Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 4 năm triển khai và đi vào hoạt động, Trung tâm GDCK TP.HCM đã bớc
đầu ổn định và mở ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn mới quan trọng cho
các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, thị trờng này
mới chỉ đáp ứng cho các doanh nghiệp có vốn lớn, trên 10 tỷ đồng; trong khi hiện
nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta chiếm tỷ trọng tơng đối lớn, khoảng
90% doanh nghiệp, đóng góp khoảng 25% GDP cho nền kinh tế. Nhng thực tế các
doanh nghiệp này đang gặp khó khăn về vốn để đầu t mở rộng và phát triển sản
xuất. Việc sớm đa Trung tâm GDCK Hà Nội vào hoạt động sẽ tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp này đợc tham gia vào thị trờng chứng khoán, phần nào giải
quyết đợc một số khó khăn của các doanh nghiệp này trong việc tiếp cận nguồn
vốn trung và dài hạn, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán của các doanh nghiệp
này.
Để Trung tâm GDCK Hà Nội hoạt động và phát triển theo đúng mục tiêu mà
Đảng và Nhà nớc đã đề ra trong chiến lợc phát triển thị trờng chứng khoán đến
năm 2010 đã đợc Thủ tớng Chính phủ ký duyệt, thì có nhiều việc phải làm, một
trong những công việc quan trọng không thể thiếu đợc đó là tạo cung, tạo
hàng cho Trung tâm GDCK Hà Nội. Trên thực tế, hiện nay chúng ta đang thực
hiện một số giải pháp để thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia niêm yết nh tuyên
truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trờng chứng khoán cho các
doanh nghiệp; những u đãi về thuế, phí kiểm toán, phí công bố thông tin. cho
doanh nghiệp. Nhng tác động của các giải pháp này còn nhiều hạn chế, cha thực
sự mang lại kết quả nh mong muốn. Điều này có thể do sự hiểu biết của các doanh
nghiệp về lợi ích của việc niêm yết còn thấp; các chính sách, giải pháp còn cha cụ
thể; cha tác động trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp để tạo điều kiện và thúc
đẩy các doanh nghiệp tham gia niêm yết.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nêu trên, nhóm đề tài đã chọn Một số
giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà
Nội làm đề tài nghiên cứu.
niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội Chơng 1
Khái quát về niêm yết chứng khoán
trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội
1.1. Khái quát mô hình Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
1.1.1. Mục tiêu xây dựng Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
trong tổng thể chiến lợc phát triển thị trờng giao dịch chứng khoán Việt
Nam
- Tạo điều kiện cho các công ty cổ phần cha đủ tiêu chuẩn niêm yết trên
Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh, đặc biệt là các công ty có qui mô vốn vừa và
nhỏ, công ty mới thành lập có tiềm năng phát triển nhằm tăng tính thanh khoản cho
cổ phiếu và trái phiếu của các công ty này. 2
- Thu hút ngày càng nhiều hơn các nhà đầu t, mở rộng môi trờng đầu t có
tổ chức, quản lý, thu hẹp thị trờng tự do đang tồn tại dới nhiều hình thức, qua đó
góp phần hoàn thiện, lành mạnh hoá thị trờng chứng khoán Việt Nam;
- Góp phần hoàn thiện thị trờng tài chính Việt Nam;
- Góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên tham gia thị trờng nh các công
ty chứng khoán, tông ty quản lý quỹ, tổ chức lu ký, mở rộng khả năng, phạm vi
hoạt động, khai thác tối đa các loại hình kinh doanh chứng khoán.
1.1.2. Những nét chính về mô hình Trung tâm GDCK Hà Nội
Chứng khoán giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Hàng hoá giao dịch
trên Trung tâm GDCK Hà Nội chủ yếu bao gồm: (1) chứng khoán của các công ty
cổ phần có quy mô vốn vừa và nhỏ, cha đủ điều kiện niêm yết hoặc đã đủ điều
Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh đợc giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội.
