1
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước gió mùa nhiệt đới,có khí hậu nóng ẩm quanh
năm,có một vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng các loại cây công
nghiệp ngắn ngày,có khả năng xuất khẩu cao…Càphê là một trong những
loại cây trồng đó,hiện nay ở Việt Nam,cà phê là mặt hàng nông sản có giá trị
xuất khẩu lớn thứ hai sau gạo.Thực tế đã cho thấy,trong xu thế hội nhập toàn
cầu hóa nền kinh tế thế giới thì xuất khẩu càphê đóng một vai trò quan
trọng,không những là kênh huy động nhập khẩu máy móc phục vụ công
nghiệp hóa đất nước mà còn là cán cân thương mại quan trọng trong tất cả
các quan hệ thương mại trên thế giới. Với tầm quan trọng của mình, cà phê
được xếp vào danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và
được chọn là một trong những mặt hàng trọng điểm cần phát huy.
Tuy nhiên để xuất khẩu cà phê thật sự trở thành một trong những thế mạnh
của Việt Nam,điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,yếu tố bên trong và yếu
tố bên ngoài…từ sự tác động của nhà nước,doanh nghiệp,hiệp hội…đến sự
tác động của thị trường thế giới…
Với mong muốn ngành xuất khẩu cà phê thật sự lớn mạnh, em xin được
nghiên cứu đề tài :
“Xuất khẩu cà phê của Việt Nam - hiện trạng và một số giải pháp
thúc đấy”
Nội dung công trình nghiên cứu gồm 3 chương sau :
Chương I. Khái quát về thị trường cà phê thế giới
Chương II. Tình hình sản xuất chế biến và xuất khẩu cà phề Việt Nam những
năm gần đây
Chương III. Phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả xuất khẩu cà phê ở Việt Nam
2
Chương I
KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI
1. GIỚI THIỆU VÀI NÉT VỀ CÂY CÀ PHÊ:
3
nên thường được gọi là cà phê Chari.
Do
có
vị đậm nên người ta thường
trộn với cà phê chè để tạo ra vị thơm hơn.
1.3.
Ích lợi của cây cà phê
Cây cà phê được dùng trong y học, trong công nghiệp thực phẩm. Cà
phê còn tạo ra công ăn việc làm, góp phần bảo vệ môi trường. Đặc biệt cây
cà phê đem lại nguồn
thu nhập lớn. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu cà phê thế
giới khoảng 10 tỷ USD/năm.
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CÀ PHÊ THẾ GIỚI
2.1.
Diện tích
Diện tích trồng cà phê thế giới tăng trung bình là 0,1%/năm, đạt
14.593.940 ha năm 2008. Diện tích trồng cà phê ở các khu vực khác nhau trên
thế giới tăng giảm không đồng đều. Trong khi diện tích trồng cà
phê
của khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương tăng trung bình là 2,8%/năm thì diện tích
trồng cà phê ở những nước khác lại giảm 0,3%
2.2.
Năng suất
Trái với việc gia tăng về diện tích, năng suất trồng cà phê trên thế
giới lại có xu hướng giảm xuống, giảm 0,2%/năm. Tất nhiên năng suất trồng
cà phê trong thời gian qua không giảm ở tất cả các nước – chẳng hạn ở các
nước Châu Á- Thái Bình Dương năng suất cà phê không những không
lượng loại cây này, do người nông dân giảm chi phí sản xuất, làm giảm sản
lượng, nhất là ở những nước sản xuất Arabica chính.
Hiện tại, tiêu thụ cà phê thế giới tăng trưởng 2% mỗi năm, từ từ 104,6
triệu bao năm 2000 lên 130 triệu bao trong năm 2008, tiếp tục tăng lên 132
triệu bao năm 2009 và dự kiến sẽ đạt 134 triệu bao trong năm 2010. Nhu cầu
về các loại cà phê cũng thay đổi nhanh chóng. Loại Arabica và cà phê tự
nhiên của Braxin (Brazilian Naturals) đã tăng từ 54% năm 1990 lên 63% vào
năm 2008, trong khi nhu cầu cà phê arabica dịu sạch (Washed Arabicas) lại
giảm từ 46% xuống còn 37%. Với loại robusta, nhu cầu lại tăng đối với cà
phê xuất xứ từ Việt Nam, từ 2% năm 1990 lên 16% vào năm 2008, trong khi
cà phê xuất xứ từ châu Phi lại giảm từ 21% xuống còn 12% trong thời gian
này.
