà bài toán cho đều sẽ dùng đến mà không
phải là thừa! Như vậy hoàn cảnh có vấn đề đã xuất hiện và sẽ làm cho chúng ta phải
suy nghĩ rằng như thế nào mới là đúng đây? Do đó chính hoàn cảnh có vấn đề này đã
làm xuất hiện tư duy.
Sau đây là một số cách giải theo cách “ tư duy " của từng người:
Người thứ nhất giải như sau:
2000 đồng > 10 viên (1)
10 viên > 10 vỏ >5 viên (2)
5 viên > 5 vỏ > 2 viên (3) + 1 vỏ
2 viên > 2 vỏ > 1 viên (4)
1 viên > 1 vỏ + 1 vỏ dư trên > 1 viên (5)
1 viên (5)này ăn xong dư ra 1 vỏ, rồi đến kêu bà chủ quán bán thêm 1 viên (6)
( nhưng ko đưa tiền ) ăn xong lấy 1 vỏ lấy 1 vỏ viên (5) + 1 vỏ viên (6) > 1 viên .
Viên này đưa lại cho bà chủ, thế là hết nợ viên (6) .
Tổng số viên mua được :
(1) + (2) + (3) + (4) + (5) + (6) = 10 + 5 +2 +1 +1 +1 = 20
Nên với 2000 đồng bạn có thể mua được tổng cộng 20 viên kẹo.
Người thứ 2 giải như sau:
Tôi dùng 2000 đồng mua được 10 viên kẹo.

- Việc nhận ra được bản chất tính có vấn đề của tư duy giúp ta có cái nhìn khoa học
và chính xác về khả năng hình thành tư duy, giải quyết vấn đề của chúng ta. Là yếu tố
quan trọng để chỉ ra rằng việc nâng cao khả năng tư duy của con người là hoàn toàn có
thể và chủ động, giúp con người ta có động lực để học tập, tích lũy và hoàn thiện bản
thân, hoạt động của chính mình.
- Đối với sinh viên, việc học tập và rèn luyện đôi khi gây ra nhiều khó khăn nhưng
đó cũng là động lực giúp chúng ta có thể trưởng thành hơn. Qua đó nêu ra nhiệm vụ đối
với mỗi sinh viên là phải không ngừng học tập, trau dồi bản thân để có thể giải quyết
được nhiều vấn dề phức tạp do cuộc sống đem lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status