- Về cơ chế niêm yết/đăng ký giao dịch. Các chứng khoán lên sàn giao dịch tại
Trung tâm GDCK Tp. HCM theo cơ chế cấp phép niêm yết chứng khoán, còn trên
Trung tâm GDCK Hà Nội là đăng ký giao dịch.
1.2. Nhu cầu và khả năng niêm yết của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1. Khái quát về khối doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo Nghị đinh số 90/2001/NĐ-CP
ngày 23/11/2001 của Chính phủ doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
ngời.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ có các điểm mạnh nh: dễ khởi nghiệp với
một số ban đầu ít; năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh của môi
trờng; có khả năng phát huy những nguồn lực đầu vào nh lao động, tài nguyên
hoặc nguồn vốn tại chỗ khi khai thác và phát huy các ngành nghề truyền thống
của từng địa phơng. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có lợi thế trong
việc theo sát thị hiếu và nhu cầu của ngời tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại
hàng hoá và dịch vụ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
- Về các điểm yếu. Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều thiếu vốn,
khó có khả năng để tiến hành các công trình lớn, các dự án đầu t lớn; rủi ro kinh
doanh thờng rất cao;
- Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ
+ Tạo công ăn việc làm mới góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp. Báo cáo tổng
kết đánh giá 3 năm thi hành Luật doanh nghiệp cho thấy, trong ba năm qua ớc
tính đã có khoảng 1,8 đến 2 triệu chỗ làm việc mới đã đợc tạo ra nhờ các doanh
nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 78% chỗ làm việc.
+ Thúc đẩy sự tăng trởng và phát triển kinh tế. Theo số liệu thống kê, trong
những năm qua doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp từ 25 30% trong tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) của cả nớc.
+ Góp phần tăng vốn đầu t phát triển và xuất khẩu.
1,3 tỷ đồng, năm 2002 là 1,8 tỷ đồng và 7 tháng đầu năm 2003 là 2,12 tỷ đồng.
Toàn bộ khu vực DNV&N của cả nớc đóng góp khoảng 25% GDP. Trong
đó, theo thống kê về tình hình sản xuất kinh doanh năm 2002 của các DNV&N,
doanh thu đạt giá trị 99.427,6 tỷ đồng Việt Nam.
Mặc dù đạt đợc những kết quả nhất định, nhng hiện nay các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của nớc ta gặp rất nhiều khó khăn xuất phát từ nội tại doanh nghiệp vừa
và nhỏ nh khó khăn về vốn, về lao động, thị trờng, kinh nghiệp cạnh tranh và quản
lý cũng nh mô hình phát triển chung.
- Nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Báo cáo hội nghị ngày 24/9/2003 về trao đổi những vấn đề chủ yếu trong
chơng trình cải cách của Việt Nam cũng nh vai trò hỗ trợ và hợp tác và phát triển
của UNDP nhân kỷ niệm 25 năm quan hệ VN-UNDP cho thấy, trong số khoảng
120 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động, có đến trên 90% là các doanh nghiệp có
quy mô vốn vừa và nhỏ, kinh nghiệm ít, năng lực cạnh tranh yếu kém, rất dễ bị tổn
th
ơng; 61% doanh nghiệp mới thành lập thiếu vốn để đầu t mua sắm thiết bị, 5
công nghệ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh; các doanh nghiệp này thờng rất
khó tiếp cận với các nguồn vốn hỗ trợ.
Các DNV&N rất cần vốn để đầu t các công nghệ mới, máy móc thiết bị để
phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DNV&N
trên thị trờng.
- Khả năng huy động vốn của DNV&N
+ Huy động từ vốn chủ sở hữu. Đó là khoản vốn do công ty phát hành cổ
phiếu, trái phiếu và vốn góp ban đầu. Vốn chủ sở hữu cũng đợc tăng lên bằng
cách lấy lợi nhuận để đầu t trở lại vào hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, vốn chủ
sở hữu không đủ để phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc tăng
vốn chủ sở hữu theo hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu để mở rộng sản xuất
chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá, cha thực sự phát huy vai trò và tác dụng
vốn có do cha có một môi trờng kinh tế theo cơ chế thị trờng đúng nghĩa.
