MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời mở đầu 3
Chương I:1 số vấn đề lí luận về xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 4
I. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam 4
I. 1 Vai trò của xuất khẩu nói chung đối với nền kinh tế XH 4
I. 2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đói với Việt Nam 6
II. Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam(đặc biệt
trong thời kì hội nhập, gia nhập WTO) 7
I. 1 Cơ hội đối với xuất khẩu cà phê của Viẹt Nam 7
I. 1. 1 Mở rộng thị trường xuất khẩu 8
I. 1. 2 Thu hút đầu tư nước ngoài 9
I. 1. 3 Tiếp thu KHKT, kĩ năng quản lí và kinh doanh doanh nghiệp 9
I. 1. 4 Khả năng cạnh tranh cua các doanh nghiệp được nâng cao 10
II. 1 Thách thức đối với xuất khẩu cà phê Việt Nam 10
III. Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 13
III. 1Các nhân tố thuộc nguồn cung cà phê xuất khẩu 13
III. 1. 1 Các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên 14
III. 1. 2 Các yếu tố thuộc chủ trương chính sách nhà nước 14
III. 1. 3 Các yếu tố thuộc KHCN 15
III. 2 Các nhân tố thuộc cầu và giá cà phê trên thị trường thế giới 16
III. 2. 1 Các thị trường nhập khẩu cà phê của Việt Nam 16
III. 2. 2 Các yếu tố về giá cả thị trường. 17
Chương II : Thực trạng cà phê xuất khẩu của Việt Nam
I. Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam 18
I. 1 Thực trạng sản xuất cà phê xuất khẩu 18
I. 1. 1 Về diện tích 18
I. 1. 2 Về năng suất 19
I. 1. 3 Về giống 21
I. 2 Thực trạng thu mua và chế biến cà phê xuất khẩu của Việt Nam 22
“Thúc đẩy xuất khẩu càphê của Việt Nam”
Để hoàn thành được đề tài này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo GS-TS
Hoàng Đức Thân đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận cho
em ngay từ khi lựa chọn đề tài đến khi hoàn thành. Ngoài ra em cũng xin gửi
lời cảm ơn tới tập thể thầy cô trong thư viện trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ cho đề
tài này.
Tuy nhiên, với vốn kiến thức còn hạn chế, em không thể tránh được những
sai sót trong đề tài của mình. Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến
bổ sung, chỉnh sửa của thầy giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 30 tháng 4 năm 2008
Sinh viên
Nguyễn thị Huyền Trang
CHƯƠNG MỘT
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU CÀPHÊ
Ở VIỆT NAM
I. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam
I. 1. Vai trò của xuất khẩu nói chung đối với nền kinh tế XH
Xuất khẩu hàng hóa là một trong những hoạt động kinh doanh mà phạm vi
hoạt động của nó vượt qua ngoài biên giới của một quốc gia, là một hoạt
động mang tính quốc tế tức là phải tuân thủ các nguyên tắc, luật pháp, quy
định của quốc tế của những sân chơi chung mà chúng ta tham gia. Đây là
hình thức kinh doanh quan trọng đóng ghóp phần lớn vào kết quả kinh
doanh của hoạt động thương mại quốc tế.
Xuất khẩu hàng hóa có những đặc điểm sau:
- Thị trường rộng lớn, tách biệt, thông qua thông lệ quốc tế và các quy tắc
chung của các tổ chức thương mại trên thế giới. Vì vậy mà cần phải đầu tư
thích nghi với môi trường luôn luôn biến động.
+ Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
- Xuất khẩu tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
mọi vấn đề của cuộc sống xã hội, mọi người được ngày càng được thoả mãn
nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của
nước ta trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
I. 2. Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam.
Cây càphê vốn từ lâu được xem như một loại cây Công nghiệp ngắn ngày
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu hàng năm ngày càng
cao, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Việt
Nam ra nước ngoài. Nó có tác động to lớn đối với hoạt động xuất khẩu nói
riêng và đối với cả nền kinh tế nói chung :
- Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa thì rất cần tới
nguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho qua trình này. Xuất khẩu cà phê tạo một
nguồn thu ngoại tệ khá lớn hàng năm cho nền kinh tế đảm bảo cán cân
thanh toán quốc tế, nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến
phục vụ cho nền sản xuất còn chậm phát triển trong nước.
- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi phải đầu tư vào sản xuất theo hướng chuyên
môn hóa hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn với trang bị
đồng bộ của khoa học kĩ thuật , áp dụng cơ khí hóa, hiện đại hóa quá trình
sản xuất đến các khâu sau thu hoạch, tiêu thụ, thúc đầy các ngành công
nghiệp phục vụ như sản xuất máy bơm nước tưới, máy chế biến… đẩy
nhanh quá trình chuyển đồi nền kinh té từ nôngnghiệp lạc hậu sang nước
công nghiệp.
- Xuất khẩu không những đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết
các ván đề xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải tạo
điều kiện sốngcho người dân ghóp phần xóa đói giảm nghèo, giảm bớt
được tệ nạn xã hội.
xu thế khu vực hóa toàn cầu là để giải quyết vấn đề thị trường. Do đó thực
chất của một trong những mục tiêu của việc gia nhập WTO giúp cho các
doanh nghiệp tham gia xuất khảu của Việt Nam có cơ hội mở rộng thị
trường. Đồng thời với việc mở rộng không gian thương mại, thuế nhập
khẩu vào các nước thành viên WTO giảm đáng kể giúp doanh nghiệp có cơ
hội thúc đẩy sự xâm nhập vào các thị trường mới cho sản phẩm của mình,
tăng lượng xuất khẩu vào thị trường này. Đối với các sản phảm sơ chế xuất
khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởng thuế thấp hoặc ko chịu thuế,
chẳng hạn mặt hàng cà phê nhân của Việt Nam, xuất khẩu sang Mĩ thì mức
thuế nhập khẩu mặt hàng này là 0%. Ngoài ra khi tham gia WTO, Việt
Nam sẽ được hưởng lợi do được miễn trừ khỏi quy định cấm trợ cấp xuất
khẩu vì là nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người dưới
1000USD/1 người.
Đối với mặt hàng cà phê, đây là mặt hàng có lợi thế của Việt Nam. Việt
Nam sẽ được hưởng những thành quả nhờ những đàm phán đa phương tại
các diễn đàn của WTO về nông nghiệp. Tuy nhiên do là nước đang phát
triển, VN ko phải đưa ra các cam kết về giảm trợ cấp xuất khẩu(cá nước
công nghiệp phát triển phải cắt giảm 36% nguồn ngân sách dành cho trợ
cấp xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm, các nước đang phát triển nói
chung phải cắt giảm 24% trong vòng 10 năm). VN cũng ko phải cắt giảm
hỗ trợ trong nước đối với nông dân(các nước công nghiệp phát triển phải
cắt giảm 20% mức hõ trợ trong nước trong 6 năm, các nước đang phát triển
khác là 13, 3% trong 10 năm). Do đó khi VN đã trở thành thành viên chính
thức của WTO thì các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê sẽ có khả năng mở
rộng thị trường không những trong khu vực mà còn cả trên thế giới.
II. 1. 2 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài
Đến nay ngành nông nghiệp nói chung và ngành cà phê nói riêng đã thu
hút được nhiều dự án đầu tư nước ngoài, các dự án này đã ghóp phần
khong nhỏ trong sự phát triển của ngành. Thời gian qua đã giúp nâng cao
năng lực cho ngành cà phê cả vè vốn đầu tư, thiết bị công nghệ, thị trường
nghiệp.
II. 2 Thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Hầu hết các tổ chức kinh tế khu vực , các liên kết khu vực đều hoạt động
trên nền tảg các nguyên tắc của WTO, tuân thủ các nguyên tắc của WTO.
Do đó có thể nói rằng thách thức đặt ra cho cá doanh nghiệp trong lĩnh vực
xuất khẩu nông sản là rất lớn. , nhất là xuất phát điểm khi gia nhập WTO
của Việt Nam nói chung và Nông Nghiệp Việt Nam nói riêng rất thấp lại
thêm những quy định của WTO ngày càng khắt khe hơn.
Theo các cam kết đã kí trog hiệp định thương mại Việt-Mĩ đối với mặt
hàng cà phê thì Việt Nam phải loại bỏ việc hạn chế nhập khẩu chất chiết
suất, tinh chất cà phê tan và phải cho phé thành lập các công ty 100% vốn
của Mĩ để kinh doanh nhập khẩu trực tiếp và phân phối tại Việt Nam chất
chiết suất và tinh chất cà phe tan… Trên thị trường Mĩ, thuế nhập khẩu cà
phê nhân khi có hiệp địh thương mại Việt Mĩ là 0% nên tác động của hiệp
định đến việc tăng trưởng xuất khẩu cà phê sang thị trường này là rất ít.