5
Bảng 1: Tiêu thụ cà phê ở các nước trên thế giới
Đơn vị: nghìn
bao
2004 2005 2006 2007 2008*
W O
RLD TO
TAL 119
262 119
936 123
554 127
977 130
750 3
208 3
333
Mexico 1
500 1
556 1
794 2
050 2
200
Et
hiopia 1
833 1
833 1
833 1
833 1
833
400 1
400
P hilippines 917 917 917 989 1
070
Viet
nam 629 722 829 938 1
021
Ot
hers 4
768 4
969 5
015 5
052 5
202
Importing
Countries 88
955 88
535
It
aly 5
469 5
552 5
593 5
821 5
937
France 4
929 4
787 5
278 5
628 5
156
Spain 2
705 3
007 3
292 1
324
Sweden 1
234 1
170 1
315 1
244 1
272
P oland 2
281 2
267 1
953 1
531 1
190
Finland 1
034 1
102 1
033 21
652
Japan 7
117 7
128 7
268 7
282 7
065
Other
Importing
Countries 19
672 20
688 21
168 23
752 24
735
Russian
836 1
968 2
118
Ukraine 739 1
025 968 1
057 1
733
6
Korea,
Republic
of 1
401 1
394 1
437 1
425 1
665
Aust
2.4.2. Tiêu thụ cà phê ở các nước sản xuất.
Các nước sản xuất cà phê không chỉ để xuất khẩu mà xu hướng tiêu
dùng nội địa ngày càng tăng. Năm 1996 tiêu thụ khoảng 20,5 triệu bao, đến
năm 2008 mức tiêu thụ đã là 36 triệu bao. Hai nước Brazil và Indonexia và có
mức tiêu thụ nội địa cao, thường chiếm trên 30% sản lượng hàng năm. Năm
2008 Brazil có l
ượng tiêu thụ tới 17,5 triệu bao, Clombia 1,4 triệu bao,
Indonexia 3,3 triệu bao. Khối
lượng tiêu dùng ở các nước Châu Á cũng tăng
lên.
Người dân ở các nước Trung và Đông Âu rất thích uống cà phê, hàng
năm các nước này tiêu thụ khoảng 5-6 triệu bao. Các nước nhập khẩu cà phê
không phải là thành viên ICO hàng năm nhập khẩu khoảng 5 triệu bao như
Angirni, Triều Tiên, Achentina,...
Về chủng loại, thì cà phê Arabica vẫn được ưa chuộng hơn và ngày
càng có nhu cầu tiêu thụ nhiều hơn
bở
i
chấ
t lượng cũng như hương vị thơm
ngon của nó. Do vậy giá cà phê Arabica thường cao gấp 2-2.5 lần giá cà phê
Robusta.
3. MẬU DỊCH CÀ PHÊ THẾ GIỚI
3.1.
Tình hình xuất khẩu cà phê thế giới
7
3.1.1. Khái quát chung về xuất khẩu cà phê thế giới
Theo số liệu công bố ngày 10/2/09 của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO),
xuất khẩu cà phê toàn cầu năm 2008 đạt 96,62 triệu bao, trong đó 63,4 triệu
bao loại arabica và 33,2 triệu bao loại robusta.
khu vực nào đó và giá thường cao.
+ Ngày nay do yêu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe, người sản xuất
và xuất khẩu lại đưa ra một tên gọi mới cho cà phê là “cà phê sạch”
(organic coffee) đó là loại cà phê được trồng mà không cần dùng đến phân
bón
và
thuốc trừ sâu.
+ Cà phê đã tách cafein (decaffemated coffee)
Tuy nhiên nhiều người còn nghi ngờ về phẩm chất thực của các loại
cà phê được phân loại theo kiểu trên.