- Chính sách thuế vẫn còn nhiều điểm bất hợp lý, cha ổn định, cha chú
trọng đầy đủ đến việc nuôi dỡng nguồn thu và thúc đẩy phát triển sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này
tích luỹ vốn.
- Cha có thị trờng vốn thị trờng chứng khoán cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ để các doanh nghiệp này tiếp cận nguồn vốn dài hạn từ thị trờng này.
(2) Nguyên nhân từ bản thân doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thiếu chiến lợc và kế hoạch kinh doanh là một trong những khó khăn của
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nớc ta hiện nay trong việc lập kết hoạch để hoàn thiện
thủ tục vay vốn ngân hàng, thuê tài chính,....
- Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ cha có thói quen đi vay vốn ngân
hàng để kinh doanh mà thờng huy động vốn ban đầu từ các nguồn phi chính thức
nh họ hàng, bạn bè và những ngời quen khác.
1.2.2. Nhu cầu niêm yết của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Đánh giá tình hình niêm yết trên Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh trong
thời gian qua. Tính đến nay (7/11/2004), có 26 loại cổ phiếu niêm yết trên Trung
tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh với tổng giá trị niêm yết là 1.273 tỷ đồng và 188 loại
trái phiếu với tổng giá trị niêm yết là 20.561,03 tỷ đồng (trong đó 184 trái phiếu
Chính phủ với tổng giá trị niêm yết là 20.028,333 tỷ đồng; 02 trái phiếu chính
quyền điạ phơng với tổng giá trị niêm yết là 375 tỷ đồng; 02 loại trái phiếu do
Ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam phát hành với tổng giá trị niêm yết là
157,7 tỷ đồng).
- Đánh giá về tình hình huy động vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên
Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh. Trong số 26 công ty cổ phần có cổ phiếu đợc
niêm yết trên thị trờng chỉ có Hapaco là công ty cổ phần duy nhất thực hiện phát
hành thêm một triệu cổ phiếu mới ra công chúng qua thị trờng chứng khoán với
tổng số tiền thu đợc từ đợt phát hành là 32 tỷ đồng.
- Đánh giá về nhu cầu niêm yết của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo số
thấp, cha có các nhà đầu t chiến lợc có tiềm năng về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý tham gia cổ phần, cha tách biệt giữa sở hữu và quản lý doanh
nghiệp.
Về kết quả kinh doanh: Nhiều công ty cổ phần sau khi cổ phần hoá có kết quả
hoạt động cha cao, tỷ lệ trả cổ tức thấp, vì vậy doanh nghiệp chờ cải thiện tình
hình tài chính rồi mới niêm yết nhằm nâng cao hình ảnh của mình khi ra niêm yết.
Vấn đề quản trị công ty còn nhiều bất cập. Bộ máy quản lý của doanh nghiệp
cha nhận thức đầy đủ về lợi ích khi tham gia thị trờng chứng khoán, lo ngại về cơ
cấu cổ đông thay đổi sẽ dẫn đến khó khăn trong việc quản lý và điều hành công ty
cổ phần sau khi niêm yết.
Về cơ chế miễn giảm thuế, hỗ trợ phí kiểm toán, phí t vấn. Hiện nay, cha có
một cơ chế cụ thể, đồng bộ về miễn giảm thuế thu nhập, hỗ trợ về kinh phí t vấn,
kiểm toán, đối với các doanh nghiệp niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội.
8 9
Chơng 2
cung ứng hàng hoá và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách nhà
nớc.
Thông qua các chơng trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát triển sản 10
phẩm mới, hiện đại hoá quản lý nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm hàng hoá,
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng.
Nhà nớc khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng cờng xuất khẩu, tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết hợp tác với nớc
ngoài, mở rộng thị trờng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ.
Chính phủ trợ giúp kinh phí để t vấn và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ thông qua chơng trình trợ giúp đào tạo. Khuyến khích các tổ
chức trong và ngoài nớc trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc cung cấp
thông tin, t vấn và đào tạo nguồn nhân lực.
2.3.2. Kết luận chung về tác động của các chính sách
Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần làm tăng về quy
mô và khối lợng doanh nghiệp lên rất lớn; các chính sách của nhà nớc đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đã từng bớc cải thiện hơn về môi trờng kinh doanh
và tăng cờng sự bình đẳng với những khu vực kinh tế khác. Cơ hội kinh doanh
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đợc mở rộng nhờ sự cải tiến và hoàn thiện
hệ thống chính sách.
Tuy nhiên, tác động của các chính sách này nhình nhận không đợc thống
nhất giữa giới doanh nghiệp và những nhà làm chính sách. Điều này cho thấy mục
tiêu của chính sách có thể rất tốt nhng tác động của chính sách đôi khi không
đợc nh mong muốn do những hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách.
Hơn nữa, mỗi chính sách có mục tiêu riêng và đợc đánh giá là có một tác dụng
khi tác động vào yếu tố phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; không có một chính
sách nào tác động đến tất cả các yếu tố phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.
đó, mức hỗ trợ tối đa là 100 triệu đồng đối với một doanh nghiệp; trong đó hỗ trợ
phí kiểm toán trong hai năm gần nhất tối đa là 60 triệu đồng (tối đa 30 triệu
đồng/năm); Hỗ trợ về thuê t vấn phát hành và đăng ký giao dịch chứng khoán tối
đa 40 triệu đồng.
2.3.3. Chơng trình tiếp cận, vận động doanh nghiệp
Chơng trình tiếp cận, vận động doanh nghiệp ra niêm yết là một trong
những chơng trình quan trọng trong đề án tạo hàng trong năm 2004 cho Trung
tâm GDCK Hà Nội đã đợc Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc phê duyệt.
Mục tiêu của chơng trình này là lựa chọn và đa ra đợc khoảng từ 5-10 doanh
nghiệp ra niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội trong giai đoạn đầu.
Trong năm 2004, Trung tâm GDCK Hà Nội đã chủ động phối hợp với Vụ
Quản lý Phát hành, các công ty chứng khoán và Chi cục Tài chính Doanh nghiệp
Tp. Hà Nội, Tp. Hải phòng, tỉnh Ninh bình,... thành lập các đoàn công tác liên
ngành xuống tiếp cận với các công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nớc cổ phần
hoá để khảo sát tình hình thực tế doanh nghiệp nh: tình hình sản xuất kinh
doanh, nhu cầu huy động vốn trong thời gian tới, khả năng tham gia thị trờng
chứng khoán, trên cơ sở đó, đoàn công tác đã tuyên truyền, phổ biến cho doanh
nghiệp thấy rõ những lợi ích khi tham gia thị trờng chứng khoán, hớng dẫn
những nội dung các công việc cần thực hiện cũng nh nắm bắt và giải đáp những
khó khăn, vớng mắc đối với từng doanh nghiệp cụ thể nh: t vấn, hớng dẫn
doanh nghiệp trình tự, thủ tục cổ phần hoá và phổ biến cách thức tiến hành đấu
giá bán cổ phần lần đầu tại Trung tâm GDCK cũng nh quy trình cổ phần hoá gắn
với đăng ký giao dịch; đối với các công ty cổ phần, đoàn đã hớng dẫn trình tự,
thủ tục khi doanh nghiệp phát hành chứng khoán và niêm yết tại Trung tâm
GDCK Hà Nội, giới thiệu công ty chứng khoán làm đơn vị t vấn. 12
Trong chơng trình tiếp cận, đoàn công tác đã chọn ra đợc một số doanh
nghiệp đủ điều kiện và có nguyên vọng tham gia niêm yết trên Trung tâm GDCK
UBCKNN trình Lãnh đạo Bộ Tài chính thông qua và dự định sẽ thực hiện hoạt
động đấu giá cổ phần doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá từ tháng 1/2005.
2.4. Đánh giá tác động của các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp niêm yết
trên Trung tâm GDCK Hà Nội
2.4.1. Mặt tích cực 13
- Các chính sách miễn giảm thuế, hỗ trợ về phí kiểm toán, t vấn, đã cho
thấy sự quan tâm của Chính phủ, các cấp chính quyền địa phơng trong việc thúc
đẩy doanh nghiệp niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Việc đa ra các u đãi
về thuế, phí kiểm toán, phí t vấn kịp thời đã tạo thêm động lực và giảm bớt các
khó khăn đối với doanh nghiệp tham gia thị trờng chứng khoán.
- Chơng trình tiếp cận doanh nghiệp đã đánh giá đợc thực tế tình hình tài
chính cũng nh giải đáp các khó khăn, vớng mắc của doanh nghiệp trong tiến
trình niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội.
- Chơng trình đào tạo, tuyên truyền đã phổ cập đợc nhiều kiến thức bổ ích
về chứng khoán và thị trờng chứng khoán cho đông đảo các cán bộ, công nhân
viên của doanh nghiệp, các sở ban ngành cũng nh công chúng nói chung hiểu rõ
hơn về thị trờng chứng khoán nói chung và Trung tâm GDCK Hà Nội nói riêng.
- Chơng trình vận động doanh nghiệp gắn cổ phần hoá với bán đấu giá cổ
phần lần đầu qua Trung tâm GDCK Hà Nội đã lựa chọn đợc khoảng 20 doanh
nghiệp dự định đấu giá bán cổ phần lần đầu tại Trung tâm GDCK Hà Nội trong
những tháng đầu năm 2005.
2.4.2. Những khó khăn tồn tại và nguyên nhân
- Nhà nớc còn thiếu một hệ thống chính sách tổng thể, đồng bộ và dài hạn
trong việc khuyến khích doanh nghiệp niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội.
Cha có một chính sách cụ thể về miển giảm thuế thu nhập đối với doanh nghiệp
niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Chính sách hỗ trợ về phí kiểm toán, t vấn
niêm yết chỉ là sự hỗ trợ trực tiếp cho từng doanh nghiệp của chính quyền địa
hoá tại Trung tâm GDCK.
Ban hành văn bản quy định bắt buộc những doanh nghiệp nhà nớc cổ phần
hoá đáp ứng đợc các điều kiện theo quy định thì đa vào niêm yết luôn trên thị
trờng chứng khoán.
Ban hành cơ chế cổ phần hoá gắn với niêm yết trên Trung tâm GDCK để có
căn cứ thực hiện.
2.5.2. Xây dựng và ban hành điều kiện và trình tự thủ tục niêm yết tại
Trung tâm GDCK Hà Nội
Bộ Tài chính cần sớm ban hành cơ chế giao dịch chứng khoán cha niêm yết
tại Trung tâm GDCK Hà Nội; theo đó cho phép các loại cổ phiếu của các công ty
cha đủ điều kiện niêm yết hoặc đủ điều kiện niêm yết nhng không muốn niêm
yết trên Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh đợc phép giao dịch tại Trung tâm
GDCK Hà Nội. Cơ chế giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội nên
xây dựng theo hớng đơn giản thủ tục và hạ thấp tiêu chuẩn để các doanh nghiệp
có thể tham gia rộng rãi hơn.
- Giảm bớt số năm bắt buộc phải hoạt động có lãi so với quy định niêm yết
trên Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh. Theo đó, chỉ nên quy định hoạt động kinh
doanh của năm liền trớc năm đăng ký giao dịch phải có lãi.
- Rút ngắn quy trình thủ tục và thời gian xét duyệt hồ sơ hơn so với thơi gian
quy định của các công ty niêm yết trên Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh.
Cùng với việc xây dựng cơ chế riêng cho Trung tâm GDCK Hà Nội,
UBCKNN cần sớm nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Nghị định 144 về chứng khoán và
thị trờng chứng khoán; trong đó tập trung vào các nội dung quan trong, cần thiết
liên quan đến hoạt động của hai Trung tâm. Theo đó tăng điều kiện niêm yết trên
Trung tâm GDCK Tp. Hồ Chí Minh từ 05 tỷ nh hiện nay lên 30 tỷ. 15
2.5.3. Ban hành chính sách u đãi về thuế đối với doanh nghiệp niêm yết
trên Trung tâm GDCK Hà Nội
trong một số năm đầu khi Trung tâm GDCK Hà Nội bắt đầu hoạt động để có đợc
sự khuyến khích, hỗ trợ nhanh chóng, hiệu quả nhất.
- Tìm kiếm các dự án, nguồn tài trợ của các tổ chức IMF, WB, ADB, MFL,
trong việc tài trợ cung cấp các dịch vụ về kiểm toán, t vấn miễn phí đối với
những doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và doanh nghiệp niêm yết trên Trung
tâm GDCK Hà Nội nói riêng. 16
2.5.5. Tăng cờng công tác tiếp cận, vận động doanh nghiệp tham gia
niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc cần chỉ đạo Trung tâm GDCK Hà Nội cũng
nh các đơn vị trực thuộc Uỷ ban phải giữ mối liên hệ tốt với các công ty chứng
khoán, các sở ban ngành của các cấp chính quyền địa phơng thành lập nhiều
đoàn công tác liên ngành, đối thoại thờng xuyên với doanh nghiệp để tiếp thu ý
kiến của từng doanh nghiệp nhằm điều chỉnh cơ chế chính sách cho hợp lý, tạo
thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, tạo sự vận hành trôi chảy cho cơ chế
ban hành để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà
Nội.
2.5.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo chứng khoán đối với
doanh nghiệp và công chúng
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc cần xây dựng đề án về chiến lợc phổ cập
kiến thức chứng khoán trình Bộ Tài chính xem xét để trình Chính phủ phê duyệt.
Đề án này sẽ là công cụ để triển khai phổ cập kiến thức về chứng khoán; trong đề
án cần nêu rõ sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các trờng đại học, trung học,...
trong việc phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trờng chứng khoán cho doanh
nghiệp nói riêng và công chúng đầu t nói chung;
Đối với các báo chí có xu hớng đa tin về chứng khoán, cần mở các lớp đào
tạo về chứng khoán cho tất cả các phong viên kinh tế.
Trung tâm GDCK Hà Nội cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với Trung tâm Nghiên
thống kê, Tổng cục thuế, các công ty chứng koán,...
Ngoài ra, Chính phủ cũng cần sớm xây dựng hệ thống cung cấp thông tin qua
mang Internet, cung cấp tất cả các thông tin về tình hình doanh nghiệp, thông tin
về thị trờng xúc tiến thơng mại, lao động và các thông tin liên quan đến các đối
tợng tham gia thị trờng.
2.5.8. Hoàn thiện chính sách kế toán, kiểm toán
- Tiếp tục xây dựng và ban hành đồng bộ hệ thống các chuẩn mực kế toán,
kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù của nền kinh tế nớc ta nhằm
tăng cờng tính minh bạch, rõ ràng và công khai thông tin đối với các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần nói chung và doanh nghiệp tham gia thị trờng chứng
khoán nói riêng để đảm bảo sự phát triển lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng.
- Củng cố và phát triển các tổ chức kiểm toán độc lập, tiếp tục triển khai
nhanh chóng và hiệu quả việc áp dụng thông lệ quốc tế về quản trị công ty, trong
đó có việc nâng cao chất lợng, đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức kiểm toán
độc lập để đảm bảo cho quá trình kiểm toán đợc trung thực, khách quan.