Hơn nữa, do nhu cầu về loại càphê Robusta của thị trường Mĩ là có giới
hạn nên tăng trưởng xuất khẩu càphê VN sang Mĩ có khó khăn. Trên thị
trường Việt Nam, theo như cam kết, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cà phê
VIệt Nam cho các thương gia Mĩ, trước hết là chất chiết suất, tinh chất
càphê… sau đó là cà phê nhân. Đến thời điểm đó các công ti ViệtNam sẽ
gặp không ít khó khăn do phải chịu sức ép cạnh tranh lớn với các công ti
của Mĩ.
Khi gia nhập WTO, chúng ta phải cam kết cắt giảm các loại thuế, mở cửa
thị trường và xóa bỏ hỗ trợ cho xuất khẩu theo các hiệp định củ WTO,
thong qua iệc làm tăng mức độ cạnh tranh và mở cửa thị trường sẽ làm thay
đổi điều kiện kinh doanh ở tất cả các nước thành viên.
Hiện nay, ngành càphê Viẹt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường .
Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam thấp là do năng suất lao động cao, do
đất đai màu mỡ và điều kiện khí hậu thuận lợi. Giá cà phê của Việt Nam bị
ảnh hưởng bởi những biến động tại Sở giao dịch hàng hóa ở
nghiệm, thị trường và mạng lưới khách hàng lớn. Lúc đó các doanh nghiệp
làm ăn ko hiệu quả, không cạnh tranh được sẽ bị giải thể, phá sản hay trở
thành đại lí thu mua cho các doanh nghiệp nước ngoài.
Hiện nay, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh cà phê
trong nước còn yếu, nhất là trong lĩnh vực chế biến và kinh doanh xuất
khẩu cà phê. Đa số các nhà máy chế biến có quy mô nhỏ, công nghệ, thiết
bị lạc hậu hơn nhiều so với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực
và thế giới. Phần lớn các doanh nghiệp thương mại có quy mô nhỏ, gần
70% doanh nghiệp thuộc bộ NN và PTNT có vốn dưới 10 tỉ đồng. Khả
năng nắm bắt và mở rộng thị trường còn yếu. Mở cửa thị trường sẽ là thách
thức to lớn đối với các doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh mặt hàng cà phê chế biến của Việt Nam còn thấp do
năng suất, chất lượng thấp, thiết bị cà công nghệ chế biến lạc hậu nên giá
thành sản phẩm cao… Khi giảm thuế nhập khẩu và bỏ các rào cản phi thuế
quan sẽ phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Chắc chắn sẽ có
những doanh nghiệp bị thu hẹp quy mô thậm chí không còn tồn tại nếu như
ngay bây giờ không nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Điều này sẽ
làm giảm việc làm và thu nhập của một bộ phận lao động trong các doanh
nghiệp.
Mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc nhiều công ti nước ngoài có ưu thế
lớn về vốn và công nghệ nên họ đầu tư xây dựng những khu chế biến cà
phê nhân xuất khẩu chất lượng cao hoàn chỉnh và đồng bộ như Nestle,
Kraft Food, P&G, Tehibo… Hơn nữa họ có ưu thế vượt trội về vốn, trình
độ năng lực quản lí, kinh doanh rất tốt, kinh nghiệm thương trường với
mạng lưới phân phối rộng khắp. Lúc đó các doanh nghiệp làm ăn ko hiệu
quả, không cạnh tranh được sẽ bị phá sản, giải thể hay trở thành đại lí thu
mua cho các doanh nghiệp nước ngoài.
III. Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cà phê của
Việt Nam.
sau thu hoạch, xây dựng các kho đệm để dự trữ cà phê cho bà con nông
dân, tránh để họ phải bán ồ ạt khi vào vụ…
Ngoài ra nhà nước còn áp dụng chính sach hỗ trợ tín dụng(mà ưu điểm của
nó là lãi suất thấp) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có hình
thức cho vay ngắn hạn và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Chính
sách tín dụng này là sự ưu đãi của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế và các nhân phát triển sản xuất khinh doanh hàng xuất khẩu
theo chính sách xuất khẩu của nhà nước.