Theo ICO thì hơn 90% khối lượng cà phê xuất khẩu của thế giới là
loại cà phê hạt còn sống. Trên thị trường cũng xuất hiện kinh doanh cà
phê dạng đã rang chín (Roasted coffee) và dạng đã qua chế biến kỹ có thể
hòa
ta
n
được ngay (instant coffee).
3.1.2. Một số nước xuất khẩu cà phê chủ yếu
* Braxin
Là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, trung bình hàng năm nước này
bán ra thị trường thế giới 16 triệu bao (60 kg/bao), chiếm hơn 20% xuất
khẩu thế giới trong đó 75% là cà phê chè, 25% là cà phê vối.
* Côlômbia
Là nước đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu cà phê, trung bình
hàng năm nước này xuất khẩu 12 triệu bao. Điều đáng chú ý là nước này
dùng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất cà phê đều tăng sản lượng mà
không phải dùng biện pháp tăng diện tích trồng trọt. Một điều thú vị là xuất
khẩu cà phê hạt của Colombia lại thường được đóng trong bao nặng 70 kg,
trong khi đó nhiều nước đóng 60 kg/bao. Sản lượng của Colombia niên vụ
xuấ
t cà phê vối lớn nhất, vượt Cốt-đi-voa. Xuất
khẩu trung bình là 5,5 triệu bao (cả hai loại cà phê vối và cà
phê
chè,
nhưng
chủ yếu là cà phê
vối). Inđônêxia xuất khẩu nhiều cà phê vối được chế biến
bằng phương pháp khô
sang Châu Âu, Nhật và Mỹ.
* Ấn Độ
Là một nước trồng cả 2 loại cà phê (cà phê chè và cà phê vối). Sản xuất
trung bình là 2,5 triệu bao, trong đó chừng 50% là cà phê chè. Ấn Độ đứng
sau Indonexia về xuất khẩu cà phê chè ở Châu Á.
* Goatêmala
Sản xuất của Guatemala gần đây đạt 8,84 triệu bao (vụ cà phê 2009/10
bắt đầu từ tháng 10), giảm 15,1% so với cùng kỳ vụ trước, chủ yếu là cà phê
chè. Trong những thập kỷ qua, do sự căng thẳng về chính trị và xã hội cũng
đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành cà phê.
* Ethiôpia
10
Là nước xuất khẩu cà phê thế giới lâu đời nhất, đây cũng là nước đầu
tiên trồng cà phê chè. Cà phê chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
của đất nước, chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu. Hàng năm sản xuất chủ yếu
là cà phê chè và
50%
dùng
này rất tiện lợi cho người tiêu dùng.
3.2.2. Những nước nhập khẩu cà phê chủ yếu
* Mỹ
Mỹ là nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới. Tiêu dùng cà phê năm
2007 là 21 triệu bao, năm 2008 tăng lên mức 21,7 triệu bao. Mỹ cũng như
những nước nhập khẩu khác đều có tái xuất. Ví dụ năm 2007, Mỹ nhập
tổng số là 21,7 tri
ệu
bao
và tái xuất 2,6 triệu bao (chiếm 12%). Đặc biệt,
Mỹ xuất khẩu cà phê rang và cà phê hòa tan rất lớn. Năm 2006, Mỹ nhập
21,449 triệu bao cà phê hạt và Mỹ lại xuất khẩu 2,485 triệu bao trong đó cà
phê rang và cà phê hòa tan chiếm 50%.
* Vương quốc Anh
Đây là nơi cà phê hòa tan được tiêu dùng lớn nhất, theo báo cáo của
Data Monitor, nhóm nghiên cứu thị trường, cà phê đã và đang thay thế chè,
trung bình mỗi năm mỗi người dân Anh sử dụng 15 bảng cho cà phê. Cũng
theo báo cáo này, tốc độ tăng của
cà phê là 11%/năm kể từ năm 1997, và
hiện nay cà phê chiếm phần lớn nhất trong các
loại đồ uống ở Anh. Hàng
năm Anh quốc nhập khẩu chừng hơn 3 triệu bao.
* Châu Âu
Ở Pháp, Áo và Hy Lạp, nhiều người chuyển sang dùng cà phê chè.
Nhiều người chuyển sang uống cà phê chè vì lượng cà phê vối đã chế biến
xuất sang Trung và Đông Âu giảm đi. Ngược lại ở Đức, nhiều người lại
chuyển
sang
dùng loại cà phê vối thay vì dùng loại cà phê chè có vị dịu.
Bản, Hàn Quốc, Algeria. Nhìn chung việc nhập khẩu cà phê của Nhật Bản có
biến động trong phạm vi chừng 6 triệu bao từ 1994-1998 và 7 triệu bao từ
năm 1999-2006. Hàn Quốc nhập khẩu trong những năm qua trung bình 1
triệu bao. Có nhiều tiềm năng tiêu thụ cà phê ở những nước này, đặc biệt là
ở Nhật Bản và những nước Châu Á khác.. Cà phê tan cũng nhanh chóng
giành được vị trí trên thị trường Nhật Bản. Một điều thú vị là thói quen tiêu
dùng cà phê của Nhật Bản cũng lan sang cả những nước Châu Á khác như
Hongkong và Singapore. Kết quả là Châu Á sẽ trở thành không những là
người khách hàng lớn về cà phê thông thường và cà phê tan mà còn là
khách hàng của các loại cà phê hảo hạng.
Cuối cùng là thị trường Trung Quốc đầy tiềm năng đang mở ra do
tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, dân số đông và lượng khách du lịch lớn.
Sản xuất cà phê trong nước cũng đang có nhiều hứa hẹn.
3.3.
Dự trữ cà phê thế giới
Theo Tổ chức cà phê thế giới (ICO), khối lượng cà phê dự trữ của toàn
cầu có thể giảm xuống mức thấp kỷ lục 35 triệu bao 60 kg sau khi sản lượng
giảm thấp trong vụ mùa 2005/06. Tồn kho cà phê thế giới đã giảm mạnh từ
gần 43-45 triệu bao trong 12 tháng qua do các nước sản xuất và các nước tiêu
dùng phải dùng tới lượng dự trữ để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ.
13
Trong 18 tháng qua, giá cà phê biến động liên tục và cà phê robusta gần
đây đã đạt mức cao nhất trong 7,5 năm qua sau khi vụ thu hoạch 2005/06 của
Việt Nam thiệt hại nặng vì hạn hán khiến cho thị trường trở nên khan hiếm
cung.
Tầm quan trọng của việc sử dụng thu nhập tăng thêm đầu tư cho vụ
mùa thay vì mở rộng diện tích trồng mới, tránh tạo nên một chu kỳ tăng giảm
như đã từng diễn ra hồi cuối năm 1999, khiến giá cà phê thế giới giảm xuống
mức thấp kỷ lục.
3.4.
rơi, triển lãm hội chợ và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
3.7.
Tổ chức cà phê thế giới (ICO) và hiệp định cà phê thế giới (ICA)
3.7.1. Tổ chức cà phê thế giới ( International Coffee Organization – ICO)
Do sự biến động thất thường của giá cả thị trường đã ảnh hưởng lớn
đến những nước sản xuất và tiêu thụ cà phê nên những nước này đứng đầu
là Braxin đã họp lại lần đầu tiên năm 1962 dưới sự bảo trợ của Liên Hợp
Quốc tại New York để thành lập ICO và đã ký được hiệp định thứ nhất cà phê
thế giới.
Hiện nay ICO đã có 77 nước thành viên trong đó có 45 nước xuất khẩu
và 32 nước nhập khẩu. Mục đích chủ yếu của ICO là nhằm tạo nên một thị
trường cà phê ổn định về mặt giá cả bằng cách phân phối cota giữa các nước
thành
viên.
3.7.2. Hiệp định cà phê thế giới ( International Coffee Agreement –ICA)
Hiện nay hiệp định ICA mới nhất được kí kết bởi 77 thành viên Chính
phủ của Hội đồng Cà phê quốc tế (International Coffee Council) tại Luân
Đôn vào tháng 9 năm 2000 sau khi hiệp định ICA 1994 hết hạn hiệu lực vào
ngày 30/9/1999. Hiệp định kéo dài 6 năm này sẽ đẩy mạnh hơn nữa quan hệ
hợp tác giữa các nước sản xuất và nước tiêu dùng cà phê trên thế giới và đã
có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2001 (vì vậy hiệp định này được gọi tắt là ICA
2001).
4. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI
4.1.
Những yếu tố tác động đến thị trường cà phê thế giới
4.1.1. Những yếu tố chính tác động đến CUNG
15
a. Thời tiết khí hậu
Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới có những yêu cầu sinh thái rất
trường v.v...ví dụ như Chính phủ Bờ Biển Ngà vừa quyết định sẽ phá hủy tất
cả cây cà phê và ca cao trồng trái phép trong khu vực rừng quốc gia. Hay để
hỗ trợ giá, Chính phủ Colombia đã cho xây
nhiều
kho
lớn để cất giữ cà phê
dư thừa, vượt quá sức tiêu thụ trong nước và thế giới.
f. Do yêu cầu của hiệp hội
Ngày nay, để tồn tại người ta thường liên doanh, liên kết lại với nhau
mang tính chất toàn cầu hay khu vực. Cà phê cũng không thể ở ngoài quy
luật đó. Ví dụ tháng
5/1997 ACPC ( tổ chức của những nước trồng cà phê
thế giới) đã thỏa thuận sẽ tiếp
tục giảm hạn ngạch xuất khẩu cà phê xuống
còn 52,75 triệu bao trong vòng 12 tháng( bắt đầu từ 1/7/1999) so với 53
triệu bao hạn ngạch cũ. Tuy nhiên đôi khi việc này cũng không có nhiều tác
dụng lắm.
4.1.2. Những yếu tố chính tác động đến CẦU
Tại sao người ta lại uống cà phê và họ uống bao nhiêu cà phê? Theo
các tác giả của cuốn “Hướng dẫn cho các nhà xuất khẩu cà phê năm 1992” thì
câu trả lời cho câu hỏi đó khá phức tạp do đó chúng ta chỉ xét đến những yếu
tố chính tác động đến cầu như sau:
a. Giá cả
Đối với một người tiêu dùng bình thường, giá bán lẻ cà phê có ảnh
hưởng lớn đến tiêu dùng cà phê hay không? Bản báo cáo của Ngân hàng thế
giới đã trình bày độ co giãn của cầu đối với giá cà phê của 45 nước nhập
khẩu (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Ý, Hà Lan, Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, Australia, Canada, Phần Lan, Nhật Bản, Na
Uy, Thụy Điển, Thụy Sỹ và New Zealand).
phần của mì
nh
cho các loại đồ uống khác. Ở một số nước đồ uống “lạnh”
(ví dụ như Cocacola) đang ngày càng phổ biến. Vì cà phê thường phải uống
nóng nên cà phê khó cạnh tranh với đồ uống lạnh nêu trên. Uống cà phê đá
đang ngày càng được nhiều người ưa chuộng ở một số nước, đặc biệt ở Nhật
Bản.
Loạ
i
thứ
c ăn người ta dùng cũng ảnh hưởng đến số lượng cà phê người
ta uống. Có thể do thói quen và khẩu vị, cà phê thường được uống cùng với
một số loại thức ăn này hơn là loại thức ăn khác. Điều đó lý giải tại sao
người ta ít
uống
cà phê ở những cửa hàng ăn bán các món ăn phương
Đông
18
hơn là ở những nơi bán các món ăn của Mỹ và Châu Âu.
Đã từ lâu người ta cho rằng cà phê “tốt hơn” sẽ tạo ra cầu cà phê
nhiều hơn. Điều này đã được xác nhận qua kiểm nghiệm ở Mỹ. Với những
cải tiến về pha trộn gần đây, lượng cầu hình như đã tăng lên đáng kể đối với
các loại cà phê này.
Với một số phát hiện gần đây về mối liên quan giữa cà phê và sức khỏe
đã làm ảnh hưởng đến việc xúc tiến mậu dịch cà phê. Mặc dầu, người ta còn
nghi ngờ về độ chính xác của kết quả nghiên cứu đó vì lượng dùng cà phê
hay cafein ở đây quá cao nhưng những công bố đó cũng gây nên lo lắng và
tác động xấu đến cầu cà phê.
d. Thuế
Trong “Hiệp định cà phê quốc tế 2001” các nước thành viên của ICO
hiện “Quỹ bình ổn giá cho nông nghiệp”. Quỹ này được tạo nên nhờ việc
thu phí xuất khẩu. Khi giá cả xuống quá thấp, nhà nước dùng quỹ này để hỗ
trợ cho nhà sản xuất và nhà xuất khẩu.
4.2.
Dự báo về triển vọng thị trường cà phê thế giới
Dự báo giá cà phê thế giới sẽ tăng từ quý II/2009 do sản lượng cà phê
thế giới không bắt kịp nhu cầu, song trước mắt các nhà kinh doanh phải kiên
nhẫn vì Braxin bội thu trong vụ này sẽ hạn chế giá tăng trong tương lai gần.
Là nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, sản lượng của Braxin có tính
chất quyết định tới sản lượng toàn cầu. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) tính
toán rằng theo chu kỳ của cây, niên vụ 2009/10 sẽ cho Braxin năng suất rất
cao, do vậy sản lượng cà phê thế giới sẽ tăng khoảng 8,5% so với năm trước,
lên 128 triệu bao loại 60 kg, trong khi tiêu thụ cà phê thế giới năm 2008 dự
kiến sẽ chỉ khoảng 125 triệu bao, tức là dư 3 triệu bao.
Trong hai năm tới, lượng cung cà phê thế giới sẽ suy giảm đáng kể. Do
vậy, bất kỳ tác động nào về thời tiết cũng sẽ có ảnh hưởng rất lớn bởi thị
trường sẵn đang trong tình trạng “mất thăng bằng”.
Mặc dù giá cà phê kỳ hạn tăng mạnh từ đầu năm tới nay song thu nhập
của người trồng cà phê chẳng được cải thiện bao nhiêu do đồng Đôla Mỹ tăng
giá so với đồng nội tệ ở hầu hết các nước sản xuất cà phê, làm cho giá cà phê
tính theo nội tệ trở nên rẻ hơn. Việc thiếu lao động thu hoạch cà phê đang trở
thành vấn đề lớn ở cả Braxin và Việt nam. Sản lượng cà phê của Việt Nam -
20
nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới - dự kiến sẽ chỉ quanh quẩn ở mức 18 – 20
triệu bao cũng bởi tình trạng thiếu lao động.
Tại sở giao dịch hàng hoá New York (Mỹ), giá cà phê arabica kỳ hạn
gần hiện là 1,358 USD/lb. So với một tuần trước đây, giá cà phê Arabica đã
giảm 3,1%, bởi Braxin đang vào mùa thu hoạch cao điểm. Song mức giá hiện
nay vẫn cao hơn 14,6% so với một năm trước đây. Tại London, giá cà phê
Robusta (cà phê vối) hiện là 2.325 USD/tấn, cũng giảm 4,3% so với một tuần
mộ
t hương vị rất riêng.
Hai loại cà phê chủ yếu đang được trồng phổ biến ở nước ta là cây cà
phê vối và cà phê chè có những yêu cầu sinh thái khác nhau. Cây cà phê vối
ưa thời tiết nóng ẩm và lượng ánh sáng dồi dào nên thích hợp trồng ở các
t
ỉnh
phí
a Nam. Cà phê chè ưa thời tiết mát, có cường độ ánh sáng mặt trời
thấp và chịu được nhiệt độ thấp (thấp hơn cà phê vối 5-7
0
C) nên thích hợp
trồng ở các tỉnh phía Bắc.
1.1.2. Về thổ nhưỡng.
Cây cà phê phát triển tốt trên đất bazan và các loại đất biến chất khác.
Loại hình đất tốt đối với cây cà phê là: đất tơi xốp, có tầng dày trên 1 mét.
Nước ta có vùng đất bazan ở Tây Nguyên, Tây Quảng Trị, Tây Nghệ An và
nhiều loại đất khác ở trung du đều thích hợp với cây cà phê.
1.1.3. Về lao động.
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là ở nông thôn và các
tỉnh trung du. Giá nhân công rẻ khiến giá thành sản phẩm thấp, tăng sức cạnh
tranh cho mặt hàng cà phê Việt Nam.
22
1.1.4. Về kỹ thuật và công nghệ.
So với một số loại cây trồng khác, kỹ thuật trồng cũng như chăm sóc
cây cà phê và chế biến sản phẩm khá đơn giản, hoàn toàn có khả năng giải
quyết được. Các hộ gia đình trực tiếp trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế
sản
Phi nhưng lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ ở Việt Nam (chỉ khoảng 5% diện tích).
Cà phê Arabica ưa nơi mát và hơi lạnh. Nhiệt độ thích hợp từ 18-25
0
C,
23
thích hợp nhất từ 20 - 25
0
C. Do yêu cầu về nhiệt độ như vậy nên cà phê
Arabica thường được trồng ở miền núi có độ cao từ 600 - 2500m (nguyên
quán của cà phê chè ở cao nguyên Ethiopia, vùng nhiệt đới Đông Phi, nơi
có độ cao trên dưới 2000m).
Sở dĩ chúng ta gọi là cà phê chè vì loài này có lá gần giống lá chè.
Thân cà phê chè có vỏ sần sùi, có giống phân cành cao, để trống đoạn thân
tới khoảng 80cm như Typica, Bourbon; có giống phân cành thấp, cặp cành
thứ nhất cách mặt đất 12-15cm, khoảng cách giữa các cặp cành ở trên thân
cây là 3-7cm như Catimor, Caturra, Catuay... Đây là đặc điểm hình thái rất
quan trọng của các giống cà phê chè trong canh tác, mà trước hết là phòng
chống sâu hại như sâu đục thân. Bộ rễ cà phê chè khá phát triển. Gặp đất tơi
xốp và có độ sâu lớn thì rễ cọc mọc thẳng và sâu tới trên 1m. Số lượng quả
từ 800-1200 quả/kg. Thời gian quả mang trên cây từ lúc bắt đầu hình thành
quả non đến khi quả chín từ 7 -8 tháng. Trong điều kiện khí hậu miền Bắc
nước ta, cà phê Arabica chín rộ vào tháng 12 và tháng 1. Ở Tây Nguyên, cà
phê chín sớm hơn 2-3 tháng so với miền Bắc. Cà phê Arabica thơm, ngon,
dịu, hàm lượng cafein có trong nhân khoảng 1-3%.
1.2.2. Cà phê Robusta (cà phê vối).
Robusta là loại cà phê có diện tích trồng đứng hàng thứ hai sau cà phê
chè (xấp xỉ 30% sản lượng cà phê thế giới), được trồng tập trung ở châu Á,
châu Phi. Khoảng 20 năm gần đây, diện tích cà phê phát triển nhanh, chủ yếu
là cà phê vối ở khu vực châu Á và châu Phi do công nghiệp phát triển, đặc
biệt là cà phê vối chiếm khoảng 60% trong thành phần cà phê tan. Đây là
kinh ngạc là
525.100 ha, điều này vượt ngoài dự kiến của ngành. Cà phê
được trồng rộng khắp trên toàn quốc và chủ yếu tập trung ở một số tỉnh
như Tây Nguyên, ĐăkLăk, Lâm Đồng, Gia Lai, KonTum
Bảng 2: Diện tích cà phê qua các năm vừa qua
Năm Diện tích (ha)
Chỉ số phát triển (năm trước = 100) (%)
1990 119,300 96.9
1991 115,100 96.5
1992 103,700 90.
1993 101,300 97.
1994 123,900 122.3
1995 186,400 150.4
1996 254,200 136.4
1997 340,300 133.9
1998 370,600 108.9
1999 477,700 128.9
2000 561,900 117.6
2001 565,300 100.6
25
2002 522,200 92.4
2003 510,200 97.7
2004 496,800 97.4
2005 497,400 100.1
2006 497,000 99.9
2007 506,400 101.9
2008 525,100 103.7
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Có thế thấy trong những năm qua, diện tích cà phê tăng với tốc độ
nhanh chóng, tuy nhiên tăng không đều.