- Yêu cầu áp dụng chế độ kiểm toán bắt buộc và thực hiện chế độ công khai
hoá thông tin tài chính đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính
công khai, minh bạch trên thị trờng, làm lành mạnh hoá và bình đẳng môi trờng
kinh doanh.
2.6. Điều kiện thực hiện
Để thực hiện các giải pháp đã nêu cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nh nớc và
doanh nghiệp. Về phía nhà n
ớc, đó là sự ban hành và thực hiện các cơ chế hỗ trợ
phù hợp. Về phía doanh nghiệp đó là sự nỗ lực, khắc phục các khuyến điểm của
mình, hỗ trợ nhà nớc bằng cách thực hiện nghiêm minh các quy định của pháp
luật và giúp nhà nớc có đợc hệ thống cơ ché chính sách ngày càng hiệu quả hơn.
2.6.1. Về phía nhà nớc 18
ty định giá tài sản, công ty định mức tín nhiệm;
- Nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ niêm yết trên Trung
tâm GDCK Hà Nội để hỗ trợ doanh nghiệp các khoản phí kiểm toán, t vấn, bảo lãnh
vay tín dụng ngân hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc
- Sớm trình Bộ Tài chính xem xét và thông qua phơng án tổ chức và đầu giá
cổ phiếu tại Trung tâm GDCK và phơng án tổ chức giao dịch chứng khoán ch
a 19
niêm yết tại Trung tâm GDCK Hà Nội để Trung tâm có cơ sở triển khai mở cửa thị
trờng;
- Nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Nghị định 144 về chứng khoán và thị trờng
chứng khoán, trình Bộ Tài chính xem xét để trình Chính Phủ ký ban hành;
- Soạn thảo một cơ chế riêng có tính ổn định về tiêu chuẩn, điều kiện tham gia
niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trình lãnh
đạo Bộ Tài chính ký ban hành để làm căn cứ hoàn thiện mô hình giao dịch chứng
khoán trên Trung tâm GDCK Hà Nội;
- Tham mu cho Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và đầu t, xây dựng
chiến lợc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ gắn với kế hoạch phát triển Trung
tâm GDCK Hà Nội theo mô hình OTC. Trong chiến lợc này cần nêu bật vai trò,
đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế cũng nh mối quan hệ
giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với Trung tâm GDCK Hà Nội từ đó đa ra những
hớng u tiên, thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thị trờng chứng khoán.
Chiến lợc này sẽ đảm bảo nhất quán phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời
gian dài phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nói chung và Trung tâm GDCK Hà
Nội nói riêng.
- Xây dựng và triển khai chơng trình phối hợp hành động phát triển thị
trờng chứng khoán trong năm 2005 và giai đoạn 2006 -2010 với các tỉnh thành
Trong đó sẽ tiến hành đấu giá bán cổ phần của các doanh nghiệp này và đăng ký
lu ký tập trung luôn.
- Phối hợp với các công ty chứng khoán t vấn để giúp đỡ Hội đồng quản trị
công ty tuyên truyền vận động cổ đông nhỏ và giải đáp các thắc mắc trớc Đại hội
cổ đông để cổ đông thấy đợc những lợi ích của việc niêm yết và thông qua chủ
trơng niêm yết.
2.6.2. Về phía doanh nghiệp
Cùng với việc bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với các doanh
nghiệp niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội, việc tham gia niêm yết cũng cần
đến sự hợp tác và cố gắn của bản thân doanh nghiệp. Vì thế, đề tài đa ra một số
kiến nghị về phía doanh nghiệp nh sau:
- Doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo, tổ chức đào tạo cho các cán bộ
doanh nghiệp nâng cao hiểu biết về chứng khoán và thị trờng chứng khoán; xây
dựng văn hoá, đạo đức kinh doanh của doanh nhân Việt nam: kinh doanh trung
thực, đúng pháp luật, có nhận thức đúng đắn hơn về những lợi ích, cơ hội, nghĩa vụ
và trách nhiệm của việc niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà Nội.
- Xây dựng chiến lợc và kế hoạch sản xuất kinh phù hợp với khả năng và nhu
cầu của thị trờng; nâng cao chất lợng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, tính
minh bạch trong quản trị của doanh nghiệp. Xây dựng một kế hoạch cụ thể trong
việc tham gia thị trờng chứng khoán nhằm phát huy tối đa những lơi thế của một
công ty cổ phần khi niêm yết cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán.
- Tích cực khai thác, sử dụng có hiệu quả kênh huy động vốn qua thị trờng
chứng khoán nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
- Tích cực tham gia vào việc đóng góp ý kiến cho các cơ quan quản lý về
những hạn chế của các chính sách cũng nh những tồn tại trong việc thi hành chính
sách nhằm làm cho chinh sách của nhà nớc ngày càng có hiệu quả hơn trong hoạt 21
nh tham gia vào quá trình biến chính sách thành hiện thực.
Trên cơ sở đánh giá một cách có hệ thống nhu cầu và khả năng tham gia thị
trờng chứng khoán; thực trạng các giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp vừa và nhỏ
niêm trên Trung tâm GDCK Hà Nội trong thời gian qua và hiện nay, đề tài đã đa
ra một số giải pháp quan trọng và kiến nghị điều kiện thực hiện nhằm khuyến khích,
tạo điều kiện hơn nữa đối với các doanh nghiệp niêm yết trên Trung tâm GDCK Hà
Nội trong thời gian tới.
Trong thời gian có hạn, với một chủ đề rộng và các số liệu thống kê, điều tra
không nhất quán, nhóm tác giả đã cố gắng hoàn thành đề tài của mình. Tuy nhiên,
đề tài cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, cần đợc tiếp tục
nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện; nhóm tác giả rất mong nhận đợc các ý kiến
đóng góp của đọc giả để có thể phát triển đề tài trong các nghiên cứu tiếp theo. Danh mục tài liệu tham khảo
1. Lê Đăng Doanh (2001) Báo cáo về vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Việt Nam, Hội thảo doanh nghiệp vừa và nhỏ Hải Phòng;
2. Phạm Thị Thu Hằng, Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh
nghiệp nhỏ, Phòng thơng mại và công nghiệp Việt Nam; 23
3. Nguyễn Đình Hơng (2000), Giải pháp phát triển doanh nghiepẹ vừa và nhỏ
ở Việt Nam, Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội;
4. Bộ Kế hoạch và Đầu t (2003), Báo cáo đánh giá 4 năm thi hành Luật
doanh nghiệp;
5. Tổng cục Thống kê (2004), Tổng qua tình hình kinh tế xã hội 1991-2000 và
2001-2003;
6. Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Chứng khoán (2004), Báo cáo kết quả điều
22. Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về Quy
định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. 24
23. Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ về Quy
định chi tiết Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật thuế giá trị gia tăng.
24. Nghị định số 152/2004/NĐ-CP ngày 6/8/2004 của Chính phủ về sửa đổi một
số điều của Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về Quy
định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
25. Quyết định 163/2003/QĐ-TTg ngày 5/8/2003 về chiến lợc phát triển thị
trờng chứng khoán Việt Nam đến năm 2010;
26. Thông t 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ tài chính về hớng
dẫn Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về Quy định
chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
27. Thông t số 120 /2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính về quy
định chi tiết luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luậ thuế giá trị gia tăng.
28. Thông t số 40/2004/TT-BTC ngày 13/05/2003 của Bộ tài chính về hớng
dẫn kế toán chuyển doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần.
29. Thông t số 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 của Bộ tài chính về
hớng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực chứng
khoán.
30. Công văn số 11924/TC/CST ngày 20/10/2004 của Bộ Tài chính về tạm
thời hớng dẫn u đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các tổ chức niêm yết;