Bên cạnh đó nhà nước còn có các chính sách hỗ trợ về thuế, ưu đãi về thuế
xuất khẩu GTGT, có các chính sách để bình ổn giá mua nguyên liệu phục
vụ cho sản xuất, bình ổn giá thu mua cà phê cho nông dân, tạm trữ, đầu tư
phát triển hệ thống tiêu thụ trên toàn quốc, phát triển trao đổi buôn bán
thông suốt trên thị trường trong nứoc tạo điều kiện mở rộng thị trường thế
giới.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, nứơc ta cũng từng bước tiến
vào sân chơi chung của cả thế giới. Năm 2006 VN trở thành thành viên
chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra những cơ hội mới
cho cả nền kinh tế nước ta khi bứoc vào luồng quay của nền kinh tế toàn
cầu. Các mối quan hệ song phương đa phương được mở rộng tạo điều kiện
thuận lợi nhất định cho xuất khẩu cà phê nói riêng và quan hệ thương mại
quốc tế nói chung. Có được bước tiến quan trọng như vậy là do những chủ
trương định hướng đúng đắn cảu Đảng và Nhà nước trong quá trình xây
dựng nền kinh tế định hướng XHCN.
III. 1. 3 Các yếu tố về khoa học công nghệ.
Để tăng năng suất cà phê thì 1 yếu tố cực kì quan trọng là khoa học công
nghệ. Khoa học công nghệ thúc đẩy tăng sản xuất cả vè quy mô và chất
lượng. Khoa học công nghệ tạo ra những cây giống cà phê tốt nhất có khả
năng chống chịu sâu bệnh. Công nghệ tạo khả năng tiết kiệm thời gian ,
tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản xuất, cơ khí hóa các quá trình
tưới tiêu, thu hoạch, chế biến đảm bảo một cách tốt nhất chất lượng cà phê
xuất khẩu, các doanh nghiệp xuất khẩu làm ăn ít có lãi, thậm chí ko có lãi.
CHƯƠNG HAI
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
I. Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam
I. 1 Thực trạng sản xuất cà phê
I. 1. 1 Về diện tích trồng cà phê:
Trong thời kì những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một số
nông trường quốc doanh của các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất (1964-1966)đã
đạt tới 13. 000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do
các yếu tố tự nhiên khong phù hợp với càphê Robusta nên một số lớn diện
tích cà phê đã phải thanh lí.
Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước có
khoảng trên 13. 000 ha, cho sản lượng 6. 000 tấn
Sau năm 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh Tây
Nguyên nhờ có vốn từ các hiệp định hợp tác liên chính phủ với các nước
Liên Xô cũ, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Ba Lan. Đến năm 1990 đã có 119.
300 ha. Trên cơ sở này, từ năm 1986 phong trào trồng cà phê phát triển
mạnh trong nhân dân. Đến năm, sau gần 20 năm đổi mới, cả nước đã có
khoảng 390. 000 ha.
Tính đến thời điểm năm 2007 thì diện tích trồng cà phê đã lên đến 506. 000
ha, tăng 10. 000 ha so với năm 2006. Trong đó các tỉnh Tây nguyên chiếm
đến 90% diện tích đất trồng với khoảng 450. 000 ha.
Có thể thấy diện tích trồng cà phê hiện nay luôn có nhiều biến động, điều đó
phụ thuộc vào giá cà phê xuất khẩu, khi được giá thì nông dân thi nhau trồng
cà phê, nhất là trong thời gian gần đây, có lúc giá cà phê xuất khẩu lên cao
tới 42. 000vnd/kg. Để kiểm soát diện tích trồng cà phê nhằm kiểm soát
lượng cung cà phê, mới đây bộ trưởng Cao Đức Phát chỉ thị các địa phương
khẩn trương kiểm tra, ngăn chặn tình trạng tự phát mở rộng diện tích trồng
mới cà phê ở Tây Nguyên và Tây Bắc. Từ nay đến 2010, không mở thêm
2004 900000
2005 910000
2006 >500000 930000
Biểu đồ sau cho thấy sự biến dộng về diện tích và sản lượng cà phê của Việt
Nam qua các thời kì từ năm 1980 cho đến năm 2004:
Biểu đồ 2: Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam qua thời kỳ 1980-2004
I. 1. 3 Về giống cà phê:
Đối với cà phê, điều kiện tự nhiên, địa lí khí hậu của nước ta cho phép trồng
được hai loại cà phê là cà phê chè(Arabica) và cà phê vối (Robusta) trên các
vùng riêng biệt. Việc thực hiện cung cấp những giống cây cà phê có chất
lượng tốt nhất được giao cho các viện nghiên cứu, trong đó nổi bật là viện
Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên.